Tuesday, 31 March 2026

ĐẤNG VÔ TỘI CHỊU KẾT TỘI. Phân Tích Tái Biên Tập Trình Thuật Thương Khó theo Tác Giả Mátthêu (Mt 26,1 – 27,66)

         

Khi nghiên cứu Tin Mừng Mátthêu theo hướng nguồn văn. Các học giả khám phá ra rằng có rất nhiều sự trùng hợp giữa bản văn Mátthêu với bản văn Máccô và với bản văn Luca (ba Tin Mừng giống nhau trong nhiều trình thuật). Ngoài ra, khá nhiều câu chuyện mà tác giả Mátthêu kể cũng có nhiều điểm giống với những câu chuyện trong Tin Mừng Luca (hai Tin Mừng có nhiều câu chuyện giống nhau). Điều này dẫn đến kết luận rằng giữa ba tác giả này có chung nguồn văn trước khi họ soạn thảo Tin Mừng của riêng mình. Tuy nhiên, ai viết trước và ai viết sau? Ai lấy nguồn văn của ai? đã là (và có lẽ vẫn còn) những vấn nạn được các học giả Tân Ước tranh luận sôi nổi. Một giả thuyết khá ổn định và được nhiều sự đồng thuận giữa các chuyên gia Thánh Kinh qua mọi thời đại là “thuyết hai nguồn văn”. Giả thuyết này lý giải rằng sự giống nhau giữa ba sách Tin Mừng này là do họ cùng chia sẻ hai nguồn văn chính (nguồn Máccô và Q). Thứ nhất, những bản văn giống nhau giữa cả ba sách Tin Mừng đều xuất phát từ nguồn chung là của tác giả Máccô. Nghĩa là, Máccô viết trước, được xem như nguồn gốc cho hai tác giả còn lại. Thứ hai, những câu chuyện, hay lời giảng giống nhau gữa Matthêu và Luca cùng đến từ một nguồn chung, thường được gọi là Q. Thật ra, chữ Q là chữ cái đầu của chữ Quelle trong tiếng Đức có nghĩa là “nguồn”. Lối chú giải theo cách thức tái biên tập rất hữu ích cho việc nghiên cứu Tin Mừng Nhất Lãm. Nhờ phương pháp này, đc giả có thể nhận ra đâu là bản văn nguồn lấy từ Máccô, và đã biến đổi ra sao và nhằm mục đích, hay chuyển tải ý nghĩa thần học nào. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một cách đọc trình thuật Khổ Nạn theo tác giả Matthêu nhằm làm nổi bật những điểm thần học về Khổ Nạn của Đức Giêsu theo nhãn quan của Matthêu. Bài nghiên cứu tập trung vào bản văn Mt 26,1 – 27,66 đối chiếu với bản văn nguồn Mc 14,1 – 15,47. Ngoài phần dẫn nhập nói về âm mưu nhóm lãnh đạo (Mt 26,1-5), trình thuật Khổ Nạn được chia thành mười ba phân khúc như sau: 1. Con Loài Người chịu xức dầu (26,6-13); 2. Giuđa nộp Con Loài Người (Mt 26,14-16); 3. Con Loài Người cử hành Lễ Vượt Qua (Mt 6,17-29); 4. Con Loài Người ưu phiền tại vườn Ghethsêmanê (26,30-46); 5. Con Loài Người chịu bắt giữ (Mt 26,47-56); 6. Con Loài Người chịu xét xử trước Thượng Hội Đồng (Mt 26,57-68); 7. Phêrô chối bỏ Con Loài Người (Mt 26,69-75); 8. Con Loài Người chịu xét xử trước tổng trấn Rôma, Philatô – Cái chết của kẻ nộp Con Loài Người, Giuđa (27,1-14); 9. Con Loài Người chịu kết án (Mt (27,15-26); 10. Con Loài Người chịu tra tấn và nhục mạ (Mt 27,27-31) 11. Con Loài Người đi hành trình thập tự và chịu đóng đinh (Mt 27,32-44); 12. Con Loài Người  trút hơi thở (Mt 27,45-56); 13. Con Loài Người được mai táng (Mt 27,57-66).

Dẫn nhập (26,1-5)

Giờ đây, chúng ta cùng nhau quan sát trình thuật Khổ Nạn theo cái nhìn của Mátthêu đối chiếu với cái nhìn căn bản của Máccô. Trong trình thuật của mình, Mátthêu đã thêm gì và bỏ gỉ, hay sửa đổi điều gì, và đâu là dụng ý thần học của tác giả này?

Trong phần dẫn nhập của trình thuật Khổ Nạn, các tín hữu được giới thiệu về âm mưu, cũng như đối tượng đứng đằng sau vụ án Con Loài Người. Nhóm người được liệt kê cụ thể là các trưởng tế và kỳ mục của dân, cùng Thượng Tế đương nhiệm là Caipha. Đây là nhóm lãnh đạo tối cao của Do Thái và nằm trong nhóm thành viên của Hội Đồng Do Thái.

Nhìn bề ngoài, người ta có thể thấy rõ đây là âm mưu của nhóm lãnh đạo Do Thái, những kẻ muốn loại trừ Đức Giêsu bằng cách đẩy Ngài đến chỗ bị kết án tử. Tuy nhiên, tác giả Matthêu đã tinh tế cho thấy đây hoàn toàn là kế hoạch của Thiên Chúa và Đức Giêsu biết rõ mồn một điều này. Trước khi nói đến âm mưu của nhóm lãnh đạo, tác giả đã ghi lại việc Đức Giêsu tiên báo về cuộc Khổ Nạn lần thứ tư: “Con Loài Người[1] sẽ bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá” (Mt 26,2).  Ghép với ba lần tiên báo trước đó (Mt 16,21; 17,22-23; 20,17-19). Thời gian cuộc Khổ Nạn sẽ diễn ra được Đức Giêsu báo trước là vào dịp Lễ Vượt Qua. Ghi chú thời gian này hết sức ý nghĩa. Bởi lẽ, Lễ Vượt Qua là biến cố trọng yếu dân Chúa tưởng nhớ và tán tụng Chúa vì Ngài đã giang cánh tay mạnh mẽ giải thoát họ khỏi nô l Pharaô và Ai cập. Một sự kiện không thể thiếu trong dịp Lễ Vượt Qua là một con chiên tinh tuyền khôngtỳ vết bị giết. Yếu tố này liên hệ rất gần gũi với mầu nhiệm tự hiến của Đức Kitô, Con Chiên Vượt Qua, tinh tuyền, vô tội, chịu sát tế để chuộc tội cho nhân loại, mà trước hết là người IsraEL.

Khi mô tả Đức Giêsu thông báo về Cuộc Khổ Nạn ngay trước lúc sự việc xảy ra, Mátthêu có dụng ý thần học rất rõ nhấn mạnh đến sự hiểu biết, chủ động và làm chủ của Đức Giêsu trong vụ án – Mầu nhiệm Khổ Nạn này. Đó không đơn thuần là âm mưu và ý đồ của nhân loại. Nếu Đức Giêsu không cho phép và không tự hiến thì không thế lực nhân loại nào có thể làm được. Máccô chỉ đề cập đến nhóm các trưởng tế và kinh sư, trong khi Mátthêu còn kể tên vị Thượng Tế Caipha. Điều này cho thấy tính toàn thể trong Hội Đồng Do Thái và trách nhiệm của vị đứng đầu một cách rõ ràng hơn. Mátthêu cũng cho biết cụ thể là Đức Giêsu sẽ “chịu đóng đinh vào thập giá”, đúng y chang hình án mà họ áp dụng cho Ngài sau đó. Ba lần tiên báo trước đó, hai lần đầu Đức Giêsu chỉ nói Ngài “chịu nhiều đau khổ… và bị giết chết” (16,21; “họ sẽ giết Ngài”, 17,23; “kết án tử hình Ngài”; chỉ đến lần thứ ba Ngài nói rõ hơn rằng Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại và họ sẽ nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh Ngài vào Thập Giá (Mt 20,19). Rõ ràng, Matthêu nhắc lại và nhấn mạnh đến cách thức Ngài bị giết - “chịu đóng đinh vào thập giá” cách cụ thể.

Mátthêu lấy lại ý tưởng của Máccô về một âm mưu dùng xảo kế và lén lút của nhóm lãnh đạo. Họ bàn tính với nhau “không làm trong ngày lễ, kẻo gây náo loạn trong dân”. Cách làm này cho thấy họ gián tiếp nhìn nhận vị thế của Đức Giêsu trong lòng dân chúng, và nếu bắt Đức Giêsu, họ có thể làm trái lòng dân.

1. Con Loài Người chịu xức dầu (26,6-13)

Khác với Luca, người đặt câu chuyện “xức dầu cho Chúa” ngoài bối cảnh trình thuật Vượt Qua với một dụng ý khác (Lc 7,36-38) – nhấn mạnh lòng hoán cải của người phụ nữ và lòng thương xót của Chúa. Mátthêu khá trung thành với Máccô khi vẫn đặt trình thuật “xức dầu” vào đầu trình thuật Vượt Qua. Nhân vật xức dầu thơm cho Đức Giêsu là một người phụ nữ vô danh. Trong Mátthêu, nhân vật chất vấn cách tiêu cực về sự uổng phí bình dầu đắt giá được đổ lên đầu Đức Giêsu là chính các môn đệ, trong khi đó, Máccô chỉ nói là có mấy người. Mátthêu như muốn cụ thể hóa về tâm thức mù tối và sai lầm của các môn đệ. Chính các môn đệ, những người được Đức Giêsu dạy nhiều lần về mầu nhiệm Khổ Nạn, nhưng vẫn rất mù tối. Ở đây, họ hoàn toàn không hiểu được ý nghĩa của việc người phụ nữ làm, đó là xức dầu lên thân xác Chúa với mục đích là nhắm đến việc mai táng Chúa. Hơn nữa, khi Mátthêu, thay đổi nhân vật “một vài người” trong Máccô thành “các môn đệ”, ông cũng có thể ngụ ý rằng trong bối cảnh này chỉ có các môn đệ và Đức Giêsu, không có ai khác. Mátthêu ghi chú thêm bối cảnh là Đức Giêsu “đang dùng bữa” trong nhà ông Simon, có thể là không có khách mời nào khác, vì không thấy đề cập đến khách mời.

