Tuesday, 31 March 2026

ĐẤNG VÔ TỘI CHỊU KẾT TỘI. Phân Tích Tái Biên Tập Trình Thuật Thương Khó theo Tác Giả Mátthêu (Mt 26,1 – 27,66)

         

Khi nghiên cứu Tin Mừng Mátthêu theo hướng nguồn văn. Các học giả khám phá ra rằng có rất nhiều sự trùng hợp giữa bản văn Mátthêu với bản văn Máccô và với bản văn Luca (ba Tin Mừng giống nhau trong nhiều trình thuật). Ngoài ra, khá nhiều câu chuyện mà tác giả Mátthêu kể cũng có nhiều điểm giống với những câu chuyện trong Tin Mừng Luca (hai Tin Mừng có nhiều câu chuyện giống nhau). Điều này dẫn đến kết luận rằng giữa ba tác giả này có chung nguồn văn trước khi họ soạn thảo Tin Mừng của riêng mình. Tuy nhiên, ai viết trước và ai viết sau? Ai lấy nguồn văn của ai? đã là (và có lẽ vẫn còn) những vấn nạn được các học giả Tân Ước tranh luận sôi nổi. Một giả thuyết khá ổn định và được nhiều sự đồng thuận giữa các chuyên gia Thánh Kinh qua mọi thời đại là “thuyết hai nguồn văn”. Giả thuyết này lý giải rằng sự giống nhau giữa ba sách Tin Mừng này là do họ cùng chia sẻ hai nguồn văn chính (nguồn Máccô và Q). Thứ nhất, những bản văn giống nhau giữa cả ba sách Tin Mừng đều xuất phát từ nguồn chung là của tác giả Máccô. Nghĩa là, Máccô viết trước, được xem như nguồn gốc cho hai tác giả còn lại. Thứ hai, những câu chuyện, hay lời giảng giống nhau gữa Matthêu và Luca cùng đến từ một nguồn chung, thường được gọi là Q. Thật ra, chữ Q là chữ cái đầu của chữ Quelle trong tiếng Đức có nghĩa là “nguồn”. Lối chú giải theo cách thức tái biên tập rất hữu ích cho việc nghiên cứu Tin Mừng Nhất Lãm. Nhờ phương pháp này, đc giả có thể nhận ra đâu là bản văn nguồn lấy từ Máccô, và đã biến đổi ra sao và nhằm mục đích, hay chuyển tải ý nghĩa thần học nào. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một cách đọc trình thuật Khổ Nạn theo tác giả Matthêu nhằm làm nổi bật những điểm thần học về Khổ Nạn của Đức Giêsu theo nhãn quan của Matthêu. Bài nghiên cứu tập trung vào bản văn Mt 26,1 – 27,66 đối chiếu với bản văn nguồn Mc 14,1 – 15,47. Ngoài phần dẫn nhập nói về âm mưu nhóm lãnh đạo (Mt 26,1-5), trình thuật Khổ Nạn được chia thành mười ba phân khúc như sau: 1. Con Loài Người chịu xức dầu (26,6-13); 2. Giuđa nộp Con Loài Người (Mt 26,14-16); 3. Con Loài Người cử hành Lễ Vượt Qua (Mt 6,17-29); 4. Con Loài Người ưu phiền tại vườn Ghethsêmanê (26,30-46); 5. Con Loài Người chịu bắt giữ (Mt 26,47-56); 6. Con Loài Người chịu xét xử trước Thượng Hội Đồng (Mt 26,57-68); 7. Phêrô chối bỏ Con Loài Người (Mt 26,69-75); 8. Con Loài Người chịu xét xử trước tổng trấn Rôma, Philatô – Cái chết của kẻ nộp Con Loài Người, Giuđa (27,1-14); 9. Con Loài Người chịu kết án (Mt (27,15-26); 10. Con Loài Người chịu tra tấn và nhục mạ (Mt 27,27-31) 11. Con Loài Người đi hành trình thập tự và chịu đóng đinh (Mt 27,32-44); 12. Con Loài Người  trút hơi thở (Mt 27,45-56); 13. Con Loài Người được mai táng (Mt 27,57-66).

Dẫn nhập (26,1-5)

Giờ đây, chúng ta cùng nhau quan sát trình thuật Khổ Nạn theo cái nhìn của Mátthêu đối chiếu với cái nhìn căn bản của Máccô. Trong trình thuật của mình, Mátthêu đã thêm gì và bỏ gỉ, hay sửa đổi điều gì, và đâu là dụng ý thần học của tác giả này?

Trong phần dẫn nhập của trình thuật Khổ Nạn, các tín hữu được giới thiệu về âm mưu, cũng như đối tượng đứng đằng sau vụ án Con Loài Người. Nhóm người được liệt kê cụ thể là các trưởng tế và kỳ mục của dân, cùng Thượng Tế đương nhiệm là Caipha. Đây là nhóm lãnh đạo tối cao của Do Thái và nằm trong nhóm thành viên của Hội Đồng Do Thái.

Nhìn bề ngoài, người ta có thể thấy rõ đây là âm mưu của nhóm lãnh đạo Do Thái, những kẻ muốn loại trừ Đức Giêsu bằng cách đẩy Ngài đến chỗ bị kết án tử. Tuy nhiên, tác giả Matthêu đã tinh tế cho thấy đây hoàn toàn là kế hoạch của Thiên Chúa và Đức Giêsu biết rõ mồn một điều này. Trước khi nói đến âm mưu của nhóm lãnh đạo, tác giả đã ghi lại việc Đức Giêsu tiên báo về cuộc Khổ Nạn lần thứ tư: “Con Loài Người[1] sẽ bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá” (Mt 26,2).  Ghép với ba lần tiên báo trước đó (Mt 16,21; 17,22-23; 20,17-19). Thời gian cuộc Khổ Nạn sẽ diễn ra được Đức Giêsu báo trước là vào dịp Lễ Vượt Qua. Ghi chú thời gian này hết sức ý nghĩa. Bởi lẽ, Lễ Vượt Qua là biến cố trọng yếu dân Chúa tưởng nhớ và tán tụng Chúa vì Ngài đã giang cánh tay mạnh mẽ giải thoát họ khỏi nô l Pharaô và Ai cập. Một sự kiện không thể thiếu trong dịp Lễ Vượt Qua là một con chiên tinh tuyền khôngtỳ vết bị giết. Yếu tố này liên hệ rất gần gũi với mầu nhiệm tự hiến của Đức Kitô, Con Chiên Vượt Qua, tinh tuyền, vô tội, chịu sát tế để chuộc tội cho nhân loại, mà trước hết là người IsraEL.

Khi mô tả Đức Giêsu thông báo về Cuộc Khổ Nạn ngay trước lúc sự việc xảy ra, Mátthêu có dụng ý thần học rất rõ nhấn mạnh đến sự hiểu biết, chủ động và làm chủ của Đức Giêsu trong vụ án – Mầu nhiệm Khổ Nạn này. Đó không đơn thuần là âm mưu và ý đồ của nhân loại. Nếu Đức Giêsu không cho phép và không tự hiến thì không thế lực nhân loại nào có thể làm được. Máccô chỉ đề cập đến nhóm các trưởng tế và kinh sư, trong khi Mátthêu còn kể tên vị Thượng Tế Caipha. Điều này cho thấy tính toàn thể trong Hội Đồng Do Thái và trách nhiệm của vị đứng đầu một cách rõ ràng hơn. Mátthêu cũng cho biết cụ thể là Đức Giêsu sẽ “chịu đóng đinh vào thập giá”, đúng y chang hình án mà họ áp dụng cho Ngài sau đó. Ba lần tiên báo trước đó, hai lần đầu Đức Giêsu chỉ nói Ngài “chịu nhiều đau khổ… và bị giết chết” (16,21; “họ sẽ giết Ngài”, 17,23; “kết án tử hình Ngài”; chỉ đến lần thứ ba Ngài nói rõ hơn rằng Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại và họ sẽ nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh Ngài vào Thập Giá (Mt 20,19). Rõ ràng, Matthêu nhắc lại và nhấn mạnh đến cách thức Ngài bị giết - “chịu đóng đinh vào thập giá” cách cụ thể.

Mátthêu lấy lại ý tưởng của Máccô về một âm mưu dùng xảo kế và lén lút của nhóm lãnh đạo. Họ bàn tính với nhau “không làm trong ngày lễ, kẻo gây náo loạn trong dân”. Cách làm này cho thấy họ gián tiếp nhìn nhận vị thế của Đức Giêsu trong lòng dân chúng, và nếu bắt Đức Giêsu, họ có thể làm trái lòng dân.

