Saturday, 18 July 2020

Cỏ lùng trong ruộng lúa, cỏ lùng trong đời và cỏ lùng trong lòng (Mt 13, 26-30.36-43)

 

1.       Hat giống lúa: Chúa Giê-su đã lý giải cho các môn đệ là, chính Con Người, tức là Chúa Giê-su đã gieo hạt giống. Giống Chúa Giê-su gieo chắc chắn là giống tốt. Đó là con cái Nước Trời. Con cái Nước Trời là những người tin vào Chúa, nghe lời Chúa Giê-su giảng dạy và thực hiện theo.

2.       Hạt giống cỏ lùng: cũng giống như một ruộng lúa bình thường. Người nông dân gieo vào ruộng của mình những hạt giống tốt nhất. Họ không gieo cỏ lùng. Nhưng rồi cỏ lùng tự nó mọc lên và nhiều khi còn mạnh hơn cả những cây lúa. Người nông dân không hề ngạc nhiên và đặt câu hỏi, cỏ lùng ở đâu mà ra. Họ chỉ biết rằng, muốn có thu hoạch thì phải làm cỏ, bỏ phân cho lúa. Thường thì họ phải làm cỏ đến hai lần chứ không phải một lần là đủ. Người đầy tớ trong dụ ngôn lại đặt câu hỏi về nguồn gốc của cỏ lùng một cách khác thường. Và câu hỏi là có nên nhổ cỏ lùng hay không cũng vô cùng lạ lùng. Cho nên, những chi tiết này xem như không có thật trong đời thường của một nhà nông chinh hiệu. Đối với nhà nông thì việc nhổ cỏ và bón phân cho lúa là điều không cần bàn hỏi. Nếu không làm cỏ thì làm gì có lúa mà ăn. Có những chi tiết khác biệt này là bởi vì đây là một câu chuyện về Nước Trời chứ không phải là một ruộng lúa bình thường. Trong ruộng lúa nước trời ông chủ xử lý khác thường, bởi lẽ nó không còn là câu chuyện của cỏ cây hoa lá nhưng là chuyện của những con người có lý trí, ý chí và tình yêu. Không phải là chuyện của việc thu hoạch thóc lúa nhưng là cánh chung và ơn cứu độ, quyết định số phận của con người.

3.       Cách xử lý: Cứ để cả hai cùng mọc lên. Con cái Nước Trời và con cái Ác Thần cùng lớn lên. Thật kỳ lạ! nhưng nó lý giải được thực tiễn của chuyện thế gian. Thế gian luôn có kẻ tốt người xấu lẫn lộn và nhiều khi số lượng Lý Thông lại nhiều hơn số lượng Thạch Sanh nhiều lần. Và thế gian sao lắm mụ phù thủy mà lại quá ít nàng Bạch Tuyết. Ấy là thế gian. Và nhiều lần nhiều người vẫn đến thưa với Chúa rằng: sao Chúa không vặn cổ, nhổ răng, trụng nước sôi, chiên giòn những kẻ đâm cha, giết chú, cướp bóc, ám hại dân lành. Và những ngày gân đây người ta bức xúc trước cảnh con các ác thần tấn cong, đốt nhà thờ, đốt tượng Mẹ Maria trên đất Mỹ. “người đầy tớ” sẽ hỏi rằng sao Chúa không phạt tụi nó chết nhăn răng đi. Thế nhưng, Chúa vẫn ôn tồn: “ấy ấy, chớ đụng vào chúng, cứ để cả hai cùng mọc lên”. Tại sao lại thế? Liệu lúa sẽ bật rễ lên khi người ta nhổ cỏ lùng như cách ông chủ giải thích? Liệu người tốt sẽ bị ảnh hưởng nếu Thiên Chúa diệt trừ thẳng tay kẻ xấu? Quả thực, lúa có bật rễ lên, nhưng nó không làm cho lúa chết, sau khi được bón phân, và không còn sự tranh giành của cỏ lùng, lúa sẽ hồi phục và lớn nhanh. Thế nhưng, kẻ xấu, con cái ác thần, liệu có mãi mãi luôn luôn là con cái ác thần hay không? Và liệu con cái Nước Trời, tất cả và luôn luôn là con cái Nước Trời? Con người là một mầu nhiệm. Không ai được sinh ra và định sẵn sẽ là con cái ác thần cho đến chết. Tất cả đều được Thiên Chúa sinh ra và không ai được định sẵn là sẽ thánh thiện đến cuối cuộc đời. Tất cả đều được mời gọi thay đổi và tiến bước trên hành trình đức tin luôn mãi. Lòng trung thành, sự hướng thiện, niềm tin, niềm hy vọng giúp cho người ta bước vào Nước Trời. Chúa không diệt kẻ xấu ngay bởi Chúa biết họ vẫn có thể trở thành con cái Nước Trời. Biết bao nhiêu vị thanh đã từng ung dung bước vào quê trời sau một thời gian dài chìm đắm trong tội lỗi. Và đâu là giá trị thật sự của con các Nước Trời khi họ chỉ sống trong môi trường toàn là người tốt? làm sao có được những niềm tin sắt son nếu không có thời cấm cách, bách hại? Đó là mầu nhiệm Nước Trời, cứ để cả hai cùng mọc lên. Với ý chí, lý trí, và tự do của mình con người phải phân định, chọn lựa và kiên định cho đến hơi thở sau cùng. Cứ để cả hai cùng mọc lên vừa là cơ hội cho mỗi con người vừa biểu lộ long thương xót kiên nhân trao ban cơ hội đến tận cùng của Chúa. Con cái Nước TRời được mời gọi chứng tỏ sức mạnh của mình khi cùng lớn lên bên cạnh cỏ lùng. Và họ có sứ mạng biến đổi người xấu trở thành con cái Nước Trời như Chúa Giê-su đã làm: Người thường lui tới ăn uống, thu phục những người thu thuế và những tội nhân.