Trình thuật xức dầu cho Chúa được đặt ở đây, ngụ ý rõ ràng đến cái chết và mai táng của Đức Giêsu. Xức dầu trước cuộc Khổ Nạn vừa tiên báo cái chết thật của Chúa, vừa cho thấy sự nghiệt ngã, bất tiện, thiếu thốn trong thời khắc an táng, vì xác Chúa chỉ được bọc liệm đơn giản và đặt cách vội vã vào trong huyệt đá (Mt 27,59).

2. Giuđa nộp Con Loài Người (Mt 26,14-16)

Trong khi nhóm các lãnh đạo Do Thái có một âm mưu bắt Đức Giêsu, thì trong nhóm môn đệ cũng có kẻ toan tính nộp Con Loài Người. Giuđa đã được định danh là “kẻ nộp Người” khi ông được liệt kê trong nhóm Mười Hai (Mt 10,4). Ở đây, Mátthêu giữ nguyên ý tưởng rằng Giuđa chủ động đi gặp các trưởng tế với mục đích là để nộp Người. Tuy nhiên, cách mô tả lợi ích của phi vụ này là khác với Máccô. Máccô viết rằng các trưởng tế chủ động hứa cho Giuđa tiền khi biết rằng Giuđa đến gặp họ để nộp Đức Giêsu. Matthêu kể rằng Giuđa chủ động mặc cả mối lợi: “Các ông muốn cho tôi cái gì để tôi nộp ông ấy cho các ông?” và số tiền họ ấn định là ba mươi đồng bạc. Như thế, Mátthêu nhấn mạnh đến mục đích nộp Thầy của Giuđa là vì lợi lộc cá nhân, cụ thể là tiền bạc. Con số ba mươi đồng bạc này sau đó được Mátthêu giải thích là để ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmia: “Và họ nhận ba mươi đồng bạc, giá của Người, giá đã được con cái IsraEL ấn định trên Người” (Mt 27,9). Thật ra, lời này được trích lại trong sách Dacaria chứ không phải Giêrêmia như Mátthêu nói (Dcr 11,13: “Chúa phán với tôi: ‘Ném nó cho người thợ gốm’, giá mà tôi được họ tính. Vì thế, tôi đã lấy ba mươi đồng bạc và ném chúng vào nhà của Chúa, cho người thợ gốm”).

3. Con Loài Người cử hành Lễ Vượt Qua (Mt 6,17-29).

Ghi chú đầu tiên khác biệt giữa Máccô và Mátthêu là việc giải thích ngày đầu tiên của tuần lễ Bánh Không Men như là “ngày người ta sát tế chiên Vượt Qua”. Mátthêu không ghi nhận giải thích này có lẽ vì theo truyền thống Tuần Lễ Bánh Không Men tiếp theo ngay sau ngày Lễ Vượt Qua. Ngày sát tế chiên Vượt Qua là ngày trước Lễ Vượt Qua. Như thế, ngày “sát tế Chiên Vượt Qua” không thể là ngày đầu tiên của Tuần Lễ Bánh Không Men được. Mátthêu lược bỏ giải thích này có thể vì ông thấy nó không hợp với truyền thống cử hành. Theo truyền thống trong sách Xuất Hành, Chiên Vượt Qua được giết vào ngày mười bốn tháng Nissan, vào lúc chạng vạng, và đêm hôm đó người ta mới ăn Lễ Vượt Qua (Xh 12,6; x. Ga 14,14-16).

Điều khác biệt đáng kể thứ hai là Mátthêu đề cập đến việc Đức Giêsu nói về thời của Ngài đã gần kề. Matthêu dường như muốn nhắc đến thời điểm cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu đã gần kề. Tác giả Máccô có nhắc đến căn phòng lầu trên mà theo truyền thống của Luca đây là nơi Đức Giêsu dùng tiệc vượt qua, nơi các Tông Đồ và các tín hữu sơ khai quy tụ sau khi Đức Giêsu về trời (Cv 1,13). Mátthêu không nhắc đến căn phòng này bởi lẽ theo truyền thống Mátthêu, Galilê mới là điểm hẹn. Sau Phục Sinh các môn đệ trở về Galilê đến ngọn núi mà Đức Giêsu đã định cho họ và họ gặp Ngài ở đó. Chính tại đó, Đức Giêsu Phục Sinh trao ban sứ vụ môn đệ hóa muôn dân cho các Tông Đồ (Mt 28,16-20).

Điều khác biệt thứ ba là danh tính kẻ nộp Thầy. Tác giả Mátthêu để cho Giuđa lên tiếng cách cá nhân sau khi Đức Giêsu cho biết cách trịnh trọng rằng một người trong Nhóm Mười Hai sẽ nộp Người; trong khi đó, Máccô chỉ cho biết là từng người một hỏi “không phải con đấy chứ?” Giuđa của Matthêu cũng hỏi: “Không phải con chứ, thưa Rabbi” và Đức Giêsu đáp lại: “Chính con nói đó”. Cuộc đối thoại này cho thấy sự trơ trẽn, chai cứng trong lương tâm của Giuđa. Trước đó, ông đã đi gặp các trưởng tế và kinh sư. Họ đã hứa cho ông ba mươi đồng bạc cho phi vụ nộp Thầy. Tuy nhiên, khi các tông đồ từng người một hỏi Đức Giêsu thì ông cũng vờ như mình không biết gì, và không ai biết gì về âm mưu của ông. Dù Đức Giêsu đã bật mí là “kẻ cùng Ta chấm tay vào đĩa” nhưng có vẽ như chưa rõ là ai. Mátthêu cho thấy Đức Giêsu chỉ đích danh Giuđa: “Chính con nói đó”. Có lẽ câu trả lời của Đức Giêsu nhằm cảnh tỉnh ông, cho ông cơ hội quay về. Thế mà, ông vẫn đi theo chọn lựa của mình.

Điều khác biệt thứ tư nằm trong lời mời trên bánh Mátthêu thêm vào động từ mệnh lệnh “hãy ăn”, trong khi trong Máccô Đức Giêsu chỉ mời gọi “hãy cầm lấy” mà thôi. Mátthêu gắn bó nhiều hơn với truyền thống về Bí Tích Thánh Thể. Các tín hữu thật sự ăn Mình Thánh Chúa Kitô, chứ không chỉ cầm. Thứ năm, trong lời trên chén, Mátthêu sửa đổi sự kiện “tất cả đều uống từ chén đó” thành mệnh lệnh của Đức Giêsu: “Tất cả các con hãy uống từ chén này”. Máccô mô tả hành động “uống” của các môn đệ, còn Mátthêu nhấn mạnh đến lời mời gọi của Đức Giêsu. Điều này phù hợp với hình ảnh Đức Giêsu là một ông Môsê mới, là thầy dạy theo mô hình thần học của Mátthêu.

Điều khác biệt tiếp theo liên quan đến lời trên chén, đó là hiệu quả của máu giao ước. Đức Giêsu của Máccô giải thích rằng “Máu giao ước, đổ ra cho nhiều người” (Mc 14,23), Mátthêu thêm vào hiệu quả được tha tội: “Đổ ra cho nhiều người để được ơn tha tội” (Mt 26,29). Trong trình thuật Giáng Sinh, Mátthêu đã ghi lại lời căn dặn của thiên sứ dành cho ông Giuse rằng phải đặt tên con trẻ là Giêsu với lý do là “vì Người sẽ cứu dân mình khỏi tột lỗi của họ” (Mt 1,21). Đây là tên gọi mô tả sứ vụ thiết yếu của Đức Giêsu.

4. Con Loài Người ưu phiền tại vườn Ghethsêmanê (26,30-46)

Trên con đường ra núi Ôliu Đức Giêsu đã báo một tin động trời rằng trong đêm ấy tất cả các môn đệ đều vấp phạm vì Ngài (Mt 26,31). Phêrô của Mátthêu xem ra nhất quyết mạnh mẽ hơn Phêrô của Máccô. Phêrô của Matthêu dùng trạng từ “không bao giờ” để phủ nhận hoàn toàn khả năng vấp ngã của mình: “Dù mọi người sẽ vấp phạm vì Ngài, nhưng con đây không bao giờ vấp phạm” (Mt 26,33). Lời cảnh báo về việc Phêrô chối thầy cũng ẩn chứa sự khác biệt đáng kể. Giêsu của Máccô bảo rằng trước khi gà trống gáy hai lần thì Phêrô sẽ chối Thầy ba lần. Việc so sánh số lần chối của Phêrô nhiều hơn số lần gà trống gáy cho thấy cấp độ nhiều của hành động chối Thầy. Mátthêu thì dùng cách khác “trước khi gà trống gáy, con sẽ chối Ta ba lần” (Mt 26,34), nghĩa là gà chưa gáy, gáy không lần thì Phêrô đã chối Thầy đến ba lần. Cấp độ chối Thầy của Phêrô sớm hơn và nhanh hơn, ngược lại với lời khẳng định “không bao giờ vấp phạm” ông mới nói trước đó ít lâu.

Về căn bản, trong buổi cầu nguyện đặc biệt tại vườn Ghethsêmani trước khi chịu bắt giữ, Đức Giêsu đã cầu nguyện riêng ba lần. Còn các môn đệ thì luôn ở trong trình trạng mệt mỏi và ngủ li bì. Trong lần cầu nguyện thứ hai, Mátthêu ghi lại nội dung lời cầu nguyện, còn Máccô thì chỉ ghi chú rằng Ngài “nói những lời như lần trước” (Mc 14,39). Mátthêu cho thấy sự khác biệt và tiến triển giữa hai lần cầu nguyện của Đức Giêsu. Lần thứ nhất, Đức Giêsu xin cho “chén này qua khỏi con, nhưng không phải như Con muốn mà như Cha muốn”; lần thứ hai Đức Giêsu đặt giả định “nếu chén này không thể qua đi trừ khi Con uống, thì xin cho ý Cha được thực hiện” (Mt 26,42). Trong lần thứ hai Đức Giêsu nhấn mạnh đến yếu tố đón nhận, xin cho ý Cha được thực hiện. Mátthêu nói thêm là Đức Giêsu “rời khỏi họ mà đi cầu nguyện lần thứ ba và nói những lời như trước” (Mt 26,44). Máccô không có ghi chú này, chỉ kể lại khoảnh khắc Đức Giêsu đến sau khi đã đi cầu nguyện lần thứ ba (Mc 14,41). Có lẽ, vì Mátthêu thấy không hợp lý khi không có chi tiết Đức Giêsu đi cầu nguyện lần thứ ba mà chỉ trở lại lần thứ ba, nên tác giả thêm vào cho hợp lý hơn.