1. Con Loài Người chịu xức dầu (26,6-13)

Khác với Luca, người đặt câu chuyện “xức dầu cho Chúa” ngoài bối cảnh trình thuật Vượt Qua với một dụng ý khác (Lc 7,36-38) – nhấn mạnh lòng hoán cải của người phụ nữ và lòng thương xót của Chúa. Mátthêu khá trung thành với Máccô khi vẫn đặt trình thuật “xức dầu” vào đầu trình thuật Vượt Qua. Nhân vật xức dầu thơm cho Đức Giêsu là một người phụ nữ vô danh. Trong Mátthêu, nhân vật chất vấn cách tiêu cực về sự uổng phí bình dầu đắt giá được đổ lên đầu Đức Giêsu là chính các môn đệ, trong khi đó, Máccô chỉ nói là có mấy người. Mátthêu như muốn cụ thể hóa về tâm thức mù tối và sai lầm của các môn đệ. Chính các môn đệ, những người được Đức Giêsu dạy nhiều lần về mầu nhiệm Khổ Nạn, nhưng vẫn rất mù tối. Ở đây, họ hoàn toàn không hiểu được ý nghĩa của việc người phụ nữ làm, đó là xức dầu lên thân xác Chúa với mục đích là nhắm đến việc mai táng Chúa. Hơn nữa, khi Mátthêu, thay đổi nhân vật “một vài người” trong Máccô thành “các môn đệ”, ông cũng có thể ngụ ý rằng trong bối cảnh này chỉ có các môn đệ và Đức Giêsu, không có ai khác. Mátthêu ghi chú thêm bối cảnh là Đức Giêsu “đang dùng bữa” trong nhà ông Simon, có thể là không có khách mời nào khác, vì không thấy đề cập đến khách mời.

Trình thuật xức dầu cho Chúa được đặt ở đây, ngụ ý rõ ràng đến cái chết và mai táng của Đức Giêsu. Xức dầu trước cuộc Khổ Nạn vừa tiên báo cái chết thật của Chúa, vừa cho thấy sự nghiệt ngã, bất tiện, thiếu thốn trong thời khắc an táng, vì xác Chúa chỉ được bọc liệm đơn giản và đặt cách vội vã vào trong huyệt đá (Mt 27,59).

2. Giuđa nộp Con Loài Người (Mt 26,14-16)

Trong khi nhóm các lãnh đạo Do Thái có một âm mưu bắt Đức Giêsu, thì trong nhóm môn đệ cũng có kẻ toan tính nộp Con Loài Người. Giuđa đã được định danh là “kẻ nộp Người” khi ông được liệt kê trong nhóm Mười Hai (Mt 10,4). Ở đây, Mátthêu giữ nguyên ý tưởng rằng Giuđa chủ động đi gặp các trưởng tế với mục đích là để nộp Người. Tuy nhiên, cách mô tả lợi ích của phi vụ này là khác với Máccô. Máccô viết rằng các trưởng tế chủ động hứa cho Giuđa tiền khi biết rằng Giuđa đến gặp họ để nộp Đức Giêsu. Matthêu kể rằng Giuđa chủ động mặc cả mối lợi: “Các ông muốn cho tôi cái gì để tôi nộp ông ấy cho các ông?” và số tiền họ ấn định là ba mươi đồng bạc. Như thế, Mátthêu nhấn mạnh đến mục đích nộp Thầy của Giuđa là vì lợi lộc cá nhân, cụ thể là tiền bạc. Con số ba mươi đồng bạc này sau đó được Mátthêu giải thích là để ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmia: “Và họ nhận ba mươi đồng bạc, giá của Người, giá đã được con cái IsraEL ấn định trên Người” (Mt 27,9). Thật ra, lời này được trích lại trong sách Dacaria chứ không phải Giêrêmia như Mátthêu nói (Dcr 11,13: “Chúa phán với tôi: ‘Ném nó cho người thợ gốm’, giá mà tôi được họ tính. Vì thế, tôi đã lấy ba mươi đồng bạc và ném chúng vào nhà của Chúa, cho người thợ gốm”).

3. Con Loài Người cử hành Lễ Vượt Qua (Mt 6,17-29).

Ghi chú đầu tiên khác biệt giữa Máccô và Mátthêu là việc giải thích ngày đầu tiên của tuần lễ Bánh Không Men như là “ngày người ta sát tế chiên Vượt Qua”. Mátthêu không ghi nhận giải thích này có lẽ vì theo truyền thống Tuần Lễ Bánh Không Men tiếp theo ngay sau ngày Lễ Vượt Qua. Ngày sát tế chiên Vượt Qua là ngày trước Lễ Vượt Qua. Như thế, ngày “sát tế Chiên Vượt Qua” không thể là ngày đầu tiên của Tuần Lễ Bánh Không Men được. Mátthêu lược bỏ giải thích này có thể vì ông thấy nó không hợp với truyền thống cử hành. Theo truyền thống trong sách Xuất Hành, Chiên Vượt Qua được giết vào ngày mười bốn tháng Nissan, vào lúc chạng vạng, và đêm hôm đó người ta mới ăn Lễ Vượt Qua (Xh 12,6; x. Ga 14,14-16).

Điều khác biệt đáng kể thứ hai là Mátthêu đề cập đến việc Đức Giêsu nói về thời của Ngài đã gần kề. Matthêu dường như muốn nhắc đến thời điểm cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu đã gần kề. Tác giả Máccô có nhắc đến căn phòng lầu trên mà theo truyền thống của Luca đây là nơi Đức Giêsu dùng tiệc vượt qua, nơi các Tông Đồ và các tín hữu sơ khai quy tụ sau khi Đức Giêsu về trời (Cv 1,13). Mátthêu không nhắc đến căn phòng này bởi lẽ theo truyền thống Mátthêu, Galilê mới là điểm hẹn. Sau Phục Sinh các môn đệ trở về Galilê đến ngọn núi mà Đức Giêsu đã định cho họ và họ gặp Ngài ở đó. Chính tại đó, Đức Giêsu Phục Sinh trao ban sứ vụ môn đệ hóa muôn dân cho các Tông Đồ (Mt 28,16-20).

Điều khác biệt thứ ba là danh tính kẻ nộp Thầy. Tác giả Mátthêu để cho Giuđa lên tiếng cách cá nhân sau khi Đức Giêsu cho biết cách trịnh trọng rằng một người trong Nhóm Mười Hai sẽ nộp Người; trong khi đó, Máccô chỉ cho biết là từng người một hỏi “không phải con đấy chứ?” Giuđa của Matthêu cũng hỏi: “Không phải con chứ, thưa Rabbi” và Đức Giêsu đáp lại: “Chính con nói đó”. Cuộc đối thoại này cho thấy sự trơ trẽn, chai cứng trong lương tâm của Giuđa. Trước đó, ông đã đi gặp các trưởng tế và kinh sư. Họ đã hứa cho ông ba mươi đồng bạc cho phi vụ nộp Thầy. Tuy nhiên, khi các tông đồ từng người một hỏi Đức Giêsu thì ông cũng vờ như mình không biết gì, và không ai biết gì về âm mưu của ông. Dù Đức Giêsu đã bật mí là “kẻ cùng Ta chấm tay vào đĩa” nhưng có vẽ như chưa rõ là ai. Mátthêu cho thấy Đức Giêsu chỉ đích danh Giuđa: “Chính con nói đó”. Có lẽ câu trả lời của Đức Giêsu nhằm cảnh tỉnh ông, cho ông cơ hội quay về. Thế mà, ông vẫn đi theo chọn lựa của mình.

Điều khác biệt thứ tư nằm trong lời mời trên bánh Mátthêu thêm vào động từ mệnh lệnh “hãy ăn”, trong khi trong Máccô Đức Giêsu chỉ mời gọi “hãy cầm lấy” mà thôi. Mátthêu gắn bó nhiều hơn với truyền thống về Bí Tích Thánh Thể. Các tín hữu thật sự ăn Mình Thánh Chúa Kitô, chứ không chỉ cầm. Thứ năm, trong lời trên chén, Mátthêu sửa đổi sự kiện “tất cả đều uống từ chén đó” thành mệnh lệnh của Đức Giêsu: “Tất cả các con hãy uống từ chén này”. Máccô mô tả hành động “uống” của các môn đệ, còn Mátthêu nhấn mạnh đến lời mời gọi của Đức Giêsu. Điều này phù hợp với hình ảnh Đức Giêsu là một ông Môsê mới, là thầy dạy theo mô hình thần học của Mátthêu.