Jos. Phạm Duy Thạch, SVD


Friday, 15 May 2020

CÒN YÊU THẦY KHÔNG!?


Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật 6 Phục Sinh năm A, tiếp tục lời từ biệt của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ, trước lúc Người bước vào cuộc khổ nạn. Những lời nói lúc biệt ly thầy-trò dĩ nhiên là những lời chân tình tự đáy lòng. Từng câu từng chữ của Chúa Giê-su đều rất quan trọng và thấm thía. Tất cả đều xoay quanh mối tương quan của thầy-trò.
1.     Yêu thì phải giữ điều răn; và giữ điều răn chứng tỏ là yêu (Ga 14:15.21).
Đoạn Tin mừng Ga 14:15-21 có sự khởi đầu và kết thúc nối kết với nhau một cách rất chặt chẽ. Câu đầu tiên, Chúa Giê-su nói: “Nếu anh em yêu Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (14:15) và câu cuối cùng Chúa Giê-su lặp lại: “Ai giữ có và giữ các điều răn của Thầy, kẻ ấy là người yêu Thầy” (14:21). Điều quan trọng nhất trong mối liên hệ thầy-trò giữa Chúa Giê-su và các môn đệ là tình yêu. Các môn đệ đã được Chúa Giê-su yêu thương, chọn lựa, dạy dỗ và sai đi. Nhưng đã đến lúc Chúa Giê-su “phải rời bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha” (Ga 13:1). Thánh Gioan đã bộc lộ cho chúng ta biết “Người yêu thương những kẻ thuộc về mình ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1). Bằng chứng là trong bữa ăn tối cuối cùng ấy, Người đã cởi áo khoác, lấy dây thắt lưng, quỳ xuống rửa chân cho từng môn đệ, không trừ một ai; kể cả Phê-rô, kẻ sẽ chối Người 3 lần; kể cả Giu-đa, kẻ sẽ nộp Người (Ga 13: 4-12). Người yêu thương tất cả họ và cho đến cùng.

Thursday, 9 April 2020

RỬA CHÂN CHO NHAU NGHĨA LÀ GÌ?