5. Con Loài Người chịu bắt giữ (Mt 26,47-56)

Trình thuật bắt giữ của Mátthêu có ba điểm khác biệt so với Máccô. Thứ nhất, nguồn gốc của đám đông lớn. Máccô cho biết là đám đông mang gươm giáo và gậy gộc đến bắt Đức Giêsu là từ ba nhóm người: trưởng tế, kinh sư và kỳ mục. Mátthêu chỉ liệt kê nhóm trưởng tế và kỳ mục mà không nhắc đến nhóm kinh sư. Có lẽ, Matthêu hiểu rằng nhóm kinh sư chỉ liên quan đến những tranh luận về giáo thuyết và truyền thống chứ không liên quan đến quân lính, hay lực lượng chính trị. Thật vậy, nhóm kinh sư thường xuất hiên bên cạnh nhóm Pharisêu trong những tranh luận liên quan đến truyền thống tôn giáo (Mt 15,1-2). Họ gắn liền với nhiệm vụ giảng dạy (Mt 23,2-3). Thứ hai, lời chào của Giuđa. Giuđa của Mátthêu thêm vào lời chào “Hãy vui lên!” (khairê![2]) trước danh xưng Rabbi! (Mừng vui lên! Rabbi), trong khi Giuđa của Máccô chỉ nói rằng: “Rabbi!” Lời chào “hãy vui lên!/ chúc vui vẻ!” cùng với nụ hôn càng làm tăng thêm sự giả tạo trong hành động của Giuđa. Mặc dù Giuđa mục đích của Giuđa là chỉ điểm Thầy cho nhóm lính, nhưng ông lại chào Thầy bằng một lời chào chúc tốt lành. Đây chính là lời chào mỉa mai mà nhóm lính Tổng Trấn dùng để chế nhạo Đức Giêsu: “Chúc vui vẻ! vua dân Do Thái” (Mt 27,29). Thứ ba, Đức Giêsu trong trình thuật của Mátthêu có một câu nói với Giuđa sau khi ông chào và hôn Người: “Bạn ơi! Vì điều mà bạn đến” (ἐφ᾽ ὃ πάρει, 26,50). Đa số các bản dịch hiểu câu nói này là “hãy làm điều mà bạn đến để làm!” Dựa trên tình tiết tiếp theo, ngay sau câu nói này, “họ tiến đến, ra tay trên Đức Giêsu và bắt giữ Người”, thì cách hiểu này có vẻ hợp logic. Cách gọi của Đức Giêsu dành cho Giuđa thật lạ lùng. Trong khi Giuđa gọi Ngài là “rabbi”, Ngài lại gọi ông là “bạn”. Cách gọi này được dùng trong hai trường hợp trong Mátthêu. (1) Chủ vườn nho gọi những người làm công vào làm giờ đầu tiên, khi họ có điều phàn nàn với ông: “Bạn ơi! Tôi đâu không đối xử sai với bạn, không phải là bạn đồng ý với tôi là một đồng sao?” (Mt 20,13); (2) nhà vua nói với một vị khách dự tiệc không mặc y phục đám cưới: “Bạn ơi! Sao vào đây mà không có y phục đám cưới?” (Mt 22,12). Trong cả hai trường hợp, người nói đều muốn sửa dạy người nghe. Và cả hai đối tượng được gọi là “bạn” sau đó cùng chịu kết cục đau buồn. Nếu những người làm vào làm đầu tiên trong dụ ngôn người thợ vườn nho chỉ chịu kết cục trở nên những người sau chót (Mt 20,16), thì người khách không mặc y phục đám cưới sẽ bị quăng ra ngoài và thành kẻ khóc lóc nghiến răng (Mt 22,13). Giuđa cũng sẽ có kết cục bi thảm, khi ông đã phải treo cổ tự tử sau đó. Như thế, câu nói của Đức Giêsu của Mátthêu dành cho Giuđa vừa cho thấy Ngài biết hết mọi sự, vừa báo trước kết cục bi thảm của Giuđa. Thứ tư, Mátthêu thêm vào một đoạn dài sau sự kiện một người đi theo Ngài chém đứt một tai của đầy tớ vị thượng tế.

“Hãy để gươm lại chỗ của nó, vì mọi kẻ cầm gươm sẽ chết vì gươm. Hay con tưởng rằng Ta không thể xin Cha Ta và Ngài sẽ cấp ngay cho Ta hơn mười hai đạo binh thiên sứ sao? Nhưng nếu như thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng sự việc phải xảy ra như vậy?” (Mt 26,53-54).

Trong lời đoạn văn mà Mátthêu thêm vào, các tín hữu thấy được ba điều: (i) Đức Giêsu không muốn bạo lực: Kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm; (ii) Ngài hoàn toàn làm chủ tình hình. Nếu Người muốn dùng bạo lực để chống lại kẻ bắt Ngài thì “hơn mười hai đạo binh thiên sứ” sẽ sẵn sàng; (iii) Việc Ngài chịu bắt là để hoàn trọn lời Thánh Kinh. Những lời này kết hợp với những lời Đức Giêsu nói với đám đông mà Máccô đã ghi lại rằng hằng ngày Người vẫn giảng dạy trong đền thờ nhưng không ai bắt, nhưng việc Ngài chịu bắt giữ như vậy là để lời các ngôn sứ được hoàn trọn (Mt 26,56).

Ngoài ra, Mátthêu bỏ hẳn đoạn văn của Máccô mô tả về chàng thanh niên đi theo Đức Giêsu, hoảng sợ bỏ chạy mình trần (bỏ chạy mất cả vải che thân) khi anh bị những người bắt Đức Giêsu túm lấy (Mc 14,51-52). Chàng thanh niên này thường được các học giả cho rằng chính là Máccô, soạn giả của sách Tin Mừng mang tên ông. Lý do là chỉ có Máccô kể lại chuyện này. Chi tiết này của Máccô chắc chắn nhấn mạnh thêm bầu khí sợ hãi của các môn đệ, và cả những kẻ đi theo Người. Thậm chí, họ quên cả xấu hổ, bỏ cả vải che thân để chạy thoát thân. Có lẽ, Mátthêu không thấy cần thiết phải kể lại chi tiết mang tính cá nhân của Máccô, nên ông lược bỏ.

6. Con Loài Người chịu xét xử trước Hội Đồng (Mt 26,57-68)

Đức Giêsu đã trải qua hai vòng xét xử: (i) của Hội Đồng Do Thái, tại dinh Thượng Tế; (ii) của Tổng trấn Philatô, tại dinh Tổng Trấn. Phiên tòa chính yếu là phiên tòa đầu tiên. Hội đồng Do Thái mang yếu tố quyết định bản án tử cho Đức Giêsu. Tổng trấn chỉ xét xử theo yêu cầu của Hội Đồng Do Thái và có vai trò cho phép thi hành án tử. Ảnh hưởng của Hội Đồng Do Thái lên đám đông quá mạnh đến nỗi dẫu vẫn biết rõ Đức Giêsu vô tội, Tổng Trấn vẫn cho phép xử tử Ngài.

Trong trình thuật về phiên tòa kín của nhóm Hội Đồng Do Thái, Mátthêu cũng có nhiều thay đổi so với Máccô. Thứ nhất, tác giả nêu danh thượng tế Caipha. Thứ hai, ông lược bỏ nhóm “trưởng tế” (chỉ có kinh sư và kỳ mục, cùng với Thượng Tế Caipha). Thứ ba, mục đích Phêrô đi theo xa xa vào trong sân dinh thượng tế là “để xem kết cục thế nào” (Mc: “sưởi bên đóng lửa”). Máccô cho biết họ dẫn Người đến vi thượng tế nhưng không nói tên, Mátthêu làm rõ tên vi thượng tế thời ấy là Caipha. Qua Mátthêu, chúng ta cũng biết được mục đích của Phêrô khi đi theo sau Đức Giêsu là để xem kết cục của vụ án. Việc Mátthêu không liệt kê nhóm các trưởng tế cùng với kinh sư và kỳ mục ngụ ý làm thành Hội Đồng Do Thái (Sanhedrin) có lẽ liên quan đến việc Máccô tách riêng nhóm các trưởng tế và toàn thể Hội Đồng ở tình tiết tiếp theo sau đó: “Các trưởng tế và toàn thể Hội Đồng tìm chứng cứ chống lại Đức Giêsu để giết Người” (Mc 14,55). Các trưởng tế được xác định dường như là một nhóm ngoài các thành viên Hội Đồng. Chính vì thế mà Mátthêu không muốn các tín hữu hiểu nhầm họ là nhóm chung trong Hội Đồng Do Thái.

Trong phần xử án, các trưởng tế và Hội Đồng cố gắng tìm chứng cứ để giết Đức Giêsu, nhưng họ không tìm ra. Mátthêu sửa đổi danh từ “chứng cứ” thành “chứng cứ gian” (họ tìm chứng cứ gian) để nhấn mạnh sự vô tội của Đức Giêsu, và nếu muốn kết án tử Người thì chỉ có “chứng cứ gian” mà thôi. Đối với Máccô, khi họ tìm chứng cứ không được thì sau đó mới có nhiều người làm chứng gian nhưng các chứng cứ lại không ăn khớp với nhau (Mc 14,56).

Khác với Máccô, Mátthêu đề cập đến con số hai chứng nhân đưa ra lời chứng rằng: “ông này đã nói: ‘Ta có thể phá hủy đền thờ Thiên Chúa và trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại’” (Mt 26,61). Đây là con số chứng nhân cần thiết để lời chứng có giá trị theo luật: “Chỉ có bằng chứng của hai chứng nhân hoặc ba chứng nhân thì bản án mới được thiết lập” (Đnl 19,15). Mátthêu rất quan tâm đến Torah (Luật).

Trược mọi kết án oan và câu chất vấn của vị Thượng Tế, Đức Giêsu vẫn giữ im lặng chỉ khi vị Thượng Tế hỏi về căn tính Kitô thì Ngài mới trả lời. Câu chất vấn của vị Thượng Tế trong Mátthêu nghiêm trọng hơn với yếu tố thề thốt: “Tôi yêu cầu ông thề trước mặt Thiên Chúa hằng sống mà nói cho chúng tôi biết: Ông có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hay không.” (Mt 26,63). Câu trả lời của Đức Giêsu của Mátthêu cũng khác so với Máccô. Trong Mátthêu, Đức Giêsu trả lời rằng: “Chính ông đã nói”, còn trong Máccô, Đức Giêsu trả lời rằng: “Chính Ta là”. Câu trả lời của Đức Giêsu của Máccô vừa ngụ ý xác nhận Ngài là Đấng Kitô, vừa ngụ ý Ngài là Thiên Chúa, bởi đây là kiểu nói giống với cách Thiên Chúa trả lời cho Môsê trong sách Xuất Hành. Khi ông hỏi tên của Thiên Chúa là gì, Ngài đáp lại rằng “Ta là Đấng Ta là” [אֶֽהְיֶ֖ה אֲשֶׁ֣ר אֶֽהְיֶ֑ה]. Câu trả lời của Đức Giêsu trong Mátthêu, “chính ông đã nói”, vừa khẳng định lại vừa từ chối. “Chính ông đã nói” có thể hiểu là “ông nói chứ tôi đâu có nói” rằng Ta là Đấng Kitô; cũng có thể hiểu là “đúng như ông đã nói” rằng Ta là Đấng Kitô.