Điều khác biệt tiếp theo liên quan đến lời trên chén, đó là hiệu quả của máu giao ước. Đức Giêsu của Máccô giải thích rằng “Máu giao ước, đổ ra cho nhiều người” (Mc 14,23), Mátthêu thêm vào hiệu quả được tha tội: “Đổ ra cho nhiều người để được ơn tha tội” (Mt 26,29). Trong trình thuật Giáng Sinh, Mátthêu đã ghi lại lời căn dặn của thiên sứ dành cho ông Giuse rằng phải đặt tên con trẻ là Giêsu với lý do là “vì Người sẽ cứu dân mình khỏi tột lỗi của họ” (Mt 1,21). Đây là tên gọi mô tả sứ vụ thiết yếu của Đức Giêsu.

4. Con Loài Người ưu phiền tại vườn Ghethsêmanê (26,30-46)

Trên con đường ra núi Ôliu Đức Giêsu đã báo một tin động trời rằng trong đêm ấy tất cả các môn đệ đều vấp phạm vì Ngài (Mt 26,31). Phêrô của Mátthêu xem ra nhất quyết mạnh mẽ hơn Phêrô của Máccô. Phêrô của Matthêu dùng trạng từ “không bao giờ” để phủ nhận hoàn toàn khả năng vấp ngã của mình: “Dù mọi người sẽ vấp phạm vì Ngài, nhưng con đây không bao giờ vấp phạm” (Mt 26,33). Lời cảnh báo về việc Phêrô chối thầy cũng ẩn chứa sự khác biệt đáng kể. Giêsu của Máccô bảo rằng trước khi gà trống gáy hai lần thì Phêrô sẽ chối Thầy ba lần. Việc so sánh số lần chối của Phêrô nhiều hơn số lần gà trống gáy cho thấy cấp độ nhiều của hành động chối Thầy. Mátthêu thì dùng cách khác “trước khi gà trống gáy, con sẽ chối Ta ba lần” (Mt 26,34), nghĩa là gà chưa gáy, gáy không lần thì Phêrô đã chối Thầy đến ba lần. Cấp độ chối Thầy của Phêrô sớm hơn và nhanh hơn, ngược lại với lời khẳng định “không bao giờ vấp phạm” ông mới nói trước đó ít lâu.

Về căn bản, trong buổi cầu nguyện đặc biệt tại vườn Ghethsêmani trước khi chịu bắt giữ, Đức Giêsu đã cầu nguyện riêng ba lần. Còn các môn đệ thì luôn ở trong trình trạng mệt mỏi và ngủ li bì. Trong lần cầu nguyện thứ hai, Mátthêu ghi lại nội dung lời cầu nguyện, còn Máccô thì chỉ ghi chú rằng Ngài “nói những lời như lần trước” (Mc 14,39). Mátthêu cho thấy sự khác biệt và tiến triển giữa hai lần cầu nguyện của Đức Giêsu. Lần thứ nhất, Đức Giêsu xin cho “chén này qua khỏi con, nhưng không phải như Con muốn mà như Cha muốn”; lần thứ hai Đức Giêsu đặt giả định “nếu chén này không thể qua đi trừ khi Con uống, thì xin cho ý Cha được thực hiện” (Mt 26,42). Trong lần thứ hai Đức Giêsu nhấn mạnh đến yếu tố đón nhận, xin cho ý Cha được thực hiện. Mátthêu nói thêm là Đức Giêsu “rời khỏi họ mà đi cầu nguyện lần thứ ba và nói những lời như trước” (Mt 26,44). Máccô không có ghi chú này, chỉ kể lại khoảnh khắc Đức Giêsu đến sau khi đã đi cầu nguyện lần thứ ba (Mc 14,41). Có lẽ, vì Mátthêu thấy không hợp lý khi không có chi tiết Đức Giêsu đi cầu nguyện lần thứ ba mà chỉ trở lại lần thứ ba, nên tác giả thêm vào cho hợp lý hơn.

5. Con Loài Người chịu bắt giữ (Mt 26,47-56)

Trình thuật bắt giữ của Mátthêu có ba điểm khác biệt so với Máccô. Thứ nhất, nguồn gốc của đám đông lớn. Máccô cho biết là đám đông mang gươm giáo và gậy gộc đến bắt Đức Giêsu là từ ba nhóm người: trưởng tế, kinh sư và kỳ mục. Mátthêu chỉ liệt kê nhóm trưởng tế và kỳ mục mà không nhắc đến nhóm kinh sư. Có lẽ, Matthêu hiểu rằng nhóm kinh sư chỉ liên quan đến những tranh luận về giáo thuyết và truyền thống chứ không liên quan đến quân lính, hay lực lượng chính trị. Thật vậy, nhóm kinh sư thường xuất hiên bên cạnh nhóm Pharisêu trong những tranh luận liên quan đến truyền thống tôn giáo (Mt 15,1-2). Họ gắn liền với nhiệm vụ giảng dạy (Mt 23,2-3). Thứ hai, lời chào của Giuđa. Giuđa của Mátthêu thêm vào lời chào “Hãy vui lên!” (khairê![2]) trước danh xưng Rabbi! (Mừng vui lên! Rabbi), trong khi Giuđa của Máccô chỉ nói rằng: “Rabbi!” Lời chào “hãy vui lên!/ chúc vui vẻ!” cùng với nụ hôn càng làm tăng thêm sự giả tạo trong hành động của Giuđa. Mặc dù Giuđa mục đích của Giuđa là chỉ điểm Thầy cho nhóm lính, nhưng ông lại chào Thầy bằng một lời chào chúc tốt lành. Đây chính là lời chào mỉa mai mà nhóm lính Tổng Trấn dùng để chế nhạo Đức Giêsu: “Chúc vui vẻ! vua dân Do Thái” (Mt 27,29). Thứ ba, Đức Giêsu trong trình thuật của Mátthêu có một câu nói với Giuđa sau khi ông chào và hôn Người: “Bạn ơi! Vì điều mà bạn đến” (ἐφ᾽ ὃ πάρει, 26,50). Đa số các bản dịch hiểu câu nói này là “hãy làm điều mà bạn đến để làm!” Dựa trên tình tiết tiếp theo, ngay sau câu nói này, “họ tiến đến, ra tay trên Đức Giêsu và bắt giữ Người”, thì cách hiểu này có vẻ hợp logic. Cách gọi của Đức Giêsu dành cho Giuđa thật lạ lùng. Trong khi Giuđa gọi Ngài là “rabbi”, Ngài lại gọi ông là “bạn”. Cách gọi này được dùng trong hai trường hợp trong Mátthêu. (1) Chủ vườn nho gọi những người làm công vào làm giờ đầu tiên, khi họ có điều phàn nàn với ông: “Bạn ơi! Tôi đâu không đối xử sai với bạn, không phải là bạn đồng ý với tôi là một đồng sao?” (Mt 20,13); (2) nhà vua nói với một vị khách dự tiệc không mặc y phục đám cưới: “Bạn ơi! Sao vào đây mà không có y phục đám cưới?” (Mt 22,12). Trong cả hai trường hợp, người nói đều muốn sửa dạy người nghe. Và cả hai đối tượng được gọi là “bạn” sau đó cùng chịu kết cục đau buồn. Nếu những người làm vào làm đầu tiên trong dụ ngôn người thợ vườn nho chỉ chịu kết cục trở nên những người sau chót (Mt 20,16), thì người khách không mặc y phục đám cưới sẽ bị quăng ra ngoài và thành kẻ khóc lóc nghiến răng (Mt 22,13). Giuđa cũng sẽ có kết cục bi thảm, khi ông đã phải treo cổ tự tử sau đó. Như thế, câu nói của Đức Giêsu của Mátthêu dành cho Giuđa vừa cho thấy Ngài biết hết mọi sự, vừa báo trước kết cục bi thảm của Giuđa. Thứ tư, Mátthêu thêm vào một đoạn dài sau sự kiện một người đi theo Ngài chém đứt một tai của đầy tớ vị thượng tế.