Tôi muốn mở đầu bài chia sẽ hôm nay bằng một hình ảnh làm chấn động thế giới trong những ngày qua. Đó là hình ảnh ngày 11.4.2019, Đức Giáo hoàng Phanxico bất ngờ cúi xuống hôn lên giầy của tổng thống, phó tổng thống, và hai vị lãnh đạo phe đối lập của quốc gia Nam Su đăng. Thông điệp mà Đức Giáo Hoàng muốn gửi cho các vị lãnh đạo này là: “tôi xin các vị là những người đã ký hiệp ước hoà giải với nhau, như những anh em, các vị hãy duy trì nền hoà bình này”. Hành động hôn chân của Đức GH không hề xa lạ bởi mỗi thứ năm tuần thánh hằng năm ĐGH vẫn có thói quen rửa chân cho các bệnh nhân hoặc cho các tù nhân không phân biệt lương giáo và hôn chân từng người. Thế nhưng việc ĐGH quỳ xuống hôn chân các vị lãnh đạo nam Su Đăng làm người ta không khỏi giật mình, vì đó không phải là nghi thức rửa chân mà là trong một buổi tiếp kiến của đời thường. Vị giáo Hoàng cho thấy khát mong, mưu cầu hạnh phúc và hoà bình của mình cho người khác lớn như thế nào. Ngài cảm thấy khuyên răn bằng lời thì không đủ. Ngài phải làm một điều gì đó để lay động lòng họ. Và ngài quỳ xuống hôn chân từng vị lãnh đạo. Phải nói là Đức Giáo hoàng đã hiện tại hoá nghi thức rửa chân của Thứ Năm Tuần Thánh, trong cuộc sống đời thường của mình.

Thursday, 12 December 2019

"Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?"


CNIIIMVA (Xp 3,14-18a; Pl 4,4-7; Lc 3,10-18)


"Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: Vậy chúng tôi phải làm gì? Ông trả lời: Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy. Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì? Gioan đáp: Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi. Các quân nhân cũng hỏi: Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì? Ông đáp: Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình.
Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng? Gioan trả lời cho mọi người rằng: Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt! Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.


Gợi ý suy niệm:


Phụng vụ Chúa Chúa Nhật thứ III mùa vọng ngập tràn niềm vui của người con Chúa. Nó khởi đầu bằng lời mi gọi của ngôn sứ Xô-phô-nia: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy reo vui! Hỡi Israel, hãy cất tiếng reo hò! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoannhảy mừng hết tâm hồn!”. Xô-phô-nia mời gọi thiếu nữ Sion (Giê-ru-sa-lem) và dân thánh đô của Ít-ra-el, bằng những mệnh từ rất mạnh mẽ. Trong một câu ngắn gọn, bốn động từ mời gọi “đi bão” được sử dụng theo  cấp độ tăng dần và nếu dịch ra tiếng việt thì không biết dịch làm sao cho gột tả được mức độ tăng dần của nó. Cuối cùng là trạng ngữ “hết tâm hồn”. Vui từ bên trong, thể hiện ra bên ngoài, một niềm vui toàn th, tuyệt đối. Có thể ví hơn cả niềm vui vỡ òa của người dân Việt nam trong thời khắc trọng tài thổi hồi còi kết thúc trận chung kết bóng đá nam, Seagames 30, chính thức công bố Việt nam đoạt huy chương vàng môn bóng đá nam lần đầu tiên trong lịch sử. Vâng! Ngay cả niềm vui ấy cũng không bằng niềm vui mà Xô-phô-nia mời gọi. 

Và lời mời gọi vui mừng ấy tiếp tục được gia tăng mạnh mẽ trong thánh lệnh của thánh Phao-lô: “anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên! Hãy để cho sự tử tế (gentleness), lòng tốt của anh được tỏ hiện trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần đến.” Trong cùng một câu ngắn gọn thánh Phao-lô lặp hai lần động từ “hãy vui mừng”. Và sự vui mừng mà thánh Phao-lô muốn cộng đoàn ki-tô hữu cử hành và lan tỏa đó là “sự tự tế, lòng tốt”. Sự tử tế sẽ đem đến niềm vui đích thực và niềm vui đích thực lại kích hoạt sự tử tế. Quả vậy, niềm vui của người ki-tô hữu, niềm vui thật sự, không phải là một sự chờ đợi ban phát từ người khác nhưng là niềm vui đến từ sự chủ động trao ban, hành động cụ thể của từng người. Đó là thông điệp của đoạn Tin Mừng CNIIIMVA (Lc 3,10-18). Từng người (dân chúng, những người thu thuế, các quân nhân) đến hỏi Gioan Tẩy Giả rằng: “Vậy chúng tôi phải làm gì?”. Gioan đã ân cần đưa ra chỉ dẫn cụ thể cho từng nhóm người. Dân chúng: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy”; những thuế vụ: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi”; các quân nhân: “Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của minh”. 