Câu nói tiếp theo của Đức Giêsu như muốn mặc khải căn tính của Người lên cao hơn: Ngài là Con loài Người ngự bên hữu Đấng Quyền Năng và đến trên mây trời. Đây rõ ràng là một khẳng định về căn tính thần linh, ngang hàng với Thiên Chúa. Dĩ nhiên, đây là một mặc khải đúng, vì sau khi Phục Sinh, Đức Giêsu đã thực sự lên ngự bên hữu Thiên Chúa (Hr 1,3; Mc 16,19) và Ngài hứa sẽ trở lại trên đám mây (Mt 24,30). Vì không tin Đức Giêsu có căn tính thần linh, nên vị Thượng tế khẳng định Đức Giêsu phạm thượng và kết án tử cho Ngài (Mt 26,66c).

Sau khi kết án tử Đức Giêsu lập tức họ hành hình Ngài. Mátthêu giữ lại hình ảnh họ “khạc nhổ” và “đánh đập”, nhưng thay đổi một số chi tiết nhằm tăng lên mức độ của cuộc tra tấn. Trong khi Máccô mô tả họ “khạc nhổ vào Người”, Mátthêu cụ thể hóa vị trí họ khạc nhổ: “Họ khạc nhổ vào mặt Người”. Vị trí khuôn mặt rõ ràng tăng thêm sự sỉ nhục, khinh bỉ ở mức cao nhất. Trong mọi cực hình, có lẽ đây là cực hình đau đớn nhất, bởi lẽ nó làm tổn hại nghiêm trọng về danh dự, về hình ảnh về tinh thần. Một người càng trong sạch, càng tự trọng, thì càng cảm nhận nỗi đau đớn càng lớn. Một người càng tràn đầy tình yêu, thì càng đau đớn khi bị chối từ đến mức khinh bỉ, gớm ghê. “Họ khạc nhổ vào mặt”, kết hợp với việc “có những kẻ tát Ngài” làm tăng thêm cảm giác nhục nhã và đau đớn . “Tát” cũng ở vị trí gương mặt. Nó gây đau đớn về tinh thần nhiều hơn là thể lý. Bên cạnh đó, những kẻ hành hình trong Mátthêu lấy danh Kitô ra để mỉa mai: “Này Kitô, hãy nói ngôn sứ (προφήτευσον) cho chúng tôi, ai là người đã đánh ông?” (Mt 27,68). Máccô chỉ ghi đơn giản: “Hãy nói ngôn sứ đi” (Mc 14,65). Khi nhắc đến danh xưng “Kitô”, họ ngụ ý rằng trước đó Đức Giêsu đã nhìn nhận mình là Đấng Kitô, mà Đấng Kitô thì có thể biết ai đã đánh mình. Đấng Kitô, Đấng toàn thể IsraEL mong đợi, Đấng được xức dầu bị mang ra làm trò đùa, tiêu khiển.

7. Phêrô chối bỏ Con Loài Người (Mt 26,69-75)

Cảnh Phêrô chối thầy đã được tiên báo trước đó cho cả Phêrô và cả người đọc. Điều này cho thấy đặc tính ngôn sứ nơi Đấng Kitô. Ngài biết trước mọi việc, nói trước khi nó xảy ra. Ông Phêrô đã được cảnh báo, nhưng ông rất tự tin vào lòng tín thành của mình như đã nói trước đó. Cuối cùng, chính ông cũng không thể tưởng tượng chính ông lại chối Thầy ba lần như thế. Bấy giờ, ông mới cảm nghiệm được thế nào gọi là “tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối”. Cùng với trình thuật Giuđa nộp Thầy bằng một nụ hôn, cảnh Phêrô chối Thầy làm nên một bức tranh vô cùng ảm đạm về sự đổ vỡ tình Thầy – trò. Dẫu Đức Giêsu vẫn một mực yêu mến các đồ đệ và cố gắng dạy dỗ các ông, các ông vẫn không hiểu và không thể đồng hành với Ngài trên hành trình Thương Khó. Hình ảnh người đầy tớ gái làm cho vị tông đồ trưởng phải hoảng sợ cho thấy sự sụp đổ hoàn toàn hình ảnh của một người môn đệ. Họ sợ hãi toàn tập trước bất cứ một người nào phát hiện ra họ, thậm chí đó chỉ là một đầy tớ nữ, hay nói đúng hơn là nữ nô lệ.

Tương quan giữa số lần Phêrô chối Thầy và số lần gà trống gáy, cả Mátthêu và Máccô đều trung thành với lời tiên báo của Đức Giêsu dành cho Phêrô trước đó. Đức Giêsu của Máccô thì cho biết trước khi gà gáy hai lần, thì Phêrô đã chối Chúa ba lần. Chính vì thế sau khi Phêrô chối lần thứ ba thì tác giả ghi: “Tức thì gà trống gáy lần thứ hai” (Mc 14,72). Đức Giêsu của Mátthêu thì tiên báo rằng “gà trống chưa gáy thì con đã chối Thầy ba lần” và sau khi Phêrô chối lần ba, tác giả ghi rằng: “Lập tức, gà trống gáy” (Mt 26,74).

Trong trình thuật này, Mátthêu cũng thay đổi một số yếu tố đáng kể. Người tớ gái của Mátthêu nêu danh Đức Giêsu trong lần tố cáo thứ hai: “Ông này đã ở với ông Giêsu Nadarét”. Phêrô chối rằng: “Tôi không biết Người ấy”. Cách tố giác của người tớ gái trong Mátthêu cụ thể hơn và sự chối từ của Phêrô cũng cụ thể hơn. Máccô chỉ ghi rằng “Phêrô lại chối” và câu tố giác là “ông này cũng là người trong số họ”. Hơn nữa, Mátthêu còn thêm yếu tố “lời thề” - chối cùng với lời thề (μετὰ ὅρκου). Lời thề rõ ràng làm tăng thêm sức nặng của sự chối từ. Trong lần chối thứ ba, thậm chí thái độ của Phêrô còn mạnh mẽ hơn vì có thêm hành động “nguyền rủa”: “ông nguyền rủa và thề”. Trong lần này, Mátthêu giữ nguyên câu của Máccô.

Sau tiếng gà trống gáy là lòng hối hận của Phêrô, vì ông nhớ lại lời cảnh báo của Đức Giêsu trước đó. Mátthêu và Máccô đều cho thấy ông Phêrô khóc lóc. Tuy nhiên chỉ có gia tăng mức độ hối hận của Phêrô khi ông thêm vào trạng từ “cay đắng” sau động từ khóc: khóc cách đắng đót (πικρῶς).

8. Con Loài Người chịu xét xử trước tổng trấn Rôma, Philatô – Cái chết của kẻ nộp Con Loài Người, Giuđa (27,1-14).

Sau khi kể đoạn Đức Giêsu bị dẫn đến tổng trấn Philatô để chịu xét xử, Mátthêu thêm vào một đoạn dài để nói về số phận của kẻ nộp Thầy, Giuđa (Mt 27,3-10). Đây là dữ liệu riêng của Mátthêu, trong tất cả các tác giả sách Tin Mừng chỉ có Mátthêu có câu chuyện này. Luca cũng có một câu chuyện về cái chết của Giuđa, nhưng không phải trong Tin Mừng Luca và trong sách Các Hoạt Động (Cv 1,15-20). Câu chuyện của Luca khác nhiều so với câu chuyện của Mátthêu.

Khi kể câu chuyện này, Mátthêu như muốn lý giải về số phận của Giuđa, điều mà Máccô vẫn còn bỏ ngỏ. Theo Mátthêu, Giuđa đã có giây phút hối hận khi thấy Đức Giêsu bị kết án. Chúng ta hãy quan sát kỹ câu Mátthêu mô tả thái độ của Giuđa:

Τότε ἰδὼν Ἰούδας ὁ παραδιδοὺς αὐτὸν ὅτι κατεκρίθη, μεταμεληθεὶς ἔστρεψεν τὰ τριάκοντα ἀργύρια τοῖς ἀρχιερεῦσιν καὶ πρεσβυτέροις

Câu nói này trong tiếng Hy Lạp có hai động từ ở dạng phân từ: (i) Thấy [ὁράω] và (ii) Hối hận [μεταμέλομαι]. Hai động từ này ở dạng phân từ là mệnh đề phụ, có thể là mệnh đề thời gian hoặc là nguyên nhân. Vì thế có thể hiểu câu này theo những cách khác nhau như sau:

(1)  Bấy giờ, nhận thấy rằng Ngài bị kết án, Giuđa, kẻ nộp Ngài,

hối hận, đã trả lại ba mươi đồng bạc cho các trưởng tế và kỳ lão.

(2)  Bấy giờ, khi nhận thấy rằng Ngài bị kết án, Giuđa, kẻ nộp Ngài,

hối hận, đã trả lại ba mươi đồng bạc cho các trưởng tế và kỳ lão.

(3)  Bấy giờ, vì nhận thấy rằng Ngài bị kết án, Giuđa, kẻ nộp Ngài,

hối hận, đã trả lại ba mươi đồng bạc cho các trưởng tế và kỳ lão.