“Hãy để gươm lại chỗ của nó, vì mọi kẻ cầm gươm sẽ chết vì gươm. Hay con tưởng rằng Ta không thể xin Cha Ta và Ngài sẽ cấp ngay cho Ta hơn mười hai đạo binh thiên sứ sao? Nhưng nếu như thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng sự việc phải xảy ra như vậy?” (Mt 26,53-54).

Trong lời đoạn văn mà Mátthêu thêm vào, các tín hữu thấy được ba điều: (i) Đức Giêsu không muốn bạo lực: Kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm; (ii) Ngài hoàn toàn làm chủ tình hình. Nếu Người muốn dùng bạo lực để chống lại kẻ bắt Ngài thì “hơn mười hai đạo binh thiên sứ” sẽ sẵn sàng; (iii) Việc Ngài chịu bắt là để hoàn trọn lời Thánh Kinh. Những lời này kết hợp với những lời Đức Giêsu nói với đám đông mà Máccô đã ghi lại rằng hằng ngày Người vẫn giảng dạy trong đền thờ nhưng không ai bắt, nhưng việc Ngài chịu bắt giữ như vậy là để lời các ngôn sứ được hoàn trọn (Mt 26,56).

Ngoài ra, Mátthêu bỏ hẳn đoạn văn của Máccô mô tả về chàng thanh niên đi theo Đức Giêsu, hoảng sợ bỏ chạy mình trần (bỏ chạy mất cả vải che thân) khi anh bị những người bắt Đức Giêsu túm lấy (Mc 14,51-52). Chàng thanh niên này thường được các học giả cho rằng chính là Máccô, soạn giả của sách Tin Mừng mang tên ông. Lý do là chỉ có Máccô kể lại chuyện này. Chi tiết này của Máccô chắc chắn nhấn mạnh thêm bầu khí sợ hãi của các môn đệ, và cả những kẻ đi theo Người. Thậm chí, họ quên cả xấu hổ, bỏ cả vải che thân để chạy thoát thân. Có lẽ, Mátthêu không thấy cần thiết phải kể lại chi tiết mang tính cá nhân của Máccô, nên ông lược bỏ.

6. Con Loài Người chịu xét xử trước Hội Đồng (Mt 26,57-68)

Đức Giêsu đã trải qua hai vòng xét xử: (i) của Hội Đồng Do Thái, tại dinh Thượng Tế; (ii) của Tổng trấn Philatô, tại dinh Tổng Trấn. Phiên tòa chính yếu là phiên tòa đầu tiên. Hội đồng Do Thái mang yếu tố quyết định bản án tử cho Đức Giêsu. Tổng trấn chỉ xét xử theo yêu cầu của Hội Đồng Do Thái và có vai trò cho phép thi hành án tử. Ảnh hưởng của Hội Đồng Do Thái lên đám đông quá mạnh đến nỗi dẫu vẫn biết rõ Đức Giêsu vô tội, Tổng Trấn vẫn cho phép xử tử Ngài.

Trong trình thuật về phiên tòa kín của nhóm Hội Đồng Do Thái, Mátthêu cũng có nhiều thay đổi so với Máccô. Thứ nhất, tác giả nêu danh thượng tế Caipha. Thứ hai, ông lược bỏ nhóm “trưởng tế” (chỉ có kinh sư và kỳ mục, cùng với Thượng Tế Caipha). Thứ ba, mục đích Phêrô đi theo xa xa vào trong sân dinh thượng tế là “để xem kết cục thế nào” (Mc: “sưởi bên đóng lửa”). Máccô cho biết họ dẫn Người đến vi thượng tế nhưng không nói tên, Mátthêu làm rõ tên vi thượng tế thời ấy là Caipha. Qua Mátthêu, chúng ta cũng biết được mục đích của Phêrô khi đi theo sau Đức Giêsu là để xem kết cục của vụ án. Việc Mátthêu không liệt kê nhóm các trưởng tế cùng với kinh sư và kỳ mục ngụ ý làm thành Hội Đồng Do Thái (Sanhedrin) có lẽ liên quan đến việc Máccô tách riêng nhóm các trưởng tế và toàn thể Hội Đồng ở tình tiết tiếp theo sau đó: “Các trưởng tế và toàn thể Hội Đồng tìm chứng cứ chống lại Đức Giêsu để giết Người” (Mc 14,55). Các trưởng tế được xác định dường như là một nhóm ngoài các thành viên Hội Đồng. Chính vì thế mà Mátthêu không muốn các tín hữu hiểu nhầm họ là nhóm chung trong Hội Đồng Do Thái.

Trong phần xử án, các trưởng tế và Hội Đồng cố gắng tìm chứng cứ để giết Đức Giêsu, nhưng họ không tìm ra. Mátthêu sửa đổi danh từ “chứng cứ” thành “chứng cứ gian” (họ tìm chứng cứ gian) để nhấn mạnh sự vô tội của Đức Giêsu, và nếu muốn kết án tử Người thì chỉ có “chứng cứ gian” mà thôi. Đối với Máccô, khi họ tìm chứng cứ không được thì sau đó mới có nhiều người làm chứng gian nhưng các chứng cứ lại không ăn khớp với nhau (Mc 14,56).

Khác với Máccô, Mátthêu đề cập đến con số hai chứng nhân đưa ra lời chứng rằng: “ông này đã nói: ‘Ta có thể phá hủy đền thờ Thiên Chúa và trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại’” (Mt 26,61). Đây là con số chứng nhân cần thiết để lời chứng có giá trị theo luật: “Chỉ có bằng chứng của hai chứng nhân hoặc ba chứng nhân thì bản án mới được thiết lập” (Đnl 19,15). Mátthêu rất quan tâm đến Torah (Luật).

Trược mọi kết án oan và câu chất vấn của vị Thượng Tế, Đức Giêsu vẫn giữ im lặng chỉ khi vị Thượng Tế hỏi về căn tính Kitô thì Ngài mới trả lời. Câu chất vấn của vị Thượng Tế trong Mátthêu nghiêm trọng hơn với yếu tố thề thốt: “Tôi yêu cầu ông thề trước mặt Thiên Chúa hằng sống mà nói cho chúng tôi biết: Ông có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hay không.” (Mt 26,63). Câu trả lời của Đức Giêsu của Mátthêu cũng khác so với Máccô. Trong Mátthêu, Đức Giêsu trả lời rằng: “Chính ông đã nói”, còn trong Máccô, Đức Giêsu trả lời rằng: “Chính Ta là”. Câu trả lời của Đức Giêsu của Máccô vừa ngụ ý xác nhận Ngài là Đấng Kitô, vừa ngụ ý Ngài là Thiên Chúa, bởi đây là kiểu nói giống với cách Thiên Chúa trả lời cho Môsê trong sách Xuất Hành. Khi ông hỏi tên của Thiên Chúa là gì, Ngài đáp lại rằng “Ta là Đấng Ta là” [אֶֽהְיֶ֖ה אֲשֶׁ֣ר אֶֽהְיֶ֑ה]. Câu trả lời của Đức Giêsu trong Mátthêu, “chính ông đã nói”, vừa khẳng định lại vừa từ chối. “Chính ông đã nói” có thể hiểu là “ông nói chứ tôi đâu có nói” rằng Ta là Đấng Kitô; cũng có thể hiểu là “đúng như ông đã nói” rằng Ta là Đấng Kitô.

Câu nói tiếp theo của Đức Giêsu như muốn mặc khải căn tính của Người lên cao hơn: Ngài là Con loài Người ngự bên hữu Đấng Quyền Năng và đến trên mây trời. Đây rõ ràng là một khẳng định về căn tính thần linh, ngang hàng với Thiên Chúa. Dĩ nhiên, đây là một mặc khải đúng, vì sau khi Phục Sinh, Đức Giêsu đã thực sự lên ngự bên hữu Thiên Chúa (Hr 1,3; Mc 16,19) và Ngài hứa sẽ trở lại trên đám mây (Mt 24,30). Vì không tin Đức Giêsu có căn tính thần linh, nên vị Thượng tế khẳng định Đức Giêsu phạm thượng và kết án tử cho Ngài (Mt 26,66c).