Rõ ràng là chịu phép rửa ăn năn sám hối thôi thì chưa đủ để đem lại niềm vui đích thực. Đi Lễ, nghe giảng tĩnh tâm, xưng tội, rước Lễ, tất cả điều rất quý nhưng chưa đủ để đem đến niềm vui trọn vẹn đích thực. Cần phải hỏi rằng: “tôi phải làm gi?”. Là linh mục, tôi phải làm gì? Là cha, là chồng, tôi phải làm gì? Là vợ, là mẹ tôi phải làm gì? Là công nhân, kỹ sư, bác sĩ,… tôi phải làm gì? Và hơn tất cả mọi vai trò, là con Chúa, tôi phải làm gì? Mỗi người hãy chọn cho minh một việc làm cụ thể để sinh hoa trai xứng với lòng sám hối. Trong những hoa trai tốt lành phát xuất từ sự tử tế mà người này dành cho người kia, chắc chắn có sự hiện diện của Chúa Giê-su Hài Đồng, Đấng là nguồn vui trọn vẹn cho mọi cá nhân, mọi gia đình, mọi cộng đoàn.


Joseph Phạm Duy Thạch, SVD

Thursday, 28 November 2019

“họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày"

CNI_MV_A (Is 2,1-5; Rm 13,11-14; Mt 24,37-44)



Kính thưa quý OBACE!



Hôm nay, ngày đầu năm phụng vụ mới, có thể nói là ngày tết của người Công Giáo, ngôn sứ Isaia dẫn đưa chúng ta về một khung cảnh êm đềm, bình yên, hạnh phúc đích thực. Đó là nơi mà “dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi.” Nghĩa là một nơi sum vầy cho nhiều người, nhiều dân tộc trên trái đất này. Ở nơi ấy, không còn bóng dáng của chiến tranh, của hận thù ghen ghét, vì lúc bấy giờ “họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau nữa, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.” Tất cả những gì mà trước đây họ dùng để làm hại nhau, thì nay được biến thành những công cụ để làm lợi cho nhau, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhau. Đó quả là một viễn ảnh rất đẹp, một khung cảnh bình yên mà biết bao người mơ ước.

“lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”


Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng năm A (Is 2,1-5; Rm 13,11-14; Mt 24,37-44)


“lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.


Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy. Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi. Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến.”

“Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”.


Gợi ý suy niệm:


Chúng ta vừa kết thúc năm phụng vụ với tuần 34 mùa thường niên năm C. Chúa Nhật này chúng ta lại bắt đầu lại chu kỳ phụng vụ 3 năm, và quay trở lại từ năm A. Trong năm A, Tin Mừng mỗi Chúa Nhật thường sẽ trích từ Tin Mừng Mát-thêu. Phụng vụ Lời Chúa ngày đầu tiên của năm phụng vụ bắt đầu bằng lời tiền báo của ngôn sứ Isaiah (bài đọc I), diễn tả một viễn ảnh trên cả tuyệt vời, khi mà nhiều dân nước kéo nhau lên “núi nhà Đức Chúa”, để nghe luật CHúa và sống theo Lời Chúa. Và rồi “họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày và rèn giáo mác nên liềm nên hái”. Một cảnh tượng hòa bình viên mãn được mở ra khi tất cả mọi dân đều sống theo Lời Chúa và biến tất cả các vũ khí chiến tranh thành công cụ làm ăn sinh sống. 