Hành động chính trong câu này là “trả lại ba mươi đồng bạc”, hai hành động có thể là căn nguyên cho hành động này: (a) Nhận thấy rằng Ngài bị kết án và (b) hối hận. Động từ hối hận có thể được hiểu theo hai nghĩa: hối lỗi hoặc thay đổi suy nghĩ. Như vậy, Mátthêu cho thấy Giuđa hối lỗi hoặc thay đổi suy nghĩ sau khi nhìn thấy Đức Giêsu bị kết án. Ông không thiết tha gì đến số ba mười đồng bạc mà họ đã trả cho phi vụ nộp Thầy trước đó. Hành động trả lại hoàn toàn sộ bạc cho có thể dẫn đến hai giả thuyết. Thứ nhất, Giuđa trước đó đã thích chút lợi ích nên đã nộp Thầy, nhưng bây giờ lương tâm hắn cắn rứt bản án người ta dành cho Thầy. Giả thiết này phù hợp với mặc cả của Giuđa với các trưởng tế mà Mátthêu đã ghi lại trước đó: “Các ông muốn cho tôi cái gì để tôi nộp ông ấy cho các ông” (Mt 26,15). Giuđa đã thật sự muốn một mối lợi. Truyền thống Tin Mừng Gioan mô tả Giuđa là một kẻ trộm. Ông giữ túi tiền và thường trộm những gì người ta bỏ vào đó (Ga 12,6). Một giả thiết khác cũng có thể đặt ra là Giuđa vốn tin vào quyền năng của Đức Giêsu, ông nộp Đức Giêsu để Ngài có thể biểu lộ quyền năng chính trị mà thiết lập đế chế của Ngài, chứ ông không cần tiền. Nhưng khi thấy Ngài chịu kết án, dự tính của ông đã không thành. Giả thuyết này dường như không phù hợp với trình bày của Mátthêu.

Những câu nói tiếp theo cho thấy thái độ hối hận của Giuđa. Ông công bố rằng: “Tôi đã phạm tội khi (vì/ qua việc) nộp máu vô tội”. Giuđa dùng từ “máu” có lẽ liên hệ đến “máu của Ta, máu giao ước đổ ra vì ơn tha tội”. Đây là cách chơi chữ của Mátthêu: “Máu vô tội” chịu nộp và đổ ra vì “sự tha thứ tội lỗi” (26,28). Các trưởng tế cũng nhìn nhận số tiền nộp Đức Giêsu là “giá của máu” (τιμὴ αἵματός, 27,6). Tên gọi “máu” gắn liền với tên thửa ruộng được mua bằng số tiền ấy: Ruộng máu (27,8). Các trưởng tế và kỳ mục cũng không nhận lại số bạc ấy và cũng không quan tâm đến sự minh oan của Giuđa. Giuđa đã ném số bạc vào đền thờ và đi treo cổ. Hành động tự kết liễu Giuđa thường được xem là tuyệt vọng, thiếu niềm trông cậy vào Chúa và vì thế, người ta đã từng nghĩ rằng ông đã mất ơn cứu độ. Tuy vậy, thực tế, ơn cứu độ nằm trong ý định nhiệm mầu của Chúa và không ai có thể khẳng định chắc chắn rằng Giuđa mất ơn cứu độ. Mátthêu muốn cho thấy rằng Giuđa đã từng hối hận, thay đổi suy nghĩ, nhưng đau khổ, bế tắc trong giải pháp.

Bên cạnh câu chuyện về kết cục bi thảm của Giuđa, Mátthêu cũng cho thấy lời ngôn sứ được hoàn trọn liên quan đến việc họ lấy ba mươi đồng bạc để mua thửa ruộng của người thợ gốm: “Họ đã lấy ba mươi đồng bạc, là giá mà con cái IsraEL đã ấn định cho Ngài, và họ dùng số bạc đó để mua thửa ruộng của người thợ gốm, như Chúa đã truyền cho tôi” (Mt 27,9-10). Mátthêu đã nói đây là câu trích của ngôn sứ Giêrêmia, nhưng thực ra những ý tưởng của câu này vốn được trích từ ngôn sứ Dacaria: “Chúa phán bảo tôi: ‘ném số tiền đó vào kho bạc đi, chúng đánh giá Ta chỉ bấy nhiêu thôi, vậy tôi đã đem ba mươi đồng bạc mà quăng vào kho bạc nhà Chúa’” (Dcr (11,13). Mátthêu đã sửa lại gần như hoàn toàn lời của Chúa trong sách Dacaria ngoài trừ số đồng bạc là ba mươi. Các trưởng tế đã khẳng định rằng: “Số bạc đó không được phép để vào kho bạc đền thờ vì đó là giá máu” (Mt 27,6) và họ đã quyết định mua thửa ruộng của người thợ gốm để chôn khách ngoại kiều. Những điều này hoàn toàn không có trong lời ngôn sứ Dacaria. Điều quan trọng là Mátthêu muốn cho thấy câu chuyện Giuđa cũng không nằm ngoài lời tiên báo của các ngôn sứ.

9. Con Loài Người chịu kết án (Mt (27,15-26).

Sau khi kể câu chuyện Giuđa, Mátthêu tiếp tục câu chuyện xử án Đức Giêsu. Hội đồng Do Thái kết án tử Đức Giêsu vì họ cho rằng Ngài phạm thượng. Tuy nhiên, khi dẫn đến tòa Rôma, lý do phạm thượng dường như không có giá trị. Câu hỏi mà Philatô hỏi Ngài là: “Có phải ông là vua không?” và Đức Giêsu là lời “Chính Ngài nói”. Câu trả lời này có thể hiểu vừa có lại vừa không. Nó có thể được hiểu là: “như Ngài nói” đó, cũng có thể hiểu là “Chính Ngài tự nói” vậy. Khi người ta làm chứng nhiều điều chống lại Ngài, Ngài không đáp lại một tiếng nào (Mt 27,14). Philatô áp dụng giải pháp cho dân chúng chọn một tù nhân được phóng thích vào dịp lễ. Họ sẽ chọn giữa “Barabba, tù nhân khét tiếng” và “Giêsu, còn gọi là Kitô”. Giải pháp mang Barabba, một tù nhân khét tiếng (Mc: Một tội phạm thuộc nhóm nổi loạn và giết người) có lẽ để đám đông có thể tha cho Đức Giêsu. Cả Máccô và Mátthêu đều ghi chú về suy nghĩ của Philatô, “vì ông biết rằng cho ghen tức mà họ đã nộp Ngài”, vào ngay sau câu hỏi: “Các ngươi muốn ta phóng thích ai cho các ngươi, Barabba hay Giêsu, còn gọi là Kitô”. Ghi chú này ngụ ý rằng, ông Philatô không nghĩ rằng Đức Giêsu có tội và đám đông cũng nghĩ vậy, nhưng chỉ vì ghen tức mà thôi. Khi phải cân nhắc giữa Barabba, một tội nhân, và Đức Giêsu, người vô tội, xác suất cao là họ sẽ chọn tha cho Đức Giêsu.

Mátthêu thêm vào một chi tiết đặc biệt minh chứng cho sự vô tội của Đức Giêsu. Đó là việc vợ ông sai người đến nói với ông rằng “đừng can dự gì đến người công chính ấy (τῷ δικαίῳ), vì hôm nay, qua giấc mơ (κατ᾽ ὄναρ), tôi đã đau khổ nhiều vì người ấy” (Mt 27,19). Qua lời của vợ Philatô, một người ngoại, chúng ta biết được rằng Đức Giêsu là người công chính. Thuật ngữ “qua giấc mơ” là thuật ngữ rất quen thuộc của Mátthêu. Nó diễn tả cách thức Chúa nói với một ai đó. Cách thức này được sử dụng rất nhiều trong trình thuật Giáng Sinh (1,20; 2,12.13.19.22).

Dự kiến của Philatô và vợ ông đã thay đổi khi “các trưởng tế và kỳ mục cứ xúi dục đám đông để họ xin cho Barabba và giết Đức Giêsu” (Mt 27,20; Mc 14,11). Cuối cùng họ đã chọn tha cho Barabba và đồng thời cũng chọn hình phạt cao nhất cho Đức Giêsu: Đóng đinh vào thập giá. Philatô dường như chưa muốn bỏ cuộc. Ông lại hỏi họ: Đức Giêsu đã làm điều gì xấu? Thay vì trả lời ông, họ lại càng la lớn “nó phải bị đóng đinh vào thập giá” (Mt 27,23; Mc 14,14).

Cuối cùng, Máccô ghi lại rằng vì muốn làm vừa lòng đám đông nên Philatô đã phóng thích Barabba cho họ và trao nộp Đức Giêsu để Ngài bị đóng đinh vào thập giá. Philatô của Mátthêu thì làm hành động rửa tay trước mặt đám đông và lý giải cho hành động ấy là “Ta vô can với máu này. Các ngươi tự mà lo lấy”. Đáp lại, dân chúng sẵn sàng gánh trách nhiệm máu: “Cứ để máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi”. Khẳng định này cho thấy sự nhất quyết, ngoan cố, gánh lấy mọi hậu quả, không những trên chính họ và trên nhiều thế hệ về sau, miễn là giết được Đức Giêsu.

10. Con Loài Người chịu tra tấn và nhục mạ (Mt 27,27-31)

Sau khi Philato kết thúc việc xử án và giao Đức Giêsu cho đám đông tùy ý xử lý. Họ bắt đầu tiến trình hành hạ Ngài. Trước tiên họ mỉa mai Ngài như một vị vua. Họ mặc cho Ngài tấm áo vải đỏ tía, áo nhuộm dành cho vua và đội vương miện gai cho Ngài. Cây sậy đặt vào tay Ngài tượng trưng cho vương trượng. Họ quỳ gối trước mặt Ngài và nhạo báng Ngài: “Kính chào vua dân Do Thái” (Mt 26,29). Đức Giêsu được giới thiệu như là “Vua của người Do Thái” trong trình thuật Giáng Sinh, và ngay trong gia phả Người được gọi là “Con Vua Đavid” (1,1). Nhiều lần các bệnh nhân kêu danh xưng này để cầu xin cứu giúp: “Lạy Con vua Đavid, hãy thương xót tôi” (Mt 9,27;15,22; 20,30.31”. Đám đông tung hô Ngài là “Con Vua Đavid” (Mt 21,9.15). Đức Giêsu đích thực là “Vua của người Do Thái”, nhưng bởi Ngài không thể hiện quyền lực như họ nghĩ nên họ xem Ngài là chỉ là vua giả hiệu. Vương miện gai vừa mang tính mĩa mai, vừa mang tính tra tấn. Vương miện gai được đội lên mà không tháo xuống, ngụ ý rằng Ngài đã đội vương miện gai suốt hành trình thập tự và thập chí đến lúc chết. Hơn hết, họ tỏ thái độ khinh bỉ Ngài bằng cách khạc nhổ vào Ngài và lấy cây sậy mà đập lên đầu Ngài. Đây là lần thứ hai Đức Giêsu chịu người ta sỉ nhục gớm ghiếc đến mức khạc nhổ vào mình. Lần thứ nhất trong dinh Thượng tế (26,67), lần này là trong sân dinh Tổng Trấn (Mt 27,30). Có thể nói rằng khạc nhổ là hình thức sỉ nhục cao nhất.