Sau khi kết án tử Đức Giêsu lập tức họ hành hình Ngài. Mátthêu giữ lại hình ảnh họ “khạc nhổ” và “đánh đập”, nhưng thay đổi một số chi tiết nhằm tăng lên mức độ của cuộc tra tấn. Trong khi Máccô mô tả họ “khạc nhổ vào Người”, Mátthêu cụ thể hóa vị trí họ khạc nhổ: “Họ khạc nhổ vào mặt Người”. Vị trí khuôn mặt rõ ràng tăng thêm sự sỉ nhục, khinh bỉ ở mức cao nhất. Trong mọi cực hình, có lẽ đây là cực hình đau đớn nhất, bởi lẽ nó làm tổn hại nghiêm trọng về danh dự, về hình ảnh về tinh thần. Một người càng trong sạch, càng tự trọng, thì càng cảm nhận nỗi đau đớn càng lớn. Một người càng tràn đầy tình yêu, thì càng đau đớn khi bị chối từ đến mức khinh bỉ, gớm ghê. “Họ khạc nhổ vào mặt”, kết hợp với việc “có những kẻ tát Ngài” làm tăng thêm cảm giác nhục nhã và đau đớn . “Tát” cũng ở vị trí gương mặt. Nó gây đau đớn về tinh thần nhiều hơn là thể lý. Bên cạnh đó, những kẻ hành hình trong Mátthêu lấy danh Kitô ra để mỉa mai: “Này Kitô, hãy nói ngôn sứ (προφήτευσον) cho chúng tôi, ai là người đã đánh ông?” (Mt 27,68). Máccô chỉ ghi đơn giản: “Hãy nói ngôn sứ đi” (Mc 14,65). Khi nhắc đến danh xưng “Kitô”, họ ngụ ý rằng trước đó Đức Giêsu đã nhìn nhận mình là Đấng Kitô, mà Đấng Kitô thì có thể biết ai đã đánh mình. Đấng Kitô, Đấng toàn thể IsraEL mong đợi, Đấng được xức dầu bị mang ra làm trò đùa, tiêu khiển.

7. Phêrô chối bỏ Con Loài Người (Mt 26,69-75)

Cảnh Phêrô chối thầy đã được tiên báo trước đó cho cả Phêrô và cả người đọc. Điều này cho thấy đặc tính ngôn sứ nơi Đấng Kitô. Ngài biết trước mọi việc, nói trước khi nó xảy ra. Ông Phêrô đã được cảnh báo, nhưng ông rất tự tin vào lòng tín thành của mình như đã nói trước đó. Cuối cùng, chính ông cũng không thể tưởng tượng chính ông lại chối Thầy ba lần như thế. Bấy giờ, ông mới cảm nghiệm được thế nào gọi là “tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối”. Cùng với trình thuật Giuđa nộp Thầy bằng một nụ hôn, cảnh Phêrô chối Thầy làm nên một bức tranh vô cùng ảm đạm về sự đổ vỡ tình Thầy – trò. Dẫu Đức Giêsu vẫn một mực yêu mến các đồ đệ và cố gắng dạy dỗ các ông, các ông vẫn không hiểu và không thể đồng hành với Ngài trên hành trình Thương Khó. Hình ảnh người đầy tớ gái làm cho vị tông đồ trưởng phải hoảng sợ cho thấy sự sụp đổ hoàn toàn hình ảnh của một người môn đệ. Họ sợ hãi toàn tập trước bất cứ một người nào phát hiện ra họ, thậm chí đó chỉ là một đầy tớ nữ, hay nói đúng hơn là nữ nô lệ.

Tương quan giữa số lần Phêrô chối Thầy và số lần gà trống gáy, cả Mátthêu và Máccô đều trung thành với lời tiên báo của Đức Giêsu dành cho Phêrô trước đó. Đức Giêsu của Máccô thì cho biết trước khi gà gáy hai lần, thì Phêrô đã chối Chúa ba lần. Chính vì thế sau khi Phêrô chối lần thứ ba thì tác giả ghi: “Tức thì gà trống gáy lần thứ hai” (Mc 14,72). Đức Giêsu của Mátthêu thì tiên báo rằng “gà trống chưa gáy thì con đã chối Thầy ba lần” và sau khi Phêrô chối lần ba, tác giả ghi rằng: “Lập tức, gà trống gáy” (Mt 26,74).

Trong trình thuật này, Mátthêu cũng thay đổi một số yếu tố đáng kể. Người tớ gái của Mátthêu nêu danh Đức Giêsu trong lần tố cáo thứ hai: “Ông này đã ở với ông Giêsu Nadarét”. Phêrô chối rằng: “Tôi không biết Người ấy”. Cách tố giác của người tớ gái trong Mátthêu cụ thể hơn và sự chối từ của Phêrô cũng cụ thể hơn. Máccô chỉ ghi rằng “Phêrô lại chối” và câu tố giác là “ông này cũng là người trong số họ”. Hơn nữa, Mátthêu còn thêm yếu tố “lời thề” - chối cùng với lời thề (μετὰ ὅρκου). Lời thề rõ ràng làm tăng thêm sức nặng của sự chối từ. Trong lần chối thứ ba, thậm chí thái độ của Phêrô còn mạnh mẽ hơn vì có thêm hành động “nguyền rủa”: “ông nguyền rủa và thề”. Trong lần này, Mátthêu giữ nguyên câu của Máccô.

Sau tiếng gà trống gáy là lòng hối hận của Phêrô, vì ông nhớ lại lời cảnh báo của Đức Giêsu trước đó. Mátthêu và Máccô đều cho thấy ông Phêrô khóc lóc. Tuy nhiên chỉ có gia tăng mức độ hối hận của Phêrô khi ông thêm vào trạng từ “cay đắng” sau động từ khóc: khóc cách đắng đót (πικρῶς).

8. Con Loài Người chịu xét xử trước tổng trấn Rôma, Philatô – Cái chết của kẻ nộp Con Loài Người, Giuđa (27,1-14).

Sau khi kể đoạn Đức Giêsu bị dẫn đến tổng trấn Philatô để chịu xét xử, Mátthêu thêm vào một đoạn dài để nói về số phận của kẻ nộp Thầy, Giuđa (Mt 27,3-10). Đây là dữ liệu riêng của Mátthêu, trong tất cả các tác giả sách Tin Mừng chỉ có Mátthêu có câu chuyện này. Luca cũng có một câu chuyện về cái chết của Giuđa, nhưng không phải trong Tin Mừng Luca và trong sách Các Hoạt Động (Cv 1,15-20). Câu chuyện của Luca khác nhiều so với câu chuyện của Mátthêu.

Khi kể câu chuyện này, Mátthêu như muốn lý giải về số phận của Giuđa, điều mà Máccô vẫn còn bỏ ngỏ. Theo Mátthêu, Giuđa đã có giây phút hối hận khi thấy Đức Giêsu bị kết án. Chúng ta hãy quan sát kỹ câu Mátthêu mô tả thái độ của Giuđa:

Τότε ἰδὼν Ἰούδας ὁ παραδιδοὺς αὐτὸν ὅτι κατεκρίθη, μεταμεληθεὶς ἔστρεψεν τὰ τριάκοντα ἀργύρια τοῖς ἀρχιερεῦσιν καὶ πρεσβυτέροις

Câu nói này trong tiếng Hy Lạp có hai động từ ở dạng phân từ: (i) Thấy [ὁράω] và (ii) Hối hận [μεταμέλομαι]. Hai động từ này ở dạng phân từ là mệnh đề phụ, có thể là mệnh đề thời gian hoặc là nguyên nhân. Vì thế có thể hiểu câu này theo những cách khác nhau như sau:

(1)  Bấy giờ, nhận thấy rằng Ngài bị kết án, Giuđa, kẻ nộp Ngài,

hối hận, đã trả lại ba mươi đồng bạc cho các trưởng tế và kỳ lão.

(2)  Bấy giờ, khi nhận thấy rằng Ngài bị kết án, Giuđa, kẻ nộp Ngài,

hối hận, đã trả lại ba mươi đồng bạc cho các trưởng tế và kỳ lão.

(3)  Bấy giờ, vì nhận thấy rằng Ngài bị kết án, Giuđa, kẻ nộp Ngài,

hối hận, đã trả lại ba mươi đồng bạc cho các trưởng tế và kỳ lão.