Trong bài đọc II, thánh Phao-lô cũng mời gọi các tín hữu hạy “mặc lấy Chúa Ki-tô, và chớ lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt”, “hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sư, không chơi bời dâm đãng”, “vì giờ đây ơn cứu độ của chúng ta đã đến gần hơn lúc chúng ta mới tin đạo”. Dẫu biết rằng, mỗi ngày chúng ta tiến gần hơn đến ngày “con Người đến” nhưng chúng ta lại mù tịt thông tin về ngày giờ và địa điểm. Điều chúng ta có thể làm và phải làm là “hãy tỉnh thức” và “phải sẵn sàng”. Nếu chúng ta chờ đợi Chúa và luôn sẵn sàng thì việc Chúa đến giờ, hay ở đâu không quan trọng lắm. Thế nhưng, rất nhiều người không sẵn sàng nên hằng năm Giáo Hội lại khởi động lại, lên giây cốt trong thời gian Mùa Vọng để mọi người ý thức hơn, sẵn sàng hơn. Sự bất ngờ của ngày Chúa đến không phải đến từ sự độc đoán, hay rình rập từ Chúa. Thế nhưng, cuộc sống chúng ta được đan kết bằng một chuỗi những sự chọn lựa và dấn thân. Nó không phải là là một cuộc bán mua, đổi chác, toan tính trong chốc lát. Để rồi, nếu tôi biết ngày mai Chúa đến thì hôm nay tôi đi xưng tội. Nếu tôi biết tháng sau Chúa đến thì cứ ăn chơi đến cuối tháng đi xưng tội là vừa đủ. Nếu mỗi thành viên trong một quốc gia, một giáo xứ, cộng đoàn, một gia đình… biết mặc lấy Đức Ki-tô, đi theo đường lối Chúa thì sợ gì ngày Chúa đến, hay thậm chí còn mong ước, thắc mắc sao Chúa không mau đến nữa kìa.

Joseph Pham Duy Thach SVD

Saturday, 25 May 2019

BẰNG CHỨNG SỐNG ĐỘNG NHẤT VỀ SỰ PHỤC SINH


Năm 2017, lần đầu tiên tôi có dịp được đặt chân đến Kinh Thành Jerusalem, là quê hương, là nơi chôn nhau cắt rốn, của Kito giáo nói chung và của Công Giáo nói riêng, là nơi ghi lại cuộc khổ nạn đau thương của Đức Kito, là nơi hoài niệm đau thương của Mẹ Maria và các môn đệ. Tuy nhiên, đó cũng là nơi ghi lại biến cố phục sinh huy hoàng của Đức Kito. Biến cố lớn nhất và trọng đại nhất, cần thiết nhất, mà nếu không có nó thì không có Giáo hội công giáo, không có Vatican, không có Đức Giáo Hoàng, không có các Giám Mục và linh mục không có những ngôi nhà thờ và dĩ nhiên không có trung tâm mục vụ này, bởi vì chẳng có ai tin vào Đức Kito cả. Ngay cả các môn đệ cũng quên Đức Giesu, bỏ lại sau lưng kinh nghiệm đau thương để về quê cày ruộng và đánh cá. Biến cố phục sinh chính là biến cố mấu chốt là đỉnh cao trong sự nghiệp rao giảng, là kết thúc tuyệt vời, có hậu cho mầu nhiệm làm người của Đức Giesu. Biến cố Phục Sinh là diểm khởi đầu, là ngày khai sinh, là sức sống của các môn đệ, là điểm tựa, là giá đỡ, là nền tảng và bệ phóng cho niềm tin của mỗi người chúng ta. Thánh Phaolo nói rằng:  “mà nếu Đức Kito không sống lại thì lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em, và nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kito ở đời này mà thôi thì chúng ta là kẻ đáng thương hơn hết mọi người trên thế gian này. Nhưng không phải thế! Đức Kito đã sống lại, mở đường cho những người an giấc ngàn thu. Quả thế, như mọi người vì liên đới với Adam mà phải chết thì mọi người nhờ liên kết với Đức Kito cũng sẽ được sống lại như vậy” (1Cr 15,17-20). Nhờ Mầu nhiệm Phục Sinh chúng ta tràn trền hy vọng được gặp lại những người thân của chúng ta, những người mà chúng ta đã từng thương tiếc, chia tay ngậm ngùi nhìn họ lìa cõi đời này, những người mà cuộc chia ly với họ người đời là gọi là “ngàn thu vĩnh biệt” bởi họ nghĩ rằng sẽ không bào giờ còn gặp lại một lần nào nữa. Nhưng không! Cuộc chia ly ấy, chúng ta, những người tin vào mầu nhiệm Phục sinh gọi là “Rest In Peace” (RIP), chúng ta gọi là về nhà cha, về với Chúa, “khi Chúa thương gọi con về”, dù nhiều khi con không muốn về vì còn vương vấn thế gian. Sở dĩ chúng ta có niềm tin như thế bởi vì Đức Kito đã sống lại. Ngài đã làm cho con trai bà gúa thành Nain sống lại. Ngài đã làm cho Lazaro sống lại. Ngài có quyền trên sự sống và cái chết. Và nhất là, Ngài đã sống lại, và sống vĩnh cữu, sống đời đời đời, sống hạnh phúc viên mãn. Anh chị em có tin thế không? Có còn dám tin thế không? Có xác tín như vậy không? Không dễ tý nào. Bởi lẽ, làm sao mà tin? Làm sao để mà xác tín đây? Làm sao để và đứng vững giữa một dòng đời bươn chãi với những lo toan của cuộc sống với nhiều đau khổ, thất vọng? làm sao giữ vững niềm tin của mình giữa một xã hội Phương Tây tục hoá. Một xã hội đề cao tự do cá nhân, hưởng thụ, “enjoy”, và đang dần dần rời bỏ nhà thờ, Thánh Lễ. có thể nói rằng, ngọn tháp cao nhất của nhà thờ Đức Bà Paris, vừa đổ xuống trong trận hoả hoạn khủng khiếp tối thứ hai tuần rồi, khiến người ta không khỏi giật mình, hoảng sợ, bởi lẽ nó như báo động cho một thực tại của Giáo Hội Phương Tây đang sụp đổ, tuột dốc không phanh. Làm sao để tiếp tục tin vào Đức Kito phục sinh đây? và đâu là bằng chứng hữu hình cho niềm tin ấy? Bằng chứng nào, chứng cứ nào, dựa vào đâu, để cho chúng ta thuyết phục chính mình và chứng tỏ cho người khác rằng Chúa Kito của tôi, của chúng tôi đã phục sinh và Ngài đang sống?