11. Con Loài Người đi hành trình thập tự và chịu đóng đinh (Mt 27,32-44);

Sau khi nhạo báng Ngài chán chê, họ dẫn Ngài đi đóng đinh vào thập giá, hình án khốc liệt nhất mà Rôma dành cho người tội phạm nguy hiểm nhất. Trên hành trình ấy họ bắt Simon Kyrênê vác thập giá của Ngài. Theo truyền thống, thì người bị tử hình sẽ vác lấy thập giá mình đến nơi Đồi Sọ. Tuy nhiên, khá lạ lùng, khi trong các tác giả sách Tin Mừng, chỉ có tác giả Tin Mừng thứ tư ghi chú rõ ràng là “chính Người vác thập giá của mình” (Ga 19,17) và không hề có nhân vật Simon Kyrênê. Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, dường như Đức Giêsu không vác thập giá mình, nếu như không ngầm hiểu theo truyền thống. Nếu Đức Giêsu thật sự không vác thập giá, thì có thể đoán rằng Ngài quá suy kiệt vì bị tra tấn và xử án trước đó. Truyền thống Kitô giáo vẫn hiểu rằng Ngài vác thập giá và vẫn thường suy gẫm đàng Thánh Giá cách sốt sắng. Chúng ta hãy quan sát từng bản văn Nhất Lãm về cảnh Đức Giêsu trên hành trình đến đồi Golgôtha.

 Máccô mô tả rằng: “họ dẫn Ngài ra ngoài để đóng đinh Ngài… Họ bắt ép một người qua đường, Simon Kyrênê …vác lấy (ἄρῃ) thập giá của Ngài … họ mang Ngài đến nơi gọi là Golgôtha” (Mc 15,21-22);

Mátthêu: “Họ dẫn Ngài đi để đóng đinh … khi họ đang đi ra họ gặp một người đàn ông Kyrênê, tên là Simon, họ bắt ép ông để ông vác lấy (ἄρῃ) thập giá của Ngài … khi họ đến nơi gọi là Golgôtha… (27,32-33);

Luca: “Khi họ dẫn Ngài đi, họ bắt giữ Simon Kyrênê, đặt thập giá lên anh ta để mang đi phía sau” (φέρειν ὄπισθεν) Đức Giêsu…khi họ đến nơi gọi là Cái Sọ” (Lc 23,26.33).

Xem ra, Mátthêu trung thành với Máccô khi dùng động từ “vác”. Đây là động từ Mátthêu dùng cho cả hai lần Đức Giêsu mời gọi trước đó: “Nếu ai muốn theo Ta (lit. “đến sau Ta”), người ấy hãy chối từ chính mình, vác thập giá mình và theo Ta” (Mt 16,24; Cf. Mc 8,34; Lc 9,23); “Ai không vác thập giá mình và theo Ta, thì không xứng với Ta” (Mt 16,24) trong khi Luca dùng động từ “mang”.

Hình ảnh Simon rất giống với hình ảnh người môn đệ mà Đức Giêsu mời gọi: vác lấy thập giá và đi theo sau. Trong các tác giả chỉ có Luca nhấn mạnh đến giới từ “phía sau” (“mang đi phía sau”). Tuy nhiên, các tác giả đều cho thấy rằng Simon Kyrênê chỉ bị ép buộc chứ không phải anh Ta muốn vác thập giá theo Đức Giêsu. Theo Máccô, Simon Kyrênê là cha của Alêxander và Ruphô, người từ miền quê lên và đi ngang qua đó. Mátthêu bỏ mọi chi tiết liên quan đến ông Simon, ngoại trừ gốc tích Kyrênê của ông. Có lẽ, Mátthêu thấy những chi tiết ấy không mấy liên quan.

Họ cho Người uống rượu với mật (Mc: “rượu pha mộc dược”) trước khi đóng đinh. Rượu pha mật đắng là một dung dịch có tác dụng làm giảm cơn đau của tử tội trước khi bị đóng đinh, nhưng Đức Giêsu chỉ nếm chứ không uống. Mátthêu thay “mộc dược” trong Máccô bằng “mật”, có lẽ nhằm mô tả sự cay đắng người ta trao cho Ngài. Điều này ngụ ý rằng Ngài chấp nhận chịu đau khổ đến tận cùng. Tấm bảng được đặt phía trên đầu Người cũng mang tính mỉa mai rõ ràng: “Đây là Giêsu vua Người Do Thái” (Mt 27,37). Vua Người Do Thái bị treo trên thập giá trong bộ dạng trần truồng quả là điều nhục nhã. Đức Giêsu bị đóng đinh giữa hai tên cướp chứng tỏ rằng Ngài bị liệt vào hàng kẻ cướp.

Trên thập giá, Đức Giêsu chịu cơn cám dỗ cuối cùng. Những người qua lại vừa thách thức vừa xúi dục Ngài xuống khỏi thập giá. Mátthêu lặp lại danh xưng “Con Thiên Chúa”: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy tự cứu mình đi, và hãy xuống khỏi thập giá” (Mt 27,40). Dường như ông muốn nối kết với trình thuật thử thách/cám dỗ, nơi Đức Giêsu vị chất vấn về căn tính Con Thiên Chúa của Ngài. Trong trình thuật cám dỗ quỷ đã hai lần dùng nại đến danh xưng “Con Thiên Chúa” để cám dỗ Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy truyền cho những hòn đá này thành những ổ bánh mì đi” (Mt 4,3); “Nếu ông là Con Thiên Chúa hãy ném mình xuống đi” (Mt 4,6). Các trưởng tế, kinh sư và kỳ mục (Mc: không có “kỳ mục”) nại đến danh xưng “vua IsraEL” để chế nhạo Ngài, thách thức Ngài xuống khỏi thập giá. Cũng như trong trình thuật cám dỗ, Đức Giêsu chứng minh Người là “Con Thiên Chúa” đích thực bằng thái độ vâng phục cho đến chết và chết trên thập tự. Nếu Ngài nghe theo lời xúi dục của Người khác và xuống khỏi thập giá thì công trình cứu chuộc xem như thất bại, đổ bể hết. Trong trình thuật về “cơn cám dỗ” trên thập giá, Mátthêu trích dẫn một câu Thánh Vịnh và sửa đổi đôi chút: “Nó đã trông cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Ngài hãy cứu nó đi nếu Ngài thương nó” (Mt 27,43). Câu trích được Mátthêu trích ra từ Thánh Vịnh 27: “Hắn tín thác nơi Chúa, Ngài hãy giải thoát nó, Ngài hãy giải cứu nó vì nó vui mừng trong Ngài”. Mátthêu bỏ mệnh đề “Ngài hãy giải cứu nó” và sửa mệnh đề “nó vui mừng trong Chúa” thành “nếu Ngài thương nó”. Ngoài ra Mátthêu còn thêm vào ghi chú lý do: “Vì nó đã nói: ‘Ta là Con Thiên Chúa’”. Theo Mátthêu lý luận của họ là:  Nếu Đức Giêsu thật là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa hẳn phải thương Ngài và cứu Ngài, nhưng Thiên Chúa không cứu Ngài nên Ngài không phải là Con Thiên Chúa. Thánh ý Thiên Chúa là Đức Giêsu phải chịu chết trên thập giá, và Đức Giêsu đã biết trước ý định ấy. Ngài đã báo trước bốn lần trong Mátthêu. Ngài cũng có buổi cầu nguyện đặc biệt chiến đấu nội tâm và cuối cùng Ngài đón nhận thánh ý của Cha.

Cuối cùng, cả Mátthêu và Máccô đều ghi nhận cả những tên cướp cùng bị đóng đinh vào thập giá với Ngài (Mc chỉ ghi: “người cùng chịu đóng đinh”) cũng sỉ nhục Ngài. Nghĩa là, bất cứ ai ở đó, cũng sỉ nhục Ngài, kể cả những kẻ có tội, bị xử án.

12. Con Loài Người  trút hơi thở (Mt 27,45-61);

Khi Đức Giêsu hấp hối, cảnh tượng đất trời đổi khác. Máccô mô tả một cảnh tối tăm bao phủ khắp mặt đất vào giờ thứ sáu (12 giờ trưa) cho đến giờ thứ chín (3 giờ chiều). Đức Giêsu kêu lớn tiếng vào giờ thứ chín: “Êli, Êli, lêma sabácthani”, nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mt 27,46). Mátthêu chuyển đổi “Êloi, Êloi”, chuyển âm “Thiên Chúa của tôi” trong tiếng Aram, trong Máccô (Mc 15,34) thành “Êli, Êli”, “Thiên Chúa của tôi” trong tiếng Hípri. Phần sau Mátthêu giữ nguyên tiếng Aram: “lema” (tại sao?) “sabácthani” “bạn bỏ rơi tôi). Cách dùng “Êli, Êli” của Mátthêu xem ra hợp với chi tiết tiếp theo hơn. Đức Giêsu kêu như vậy nên họ tưởng Ngài gọi ông Êlia. Họ lấy miếng bọt biển thấm đầy giấm và dùng cây sậy đưa lên miệng Ngài, có lẽ mục đích nhằm kéo dài sự sống để chờ xem Êlia có đến cứu Ngài không. Nhưng Ngài lại kêu lên một tiếng lớn rồi trút hơi thở (ἀφῆκεν τὸ πνεῦμα) (Mc: “tắt thở”- ἐξέπνευσεν, lit. thở lần cuối).

Lời than của Đức Giêsu được trích lại trong một thánh vịnh than vãn:

“Lạy Thiên Chúa của con, Lạy Thiên Chúa của con,

tại sao Ngài bỏ con?

Ơn cứu độ của con, cứ xa cách lời con kêu gào” (Tv 22,2)

Đây cũng chính là thánh vịnh nói ngôn sứ về việc họ chia nhau áo choàng của Đức Giêsu: “Chúng chia nhau áo ngoài của con, y phục con, chúng bắt thăm chia lấy” (Tv 22,19) được ghi lại trong cả bốn Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng Gioan (Mt 2735; Mc 15,24; Lc 23,34; Ga 19,23-24). Lời kêu gào của Đức Giêsu thường gây hiểu lầm rằng Ngài đang thất vọng. Tuy nhiên, thực sự Ngài đang cầu nguyện như một người Do Thái cầu nguyện trong cơn quẫn bách. Mọi thánh vịnh than vãn đều chứa đựng những lời than vãn, kêu gào, nhưng trong thánh vịnh than vãn luôn có niềm tín thác, sự ca ngợi dành cho Chúa dẫu vịnh gia có nhận được điều mình cầu xin hay chưa. Lời kêu gào của Đức Giêsu cho thấy hai điều: (i) Ngài thật sự đau đớn đến tận cùng và Ngài vẫn sẵn sàng đón nhận; (ii) Ngài cho thấy niềm tín thác tuyệt đối vào Chúa khi Ngài cầu nguyện với thánh vịnh than vãn.