Hành động chính trong câu này là “trả lại ba mươi đồng bạc”, hai hành động có thể là căn nguyên cho hành động này: (a) Nhận thấy rằng Ngài bị kết án và (b) hối hận. Động từ hối hận có thể được hiểu theo hai nghĩa: hối lỗi hoặc thay đổi suy nghĩ. Như vậy, Mátthêu cho thấy Giuđa hối lỗi hoặc thay đổi suy nghĩ sau khi nhìn thấy Đức Giêsu bị kết án. Ông không thiết tha gì đến số ba mười đồng bạc mà họ đã trả cho phi vụ nộp Thầy trước đó. Hành động trả lại hoàn toàn sộ bạc cho có thể dẫn đến hai giả thuyết. Thứ nhất, Giuđa trước đó đã thích chút lợi ích nên đã nộp Thầy, nhưng bây giờ lương tâm hắn cắn rứt bản án người ta dành cho Thầy. Giả thiết này phù hợp với mặc cả của Giuđa với các trưởng tế mà Mátthêu đã ghi lại trước đó: “Các ông muốn cho tôi cái gì để tôi nộp ông ấy cho các ông” (Mt 26,15). Giuđa đã thật sự muốn một mối lợi. Truyền thống Tin Mừng Gioan mô tả Giuđa là một kẻ trộm. Ông giữ túi tiền và thường trộm những gì người ta bỏ vào đó (Ga 12,6). Một giả thiết khác cũng có thể đặt ra là Giuđa vốn tin vào quyền năng của Đức Giêsu, ông nộp Đức Giêsu để Ngài có thể biểu lộ quyền năng chính trị mà thiết lập đế chế của Ngài, chứ ông không cần tiền. Nhưng khi thấy Ngài chịu kết án, dự tính của ông đã không thành. Giả thuyết này dường như không phù hợp với trình bày của Mátthêu.

Những câu nói tiếp theo cho thấy thái độ hối hận của Giuđa. Ông công bố rằng: “Tôi đã phạm tội khi (vì/ qua việc) nộp máu vô tội”. Giuđa dùng từ “máu” có lẽ liên hệ đến “máu của Ta, máu giao ước đổ ra vì ơn tha tội”. Đây là cách chơi chữ của Mátthêu: “Máu vô tội” chịu nộp và đổ ra vì “sự tha thứ tội lỗi” (26,28). Các trưởng tế cũng nhìn nhận số tiền nộp Đức Giêsu là “giá của máu” (τιμὴ αἵματός, 27,6). Tên gọi “máu” gắn liền với tên thửa ruộng được mua bằng số tiền ấy: Ruộng máu (27,8). Các trưởng tế và kỳ mục cũng không nhận lại số bạc ấy và cũng không quan tâm đến sự minh oan của Giuđa. Giuđa đã ném số bạc vào đền thờ và đi treo cổ. Hành động tự kết liễu Giuđa thường được xem là tuyệt vọng, thiếu niềm trông cậy vào Chúa và vì thế, người ta đã từng nghĩ rằng ông đã mất ơn cứu độ. Tuy vậy, thực tế, ơn cứu độ nằm trong ý định nhiệm mầu của Chúa và không ai có thể khẳng định chắc chắn rằng Giuđa mất ơn cứu độ. Mátthêu muốn cho thấy rằng Giuđa đã từng hối hận, thay đổi suy nghĩ, nhưng đau khổ, bế tắc trong giải pháp.

Bên cạnh câu chuyện về kết cục bi thảm của Giuđa, Mátthêu cũng cho thấy lời ngôn sứ được hoàn trọn liên quan đến việc họ lấy ba mươi đồng bạc để mua thửa ruộng của người thợ gốm: “Họ đã lấy ba mươi đồng bạc, là giá mà con cái IsraEL đã ấn định cho Ngài, và họ dùng số bạc đó để mua thửa ruộng của người thợ gốm, như Chúa đã truyền cho tôi” (Mt 27,9-10). Mátthêu đã nói đây là câu trích của ngôn sứ Giêrêmia, nhưng thực ra những ý tưởng của câu này vốn được trích từ ngôn sứ Dacaria: “Chúa phán bảo tôi: ‘ném số tiền đó vào kho bạc đi, chúng đánh giá Ta chỉ bấy nhiêu thôi, vậy tôi đã đem ba mươi đồng bạc mà quăng vào kho bạc nhà Chúa’” (Dcr (11,13). Mátthêu đã sửa lại gần như hoàn toàn lời của Chúa trong sách Dacaria ngoài trừ số đồng bạc là ba mươi. Các trưởng tế đã khẳng định rằng: “Số bạc đó không được phép để vào kho bạc đền thờ vì đó là giá máu” (Mt 27,6) và họ đã quyết định mua thửa ruộng của người thợ gốm để chôn khách ngoại kiều. Những điều này hoàn toàn không có trong lời ngôn sứ Dacaria. Điều quan trọng là Mátthêu muốn cho thấy câu chuyện Giuđa cũng không nằm ngoài lời tiên báo của các ngôn sứ.

9. Con Loài Người chịu kết án (Mt (27,15-26).

Sau khi kể câu chuyện Giuđa, Mátthêu tiếp tục câu chuyện xử án Đức Giêsu. Hội đồng Do Thái kết án tử Đức Giêsu vì họ cho rằng Ngài phạm thượng. Tuy nhiên, khi dẫn đến tòa Rôma, lý do phạm thượng dường như không có giá trị. Câu hỏi mà Philatô hỏi Ngài là: “Có phải ông là vua không?” và Đức Giêsu là lời “Chính Ngài nói”. Câu trả lời này có thể hiểu vừa có lại vừa không. Nó có thể được hiểu là: “như Ngài nói” đó, cũng có thể hiểu là “Chính Ngài tự nói” vậy. Khi người ta làm chứng nhiều điều chống lại Ngài, Ngài không đáp lại một tiếng nào (Mt 27,14). Philatô áp dụng giải pháp cho dân chúng chọn một tù nhân được phóng thích vào dịp lễ. Họ sẽ chọn giữa “Barabba, tù nhân khét tiếng” và “Giêsu, còn gọi là Kitô”. Giải pháp mang Barabba, một tù nhân khét tiếng (Mc: Một tội phạm thuộc nhóm nổi loạn và giết người) có lẽ để đám đông có thể tha cho Đức Giêsu. Cả Máccô và Mátthêu đều ghi chú về suy nghĩ của Philatô, “vì ông biết rằng cho ghen tức mà họ đã nộp Ngài”, vào ngay sau câu hỏi: “Các ngươi muốn ta phóng thích ai cho các ngươi, Barabba hay Giêsu, còn gọi là Kitô”. Ghi chú này ngụ ý rằng, ông Philatô không nghĩ rằng Đức Giêsu có tội và đám đông cũng nghĩ vậy, nhưng chỉ vì ghen tức mà thôi. Khi phải cân nhắc giữa Barabba, một tội nhân, và Đức Giêsu, người vô tội, xác suất cao là họ sẽ chọn tha cho Đức Giêsu.

Mátthêu thêm vào một chi tiết đặc biệt minh chứng cho sự vô tội của Đức Giêsu. Đó là việc vợ ông sai người đến nói với ông rằng “đừng can dự gì đến người công chính ấy (τῷ δικαίῳ), vì hôm nay, qua giấc mơ (κατ᾽ ὄναρ), tôi đã đau khổ nhiều vì người ấy” (Mt 27,19). Qua lời của vợ Philatô, một người ngoại, chúng ta biết được rằng Đức Giêsu là người công chính. Thuật ngữ “qua giấc mơ” là thuật ngữ rất quen thuộc của Mátthêu. Nó diễn tả cách thức Chúa nói với một ai đó. Cách thức này được sử dụng rất nhiều trong trình thuật Giáng Sinh (1,20; 2,12.13.19.22).

Dự kiến của Philatô và vợ ông đã thay đổi khi “các trưởng tế và kỳ mục cứ xúi dục đám đông để họ xin cho Barabba và giết Đức Giêsu” (Mt 27,20; Mc 14,11). Cuối cùng họ đã chọn tha cho Barabba và đồng thời cũng chọn hình phạt cao nhất cho Đức Giêsu: Đóng đinh vào thập giá. Philatô dường như chưa muốn bỏ cuộc. Ông lại hỏi họ: Đức Giêsu đã làm điều gì xấu? Thay vì trả lời ông, họ lại càng la lớn “nó phải bị đóng đinh vào thập giá” (Mt 27,23; Mc 14,14).

Cuối cùng, Máccô ghi lại rằng vì muốn làm vừa lòng đám đông nên Philatô đã phóng thích Barabba cho họ và trao nộp Đức Giêsu để Ngài bị đóng đinh vào thập giá. Philatô của Mátthêu thì làm hành động rửa tay trước mặt đám đông và lý giải cho hành động ấy là “Ta vô can với máu này. Các ngươi tự mà lo lấy”. Đáp lại, dân chúng sẵn sàng gánh trách nhiệm máu: “Cứ để máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi”. Khẳng định này cho thấy sự nhất quyết, ngoan cố, gánh lấy mọi hậu quả, không những trên chính họ và trên nhiều thế hệ về sau, miễn là giết được Đức Giêsu.