Dạ Thưa bằng chứng sống động nhất cho sự phục sinh của Đức Kito là một bất động sản vô giá không thể mua bằng tiền. Có ai đoán được đó là cái gì không ah? Đó là ngôi mộ trống. Thật khó hiểu, thật khó tin. Ngôi mộ trống làm sao là bằng chứng sống động cho sự phục sinh của Đức Kito được? Thế mà có kẻ đã tin và loan truyền cho đến ngày nay.


ACE thân mến, bài Tin Mừng ngày hôm nay dẫn chúng ta đi từ đêm tối đến sáng ngày; từ bóng đêm đến ánh sáng; từ bóng đêm của thất vọng đến ánh sáng của niềm hy vọng; từ bóng tối của đau buồn, sầu khổ đến ánh quang của niềm vui sướng, hân hoan. Tin Mừng cho chúng ta biết Bà Maria Macdala bước ra khỏi cửa nhà khi trời còn tối. Đó không chỉ là bóng tối của thời gian, của không gian, nhưng là bóng tối của sự đau buồn thất vọng. Buồn đau thất vọng vì thiếu ánh sáng của Đức Kito. Bà đến thăm mộ Chúa với cõi lòng nặng trĩu, bước chân nặng nề, lê bước, có khi vừa đi vừa khóc. Thế rồi Tin Mừng cho chúng ta biết khi thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ, bà bắt đầu chạy về báo tin, những bước chạy vội vã, hối hả, tất tưởi. Rồi những bước chạy của bà, tin báo của đã kéo theo những bước chạy của Phero và người môn đệ Đức Giesu thương mến. Đó là một cuộc chạy đua mà chúng ta thấy có kẻ trước người sau. Phero dường như là thất thế trong cuộc chay đua này. Người ta đoán là Phero chắc là vì tuổi già sức yếu nên chạy chậm hơn. Có thể. Nhưng theo tôi, sự thua kém của Phero so với người môn đệ Đức Giesu thương mến không đơn giản chỉ là thua kém về thề chất, thể lý nhưng sâu xa hơn là sự thua kém trong mối tương quan gần gũi với Đức Giesu, một sự thua kém về tình yêu, tình thầy trò. Ngay trong tên gọi chúng ta đã thấy được sự vượt trội này. Chỉ có người môn đệ này được gọi là ‘người môn đệ Đức Geisu thương mến’. Người môn đệ này cùng là người duy nhất nằm trong lòng Đức Giesu trong bữa tiệc ly. Người môn đệ này cũng là người duy nhất đứng gần bên thập giá Chúa Giesu và là người duy nhất Đức Giesu trao gởi Mẹ của mình ‘đây là Mẹ của con’. Ông cũng là người đầu tiên nhận ra Chúa Kito phục sinh trên bờ hồ Tiberia và nói cùng Phero: ‘Chúa đó’. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ông là người chạy nhanh hơn, đến mộ trước, nhưng quan trọng nhất vẫn là ‘Ông đã thấy và đã tin’.  Niềm tin ấy là điểm sáng rực nhất trong bài Tin Mừng hôm nay khởi đầu bằng đêm tối. Ông đã thấy gì vậy? thưa là ‘Ngôi mộ trống’. Trên thực tế điều ông thấy cũng giống hệt như điều Maria Macdala và Phero thấy, một ngôi mộ trống, băng vải và khăn che đầu của Đức Giesu. Sự khác biệt ở chỗ là ‘ông đã thấy và đã tin.’ Và niềm tin mãnh liệt ấy vượt mọi không gian thời gian, vượt qua bao nhiêu chướng ngại vật để loan truyền cho không biết bao nhiêu người, qua biết bao thế hệ và cho cả chúng ta ngày nay.