Mátthêu thêm vào nhiều chi tiết thể lý sau tiếng kêu và trút hơi thở của Đức Giêsu. Ngoài chi tiết bức màn thánh điện bị xé làm đôi từ trên xuống dưới như Máccô mô tả, Mátthêu cho thấy nhiều chi tiết ly kỳ khác: “Đất rung chuyển và đá vỡ ra. Các mồ mả được mở tung và xác nhiều vị thánh đã an nghỉ được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, các ngài ra khỏi mộ, đi vào thành thánh và hiện ra với nhiều người” (Mt 27,51b-53). Mátthêu cho thấy cùng với cái chết của Đức Giêsu đất trời rung chuyển và sự sống lại của các thánh. Trong các tác giả sách Tin Mừng chỉ có Mátthêu có chi tiết này. Theo Mátthêu, đây chính là hiện tượng khác thường khiến cho người đại đội trưởng và những người cùng canh giữ với ông tuyên xưng Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa”. Mátthêu có khuynh hướng mô tả cùng sự kiện với những tình tiết sống động ly kỳ hơn. Trong trình thuật ngôi mộ trống, Mátthêu cũng mô tả “có sự động đất, thiên sứ của Chúa đi xuống từ trời, đến và lăn tảng đá ra, và ngồi lên nó. Vẻ bề ngoài của thiên sứ như ánh chớp, y phục trắng như tuyết” (Mt 28,2-3). Dữ liệu mà Mátthêu thêm vào ở cảnh Đức Giêsu chết (cc.51b-53) thường được gọi là dữ liệu khải huyền. Sự kiện Đức Giêsu chết là một sự kiện mang lại ơn cứu độ cho các vị thánh. Đó có lẽ là một cái nhìn khải huyền phảng phất các dữ liệu trong Edêkiel 37, nói về sự hồi sinh của các bộ xương khô.[3]

Xác nhận căn tính Đức Giêsu: “Quả thật Người này là Con Thiên Chúa”. Trước cảnh Đức Giêsu chết, có một lời tuyên xưng rất quan trọng. Tác giả Máccô ghi lại rằng “thấy Ngài tắt thở như vậy, viên đại đội trưởng nói: ‘quả thật, người này là Con Thiên Chúa!”. Mátthêu thêm vào ít nhất ba điều: (i) chủ thể tuyên xưng “người đại đội trưởng và những người cùng ông”; (ii) Điều mà họ thấy: “Động đất và các sự việc xảy ra”; (iii) cảm xúc: Sợ hãi. Khi thêm vào những chi tiết này, Mátthêu như muốn lý giải lý do tại sao viên đại đội trưởng lại tuyên xưng Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa” nơi Máccô. Đến lúc căn tính “Con Thiên Chúa” phải được xác nhận, nhưng điều lạ thay là lời xác nhận này là nằm trên môi miệng của một người ngoại. Có lẽ, Mátthêu cho biết một viễn ảnh là những người Do Thái chối từ và người ngoại thì lại đón nhận. Đức Giêsu đã được giới thiệu là Con Thiên Chúa trong trình thuật Phép Rửa. Chính quỷ cũng thừa nhận Ngài là “Con Thiên Chúa” khi nó bị Ngài trục xuất (Mt 8,28-34). Trong trình thuật cám dỗ (Mt 4,3.6), Quỷ thách thức Ngài chứng tỏ Ngài là Con Thiên Chúa.Trong trình thuật xử án, danh xưng “Con Thiên Chúa” đã là phương tiện để nhiều người mỉa mai (26,63; 27,40.43). Ông Phêrô đã thay cho các môn đệ tuyên xưng rằng “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Lúc ấy, Phêrô còn chưa hiểu rõ thế nào là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Có thể nói rằng, chính qua cái chết, căn tính “Con Thiên Chúa” mới được tỏ lộ cách rõ ràng hơn cả. Ngài là Người Con, tự hủy, tự hiến và vâng lời cho đến chết. Con Thiên Chúa phải đổ máu mình ra cho nhiều người được ơn tha thứ. Lần đầu tiên Đức Giêsu được Chúa Cha công bố là “Con” khi Ngài tự hạ bước xuống dìm trong sông Giorđan cùng với dòng người tội lỗi. Lần thứ hai Chúa Cha xác nhận Đức Giêsu là “Con” trong biến cố biến hình, cũng là lúc Đức Giêsu đang bàn thảo với Môsê và Êlia về cuộc tự hiến tại Giêrusalem. Rõ ràng, căn tính “Con Thiên Chúa” của Đức Giêsu chỉ được bộc lộ trọn vẹn nơi mầu nhiệm tự hủy, tự hiến. Mầu nhiệm nhập thể đã là một mầu nhiệm tự hiến và có thể nói rằng mục đích cuối cùng của việc nhập thể là để tự hủy tự hiến mạng sống vì nhân loại: “Con Loài Người đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và trao ban mạng sống mình vì giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20,28; Mc 10,45).

Các nữ môn đệ. Các tác giả ghi lại sự hiện diện cách đặc biệt của các phụ nữ trên đồi Golgôtha, trong khi các Tông Đồ thì biến mất. Những người phụ nữ được mô tả bằng động từ “đi theo”: “Họ đi theo Đức Giêsu” (ἠκολούθησαν τῷ Ἰησοῦ) từ Galilê. Điều này ngụ ý rằng họ là những nữ môn đệ. Dẫu không có thân phận chính thức như Nhóm Mười Hai, họ chứng tỏ mình là những môn đệ đích thực qua hành trình theo Chúa liên tục, kiên trì đến cuối cùng. Những phụ nữ này được kể tên cụ thể. Ngoài Maria Magđala và Maria mẹ của Giacôbê (Mc: Giacôbê thứ) và Giuse (Mc: Giôsê), Mátthêu thêm vào “mẹ các con ông Dêbêđê”, bỏ đi bà “Salômê” và nhóm chung “nhiều bà khác” (Mc: Maria mẹ Giacôbê thứGiôsê, cùng với Salômê, nhiều người nữ vô danh cùng đi lên với Ngài từ Giêrusalem).

13. Mai táng Con Loài Người (Mt 27,57-66).

Trong cảnh mai táng Con Loài Người, nhân vật Giuse Arimathê được nhắc đến lần đầu và lần duy nhất trong toàn bộ các sách Tin Mừng. Tuy được nhắc lần đầu nhưng ông được kể đến như là người đang mong đợi Nước Thiên Chúa từ lâu. Máccô nhấn mạnh vị thế quan trọng của ông như là “thành viên có thể giá trong Hội Đồng”. Nghĩa là, không phải tất cả các thành viên của Hội Đồng Do thái đều đồng thuận bản án tử oan cho Đức Giêsu. Mátthêu không bỏ đi phần mô tả ông Giuse như là một thành viên Hội Đồng có thế giá, nhưng lại nhấn mạnh đến địa vị “giàu có” của ông và đặc biệt nhấn mạnh đến vị thế người môn đệ: “Cũng là một môn đệ Đức Giêsu” (Mt 27,57). Tác giả Gioan mô tả nhiều hơn về người môn đệ này như sau: “Ông là một môn đệ của Đức Giêsu nhưng cách bí mật vì nỗi sợ những người Do Thái” (Ga 19,38). Đặc tính “giàu có” có lẽ phù hợp với việc ông có một huyệt đá riêng của mình và ông đã đặt thi hài Đức Giêsu vào đó (Mt 27,60). Máccô chỉ cho biết là có một huyệt đá được đục sẵn, nhưng không nói của ai.

Hình ảnh môn đệ Giuse xuất hiện trong cảnh an táng của Đức Giêsu trong Mátthêu vừa cho thấy một sự an ủi nào đó đối với cái chết cô đơn của Ngài, vừa cho thấy sự nghịch lý là không một ai trong số các môn đệ có danh phận công khai và gần gũi nhất xuất hiện.

Cách tẩn liệm Đức Giêsu rất đơn giản: Xác Ngài chỉ được quấn vào một tấm khăn liệm. Hình ảnh này thật đơn sơ có thể tương tự như hình ảnh Đức Giêsu mới sinh, bọc tã đặt nằm trong máng cỏ mà Luca đã mô tả (Lc 2,7). Hình ảnh ông Giuse lăn tảng đá vào cửa mộ, đối lại với hình ảnh “thiên sứ lăn tảng đá ra lại” trong trình thuật “ngôi mộ trống” (Mt 28,2).

Cuối cùng là hình ảnh các nữ môn đệ: Maria Magđala và một Maria khác. “Maria khác” theo Máccô là “Maria mẹ của Giôsê” được nói trước đó trong cảnh Đức Giêsu tắt thở. Mátthêu sửa lại đôi chút về hoạt động của hai bà này. Trong khi Máccô nhấn mạnh đến việc họ “chú ý nhìn xem chỗ đặt Người”, Mátthêu nói rằng họ “ngồi đối diện với ngôi mộ”. Phải chăng Mátthêu muốn mô tả một hình ảnh cầu nguyện của các bà, thay vì chỉ là hình ảnh tò mò để ý đến chỗ đặt Người như các bà của Máccô? Điều mà chúng ta có thể thấy chắc chắn là các bà đã theo chân Đức Giêsu đến cùng, không những đến lúc Ngài trút hơi thở cuối cùng, mà còn đến lúc Ngài đã nằm yên trong huyệt đá, các bà vẫn ở đó, bao lâu thì không rõ. Rồi, cũng hai bà này lại đến thăm mộ vào sáng bình minh ngày thứ nhất trong tuần, nghĩa là ngay lập tức sau ngày nghỉ lễ. Mátthêu có sự nối kết và thống nhất hai bà ngồi trước mộ Chúa và hai bà đến thăm mộ Chúa. Máccô thì hơi linh động hơn: Hai bà “nhìn xem nơi họ đã đặt Người” là Maria Magđala và Maria mẹ của Giôsê; còn các bà đi ra mộ để “xức dầu” Chúa là:  Maria Magđala, Maria mẹ của Giacôbê, và Salômê. Dẫu khác nhau chút ít về các nhân vật khác, nhưng Maria Magđala là một ngoại lệ. Bà luôn hiện diện và đứng đầu trong danh sách các người nữ môn đệ.