10. Con Loài Người chịu tra tấn và nhục mạ (Mt 27,27-31)

Sau khi Philato kết thúc việc xử án và giao Đức Giêsu cho đám đông tùy ý xử lý. Họ bắt đầu tiến trình hành hạ Ngài. Trước tiên họ mỉa mai Ngài như một vị vua. Họ mặc cho Ngài tấm áo vải đỏ tía, áo nhuộm dành cho vua và đội vương miện gai cho Ngài. Cây sậy đặt vào tay Ngài tượng trưng cho vương trượng. Họ quỳ gối trước mặt Ngài và nhạo báng Ngài: “Kính chào vua dân Do Thái” (Mt 26,29). Đức Giêsu được giới thiệu như là “Vua của người Do Thái” trong trình thuật Giáng Sinh, và ngay trong gia phả Người được gọi là “Con Vua Đavid” (1,1). Nhiều lần các bệnh nhân kêu danh xưng này để cầu xin cứu giúp: “Lạy Con vua Đavid, hãy thương xót tôi” (Mt 9,27;15,22; 20,30.31”. Đám đông tung hô Ngài là “Con Vua Đavid” (Mt 21,9.15). Đức Giêsu đích thực là “Vua của người Do Thái”, nhưng bởi Ngài không thể hiện quyền lực như họ nghĩ nên họ xem Ngài là chỉ là vua giả hiệu. Vương miện gai vừa mang tính mĩa mai, vừa mang tính tra tấn. Vương miện gai được đội lên mà không tháo xuống, ngụ ý rằng Ngài đã đội vương miện gai suốt hành trình thập tự và thập chí đến lúc chết. Hơn hết, họ tỏ thái độ khinh bỉ Ngài bằng cách khạc nhổ vào Ngài và lấy cây sậy mà đập lên đầu Ngài. Đây là lần thứ hai Đức Giêsu chịu người ta sỉ nhục gớm ghiếc đến mức khạc nhổ vào mình. Lần thứ nhất trong dinh Thượng tế (26,67), lần này là trong sân dinh Tổng Trấn (Mt 27,30). Có thể nói rằng khạc nhổ là hình thức sỉ nhục cao nhất.

11. Con Loài Người đi hành trình thập tự và chịu đóng đinh (Mt 27,32-44);

Sau khi nhạo báng Ngài chán chê, họ dẫn Ngài đi đóng đinh vào thập giá, hình án khốc liệt nhất mà Rôma dành cho người tội phạm nguy hiểm nhất. Trên hành trình ấy họ bắt Simon Kyrênê vác thập giá của Ngài. Theo truyền thống, thì người bị tử hình sẽ vác lấy thập giá mình đến nơi Đồi Sọ. Tuy nhiên, khá lạ lùng, khi trong các tác giả sách Tin Mừng, chỉ có tác giả Tin Mừng thứ tư ghi chú rõ ràng là “chính Người vác thập giá của mình” (Ga 19,17) và không hề có nhân vật Simon Kyrênê. Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, dường như Đức Giêsu không vác thập giá mình, nếu như không ngầm hiểu theo truyền thống. Nếu Đức Giêsu thật sự không vác thập giá, thì có thể đoán rằng Ngài quá suy kiệt vì bị tra tấn và xử án trước đó. Truyền thống Kitô giáo vẫn hiểu rằng Ngài vác thập giá và vẫn thường suy gẫm đàng Thánh Giá cách sốt sắng. Chúng ta hãy quan sát từng bản văn Nhất Lãm về cảnh Đức Giêsu trên hành trình đến đồi Golgôtha.

 Máccô mô tả rằng: “họ dẫn Ngài ra ngoài để đóng đinh Ngài… Họ bắt ép một người qua đường, Simon Kyrênê …vác lấy (ἄρῃ) thập giá của Ngài … họ mang Ngài đến nơi gọi là Golgôtha” (Mc 15,21-22);

Mátthêu: “Họ dẫn Ngài đi để đóng đinh … khi họ đang đi ra họ gặp một người đàn ông Kyrênê, tên là Simon, họ bắt ép ông để ông vác lấy (ἄρῃ) thập giá của Ngài … khi họ đến nơi gọi là Golgôtha… (27,32-33);

Luca: “Khi họ dẫn Ngài đi, họ bắt giữ Simon Kyrênê, đặt thập giá lên anh ta để mang đi phía sau” (φέρειν ὄπισθεν) Đức Giêsu…khi họ đến nơi gọi là Cái Sọ” (Lc 23,26.33).

Xem ra, Mátthêu trung thành với Máccô khi dùng động từ “vác”. Đây là động từ Mátthêu dùng cho cả hai lần Đức Giêsu mời gọi trước đó: “Nếu ai muốn theo Ta (lit. “đến sau Ta”), người ấy hãy chối từ chính mình, vác thập giá mình và theo Ta” (Mt 16,24; Cf. Mc 8,34; Lc 9,23); “Ai không vác thập giá mình và theo Ta, thì không xứng với Ta” (Mt 16,24) trong khi Luca dùng động từ “mang”.

Hình ảnh Simon rất giống với hình ảnh người môn đệ mà Đức Giêsu mời gọi: vác lấy thập giá và đi theo sau. Trong các tác giả chỉ có Luca nhấn mạnh đến giới từ “phía sau” (“mang đi phía sau”). Tuy nhiên, các tác giả đều cho thấy rằng Simon Kyrênê chỉ bị ép buộc chứ không phải anh Ta muốn vác thập giá theo Đức Giêsu. Theo Máccô, Simon Kyrênê là cha của Alêxander và Ruphô, người từ miền quê lên và đi ngang qua đó. Mátthêu bỏ mọi chi tiết liên quan đến ông Simon, ngoại trừ gốc tích Kyrênê của ông. Có lẽ, Mátthêu thấy những chi tiết ấy không mấy liên quan.

Họ cho Người uống rượu với mật (Mc: “rượu pha mộc dược”) trước khi đóng đinh. Rượu pha mật đắng là một dung dịch có tác dụng làm giảm cơn đau của tử tội trước khi bị đóng đinh, nhưng Đức Giêsu chỉ nếm chứ không uống. Mátthêu thay “mộc dược” trong Máccô bằng “mật”, có lẽ nhằm mô tả sự cay đắng người ta trao cho Ngài. Điều này ngụ ý rằng Ngài chấp nhận chịu đau khổ đến tận cùng. Tấm bảng được đặt phía trên đầu Người cũng mang tính mỉa mai rõ ràng: “Đây là Giêsu vua Người Do Thái” (Mt 27,37). Vua Người Do Thái bị treo trên thập giá trong bộ dạng trần truồng quả là điều nhục nhã. Đức Giêsu bị đóng đinh giữa hai tên cướp chứng tỏ rằng Ngài bị liệt vào hàng kẻ cướp.