Bất động sản ấy, chứng cứ niềm tin của sự Phục Sinh ấy vẫn còn đứng vững hơn 2000 năm nay giữa trung tâm của Kinh Thành Gierusalem cho đến ngày nay. Đó chỉ là một ngôi mộ trống, một hóc đá bất động nhưng lại sống động lung linh hơn bất cứ thứ gì khác trên thế gian này. Hằng ngày có hàng ngàn người từ khắp nơi trên toàn thế giới đến xếp hàng để được nhìn thấy, được chạm vào Ngôi mộ trống ấy. Chúng tôi, các linh mục đến đó, nếu muốn dâng Lễ ở đó phải đăng ký trước ba tháng. Từng phút từng giây trong ngày đều có người đứng xếp hàng ở đó. Và biết bao nhiêu tín hữu trên thế giới ao ước được một lần đến đó và chạm vào đó. Đó là bằng chứng mãnh liệt, xác thực rằng Đức Kito phuc sinh đang sống. Ngôi mộ trống nhưng lại chứa đựng tròn đầy hình tượng Đức Kito Phuc Sinh. Ngôi mộ trống nhưng chứa đựng niềm tin vô hạn của Kito giáo, của mỗi người chúng ta.


ACE thân mến! Mừng vui lên! Chúa sống lại rồi. Mừng Lễ Phục sinh chúng ta được mời gọi hãy vui mừng, loan tin vui khắp nơi. Chúng ta được mời gọi nhận ra Đức Kito Phục Sinh đang sống quanh ta và ngay trong tâm hồn mỗi người. Ngài đã hiện ra với nhiều người nhưng không phải ai cũng đã được nhìn thấy Chúa. Niềm tin của chúng ta, căn bản, nền tảng vẫn là niềm tin dựa vào chứng cứ “ngôi mộ trống”. Chúng ta dược mời gọi tin ngay cả khi mình không thấy Chúa. Với sự hiện diện của anh chị em ngày hôm nay, trong Thánh Lễ này tôi tin chắc rằng anh chị em thật sự tin vào Đức Kito phục sinh. Tôi cũng như cha quản nhiệm, cha Christophe, cầu chúc và ước mong rằng ACE có thể nhận ra Đức Kito Phục Sinh hiện diện và đang sống trong gia đình, nơi hàng quán, nơi công sở, nơi học đường. Ước mong rằng niềm tin vào Chúa Phục Sinh, sự sống đời sau sẽ thay đổi triệt  để cách sống, cách kiếm tiền, cách cư xử của mỗi người chúng ta. Cũng là mưu sinh kiếm tiền, nhưng tôi nguyện mưu sinh kiếm tiền cách lương thiện theo lời Chúa dạy, không mua gian, bán lận, lừa lọc. Cũng là yêu thương nhưng tôi chọn yêu thương theo cách của Đức Kito, cho đi tất cả và hiến thân vì người khác, không ích kỷ, chỉ nghĩ cho riêng mình. Cũng có nhà cửa hàng quán, công sở, nhưng tôi được mời gọi nhận ra, nhìn thấy những nơi ấy như những không gian của ngôi mộ trống thánh, nơi đó Đức Kito Phục Sinh hằng hiện trị, hướng dẫn và ban ơn cho mỗi người chúng ta. Amen.

Phục Sinh 2019 Balan
Jos. Phạm Duy Thạch