Chuyện lính canh mồ (27,62-66). khác với tất cả các tác giả khác, Mátthêu có câu chuyện về lính canh mồ Chúa. Các trưởng tế và những người Pharisêu nhớ lại lời của Đức Giêsu nói là “sau ba ngày, Ta sẽ sống lại”. Họ đến xin Philatô cho canh giữ mồ cho đến ngày thứ ba kẻo các môn đệ trộm mất xác Chúa và nói với dân rằng “Ngài đã từ cõi chết sống lại”. Họ cho rằng Đức Giêsu lừa dối khi nói như vậy, và các môn đệ có nguy cơ tác hợp cho việc nói dối này. Và nhiệm vụ của họ là phải ngăn chặn những nguy cơ của vụ lừa dối này. Cùng với việc bố trí lính canh, họ còn niêm phong tảng đá đậy cửa mồ.

Câu chuyện này được tiếp tục và hoàn tất trong trình thuật Phục Sinh, trong đó, chính các trưởng tế cùng với các kỳ mục mới là người nói dối và bắt các lính canh nói dối, chứ không phải Đức Giêsu và các môn đệ. Lính canh chứng kiến tất cả sự việc xảy ra như là “động đất”, “thiên sứ từ trời xuống, lăn tảng đá ra và ngồi lên trên”, “bề ngoài sáng chói và y phục trắng như tuyết”. Họ cũng nghe thông điệp Phục Sinh: “Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh, Người không còn ở đây nữa, vì Ngài đã phục sinh nhưng Ngài đã nói, hãy đến và xem nơi đặt Ngài” (Mt 18,2-6). Khi nghe lính canh kể lại sự việc đã xảy ra, các trưởng tế đã họp bàn với các kỳ mục cho lính canh một số tiền và nói: “hãy nói cho dân, các môn đệ của hắn đã đến lúc ban đêm và trộm xác của hắn trong khi chúng tôi đang ngủ” (Mt 28,13). Lính canh đã nhận tiền và làm như họ đã được chỉ dẫn. Và Mátthêu ghi chú rằng “câu chuyện này đã lan ra giữa những người Do Thái cho đến ngày nay” (Mt 28,15). Đây là cách thức Mátthêu lý giải tại sao giữa những người Do Thái là có cách giải thích sai lệch về “ngôi mộ trống”.

Kết luận

Mátthêu cùng chia sẻ cấu trúc câu chuyện “vụ án Đức Giêsu” với Máccô, nhưng chỉnh sửa các dữ liệu và thêm vào một số chi tiết và thậm chí một đoạn riêng vì dụng ý thần học của mình.

Trước hết, Mátthêu cho biết Đức Giêsu loan báo về cuộc Khổ Nạn một lần nữa hai ngày trước khi nó diễn ra. Tác giả nhấn mạnh đến sự chủ động, khả năng toàn tri và toàn hiến của Đức Giêsu trong Cuộc Khổ Nạn này.

Liên quan đến Giuđa. Giuđa của Mátthêu chủ động mặc cả mối lợi để nộp Thầy (Mt 26,15) và họ đã hứa cho ông ba mươi đồng bạc. Giuđa của Máccô không đề cập đến lợi ích, nhưng họ tự hứa cho ông tiền (Mc 14,11). Trong Mátthêu, Giuđa xem ra ngoan cố hơn, vì Đức Giêsu đã chỉ đích danh ông là kẻ nộp Người, nhưng Giuđa vẫn không xoay chuyển. Khi Giuđa hỏi “Thưa Rabbi, không phải con chứ?” Người đáp: “Chính con nói đó” (Mt 26,25).

Trong Mátthêu, yếu tố “tha tội” được nhấn mạnh như mục đích của “máu giao ước đổ ra”: “Máu giao ước đổ ra cho nhiều người vì ơn tha thứ tội lỗi” (Mt 26,28). Mátthêu đã cho biết rằng thiên sứ truyền cho Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu vì “Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Đức Giêsu cứu dân Người khỏi tội lỗi bằng chính máu vô tội của Ngài.

Như thường lệ, Mátthêu nhấn mạnh đến việc hoàn trọn lời Sách Thánh. Ông trích dẫn nhiều lần Kinh Thánh Cựu Ước trong trình thuật Thương Khó. Đức Giêsu của Mátthêu mặc khải ngay từ đầu rằng toàn bộ vụ án này xảy ra là để “điều được chép được tròn đầy” (Mt 26,54). Một người cùng đi với Ngài đã rút gươm phản ứng khi Ngài bị bắt. Đức Giêsu cho biết rằng Chúa Cha có thể gửi “mười hai đạo binh thiên sứ” (26,53) đến cho Ngài, nếu Ngài cầu xin. Nhưng Ngài hoàn toàn tự hiến.

Về vụ chối Chúa. Phêrô của Mátthêu chối Chúa sớm hơn, nhanh hơn Phêrô của Máccô. Ông chối Chúa ba lần trước khi gà gáy (Mt 26,34.74), trong khi Phêrô của Máccô chối Chúa ba lần trước khi gà gáy lần thứ hai (Mc 14,30.72).

Mátthêu cố gắng viết tiếp kết cục câu chuyện Giuđa kẻ nộp Ngài. Nó liên quan đến địa danh Ruộng Máu, một vùng đất chôn cất ngoại kiều. Trong Mátthêu, người ta mới biết được là Giuđa đã hối hận và trả lại toàn bộ số bạc, mối lợi mà giới lãnh đạo Do Thái đã trả cho ông trong phi vụ nộp Thầy. Trước đó, Giuđa đã mặc cả về mối lợi mà họ sẽ cho ông trong phi vụ nộp Thầy, nhưng khi thầy bị kết án, ông chẳng màng đến nó nữa. Qua cái chết tự treo cổ, có thể nói rằng ông đã sẵn sàng trả giá cho lỗi lầm to lớn của mình, lỗi lầm mà chính ông đã thừa nhận: “Nộp máu vô tội”. Tuy nhiên, đó hẳn không phải là một giải pháp lý tưởng, thậm chí có thể nói là một giải pháp thiếu tin tưởng vào lòng thương xót của Thầy. Nó trái ngược với giải pháp của Phêrô, một người phạm một lỗi lầm nghiêm trọng không kém.

Trong Mátthêu hình ảnh Đức Giêsu vô tội được tô đậm hơn rất nhiều. Giuđa Istariốt tuyên bố Ngài là “máu vô tội” (27,4). Mátthêu cho thấy cả hai vợ chồng Tổng trấn Rôma nhận thấy Đức Giêsu vô tội. Vợ của Philatô công bố Ngài là “người công chính” (Mt 27,19). Philatô biết rằng họ “chỉ nộp Ngài vì ghen tỵ”, nên ông mang Barabba, một tên cướp khét tiếng ra để họ có thể chọn giết Barabba mà tha cho Đức Giêsu. Philatô đã cố gắng tìm cách giải thoát cho bị can vô tội, nhưng ông bất lực trước sức ép của đám đông. Chỉ Mátthêu ghi lại cảnh ông rửa tay và tuyên bố mình “vô can với máu này” và làm rõ trách nhiệm của đám đông “các ngươi tự mà lo lấy” (Mt 27,24). Và dân chúng sẵn sàng nhận trách nhiệm ấy.

Trong Mátthêu, người ta thấy được hình ảnh một đám đông “máu lửa” bất chấp mọi hậu quả, miễn là giết được Đức Giêsu: “Cứ để máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi” (Mt 27,25). Song song với hình ảnh “máu lửa” của dân là hình ảnh một tổng trấn Rôma bất lực trong cố gắng giải thoát cho bị can vô tội. Chỉ Mátthêu ghi lại cảnh ông rửa tay và tuyên bố mình “vô can với máu này” và làm rõ trách nhiệm của đám đông “các ngươi tự mà lo lấy” (Mt 27,24).

Trong trình thuật của Mátthêu người bình dân có thể hiểu ngay là tại sao người đại đội trưởng và những người cùng canh gác với ông tuyên xưng Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa”. Biến cố rung chuyển của đất và đá vỡ ra. Tuy thế, đây là một tuyên xưng về thần học nên người tin cần phải nhìn sâu vào ý nghĩa căn tính “Con Thiên Chúa” nơi Đức Giêsu. Ngài là một Người Con được Cha ban tặng cho thế gian, và Ngài đã vâng phục, tự hiến mạng sống làm giá chuộc nhiều người. Khoảnh khắc Ngài chết đau thương chính là thể hiện căn tính này tròn đầy nhất.

Qua Mátthêu, người ta biết ông Giuse Arimathêa, người đã an táng Đức Giêsu là một người giàu có, và nhất là, ông cũng là một môn đệ. Trò an táng Thầy, âu cũng là một niềm an ủi.

Và cuối cùng, chỉ có trong Mátthêu người ta mới hiểu được rằng các trưởng tế và kỳ mục cũng biết Đức Giêsu đã phục sinh. Chính những người lính mà họ cắt đặt niêm phong tảng đá cửa mộ và canh giữ đã chứng kiến tất cả và đã kể lại cho họ. Tuy nhiên, vì không muốn tin, họ đã xuyên tạc, mua chuộc những lính canh để họ rao truyền rằng các môn đệ Đức Giêsu đã trộm xác Chúa, và nói rằng Chúa đã phục sinh.

Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

 



[1] Khi tiên báo về mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Giêsu thường dung danh xưng “Con Loài Người”. Dịch sát nghĩa “Con trai của loài người”. Song đối với danh xưng này là danh xưng “Con Thiên Chúa”. Đức Giêsu vừa là Con Loài người vừa là Con Thiên Chúa. Ở đây, có lẽ Ngài nhắm đến căn tính con người, với thân xác có thể chết, và chính trong thân phận con người mà Ngài có thể liên lụy, mang lấy vết thương, chịu chết thể xác để chuộc tội cho con người.

[2] Giống với lời chào thiên sứ dành cho Đức Maria: χαῖρε, κεχαριτωμένη (Lc 1,28) (Lc 1,28); χαῖρε, ῥαββί, (Mt 26,49); χαῖρε, βασιλεῦ τῶν Ἰουδαίων (Mt 27,29)

[3] Donald Senior, “The Death of Jesus and resurrection of the Holy ones”, The Catholic Biblical Quaterly [vol.38:1976] 321.

No comments:

Post a Comment