Trên thập giá, Đức Giêsu chịu cơn cám dỗ cuối cùng. Những người qua lại vừa thách thức vừa xúi dục Ngài xuống khỏi thập giá. Mátthêu lặp lại danh xưng “Con Thiên Chúa”: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy tự cứu mình đi, và hãy xuống khỏi thập giá” (Mt 27,40). Dường như ông muốn nối kết với trình thuật thử thách/cám dỗ, nơi Đức Giêsu vị chất vấn về căn tính Con Thiên Chúa của Ngài. Trong trình thuật cám dỗ quỷ đã hai lần dùng nại đến danh xưng “Con Thiên Chúa” để cám dỗ Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy truyền cho những hòn đá này thành những ổ bánh mì đi” (Mt 4,3); “Nếu ông là Con Thiên Chúa hãy ném mình xuống đi” (Mt 4,6). Các trưởng tế, kinh sư và kỳ mục (Mc: không có “kỳ mục”) nại đến danh xưng “vua IsraEL” để chế nhạo Ngài, thách thức Ngài xuống khỏi thập giá. Cũng như trong trình thuật cám dỗ, Đức Giêsu chứng minh Người là “Con Thiên Chúa” đích thực bằng thái độ vâng phục cho đến chết và chết trên thập tự. Nếu Ngài nghe theo lời xúi dục của Người khác và xuống khỏi thập giá thì công trình cứu chuộc xem như thất bại, đổ bể hết. Trong trình thuật về “cơn cám dỗ” trên thập giá, Mátthêu trích dẫn một câu Thánh Vịnh và sửa đổi đôi chút: “Nó đã trông cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Ngài hãy cứu nó đi nếu Ngài thương nó” (Mt 27,43). Câu trích được Mátthêu trích ra từ Thánh Vịnh 27: “Hắn tín thác nơi Chúa, Ngài hãy giải thoát nó, Ngài hãy giải cứu nó vì nó vui mừng trong Ngài”. Mátthêu bỏ mệnh đề “Ngài hãy giải cứu nó” và sửa mệnh đề “nó vui mừng trong Chúa” thành “nếu Ngài thương nó”. Ngoài ra Mátthêu còn thêm vào ghi chú lý do: “Vì nó đã nói: ‘Ta là Con Thiên Chúa’”. Theo Mátthêu lý luận của họ là:  Nếu Đức Giêsu thật là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa hẳn phải thương Ngài và cứu Ngài, nhưng Thiên Chúa không cứu Ngài nên Ngài không phải là Con Thiên Chúa. Thánh ý Thiên Chúa là Đức Giêsu phải chịu chết trên thập giá, và Đức Giêsu đã biết trước ý định ấy. Ngài đã báo trước bốn lần trong Mátthêu. Ngài cũng có buổi cầu nguyện đặc biệt chiến đấu nội tâm và cuối cùng Ngài đón nhận thánh ý của Cha.

Cuối cùng, cả Mátthêu và Máccô đều ghi nhận cả những tên cướp cùng bị đóng đinh vào thập giá với Ngài (Mc chỉ ghi: “người cùng chịu đóng đinh”) cũng sỉ nhục Ngài. Nghĩa là, bất cứ ai ở đó, cũng sỉ nhục Ngài, kể cả những kẻ có tội, bị xử án.

12. Con Loài Người  trút hơi thở (Mt 27,45-61);

Khi Đức Giêsu hấp hối, cảnh tượng đất trời đổi khác. Máccô mô tả một cảnh tối tăm bao phủ khắp mặt đất vào giờ thứ sáu (12 giờ trưa) cho đến giờ thứ chín (3 giờ chiều). Đức Giêsu kêu lớn tiếng vào giờ thứ chín: “Êli, Êli, lêma sabácthani”, nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mt 27,46). Mátthêu chuyển đổi “Êloi, Êloi”, chuyển âm “Thiên Chúa của tôi” trong tiếng Aram, trong Máccô (Mc 15,34) thành “Êli, Êli”, “Thiên Chúa của tôi” trong tiếng Hípri. Phần sau Mátthêu giữ nguyên tiếng Aram: “lema” (tại sao?) “sabácthani” “bạn bỏ rơi tôi). Cách dùng “Êli, Êli” của Mátthêu xem ra hợp với chi tiết tiếp theo hơn. Đức Giêsu kêu như vậy nên họ tưởng Ngài gọi ông Êlia. Họ lấy miếng bọt biển thấm đầy giấm và dùng cây sậy đưa lên miệng Ngài, có lẽ mục đích nhằm kéo dài sự sống để chờ xem Êlia có đến cứu Ngài không. Nhưng Ngài lại kêu lên một tiếng lớn rồi trút hơi thở (ἀφῆκεν τὸ πνεῦμα) (Mc: “tắt thở”- ἐξέπνευσεν, lit. thở lần cuối).

Lời than của Đức Giêsu được trích lại trong một thánh vịnh than vãn:

“Lạy Thiên Chúa của con, Lạy Thiên Chúa của con,

tại sao Ngài bỏ con?

Ơn cứu độ của con, cứ xa cách lời con kêu gào” (Tv 22,2)

Đây cũng chính là thánh vịnh nói ngôn sứ về việc họ chia nhau áo choàng của Đức Giêsu: “Chúng chia nhau áo ngoài của con, y phục con, chúng bắt thăm chia lấy” (Tv 22,19) được ghi lại trong cả bốn Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng Gioan (Mt 2735; Mc 15,24; Lc 23,34; Ga 19,23-24). Lời kêu gào của Đức Giêsu thường gây hiểu lầm rằng Ngài đang thất vọng. Tuy nhiên, thực sự Ngài đang cầu nguyện như một người Do Thái cầu nguyện trong cơn quẫn bách. Mọi thánh vịnh than vãn đều chứa đựng những lời than vãn, kêu gào, nhưng trong thánh vịnh than vãn luôn có niềm tín thác, sự ca ngợi dành cho Chúa dẫu vịnh gia có nhận được điều mình cầu xin hay chưa. Lời kêu gào của Đức Giêsu cho thấy hai điều: (i) Ngài thật sự đau đớn đến tận cùng và Ngài vẫn sẵn sàng đón nhận; (ii) Ngài cho thấy niềm tín thác tuyệt đối vào Chúa khi Ngài cầu nguyện với thánh vịnh than vãn.

Mátthêu thêm vào nhiều chi tiết thể lý sau tiếng kêu và trút hơi thở của Đức Giêsu. Ngoài chi tiết bức màn thánh điện bị xé làm đôi từ trên xuống dưới như Máccô mô tả, Mátthêu cho thấy nhiều chi tiết ly kỳ khác: “Đất rung chuyển và đá vỡ ra. Các mồ mả được mở tung và xác nhiều vị thánh đã an nghỉ được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, các ngài ra khỏi mộ, đi vào thành thánh và hiện ra với nhiều người” (Mt 27,51b-53). Mátthêu cho thấy cùng với cái chết của Đức Giêsu đất trời rung chuyển và sự sống lại của các thánh. Trong các tác giả sách Tin Mừng chỉ có Mátthêu có chi tiết này. Theo Mátthêu, đây chính là hiện tượng khác thường khiến cho người đại đội trưởng và những người cùng canh giữ với ông tuyên xưng Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa”. Mátthêu có khuynh hướng mô tả cùng sự kiện với những tình tiết sống động ly kỳ hơn. Trong trình thuật ngôi mộ trống, Mátthêu cũng mô tả “có sự động đất, thiên sứ của Chúa đi xuống từ trời, đến và lăn tảng đá ra, và ngồi lên nó. Vẻ bề ngoài của thiên sứ như ánh chớp, y phục trắng như tuyết” (Mt 28,2-3). Dữ liệu mà Mátthêu thêm vào ở cảnh Đức Giêsu chết (cc.51b-53) thường được gọi là dữ liệu khải huyền. Sự kiện Đức Giêsu chết là một sự kiện mang lại ơn cứu độ cho các vị thánh. Đó có lẽ là một cái nhìn khải huyền phảng phất các dữ liệu trong Edêkiel 37, nói về sự hồi sinh của các bộ xương khô.[3]

Xác nhận căn tính Đức Giêsu: “Quả thật Người này là Con Thiên Chúa”. Trước cảnh Đức Giêsu chết, có một lời tuyên xưng rất quan trọng. Tác giả Máccô ghi lại rằng “thấy Ngài tắt thở như vậy, viên đại đội trưởng nói: ‘quả thật, người này là Con Thiên Chúa!”. Mátthêu thêm vào ít nhất ba điều: (i) chủ thể tuyên xưng “người đại đội trưởng và những người cùng ông”; (ii) Điều mà họ thấy: “Động đất và các sự việc xảy ra”; (iii) cảm xúc: Sợ hãi. Khi thêm vào những chi tiết này, Mátthêu như muốn lý giải lý do tại sao viên đại đội trưởng lại tuyên xưng Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa” nơi Máccô. Đến lúc căn tính “Con Thiên Chúa” phải được xác nhận, nhưng điều lạ thay là lời xác nhận này là nằm trên môi miệng của một người ngoại. Có lẽ, Mátthêu cho biết một viễn ảnh là những người Do Thái chối từ và người ngoại thì lại đón nhận. Đức Giêsu đã được giới thiệu là Con Thiên Chúa trong trình thuật Phép Rửa. Chính quỷ cũng thừa nhận Ngài là “Con Thiên Chúa” khi nó bị Ngài trục xuất (Mt 8,28-34). Trong trình thuật cám dỗ (Mt 4,3.6), Quỷ thách thức Ngài chứng tỏ Ngài là Con Thiên Chúa.Trong trình thuật xử án, danh xưng “Con Thiên Chúa” đã là phương tiện để nhiều người mỉa mai (26,63; 27,40.43). Ông Phêrô đã thay cho các môn đệ tuyên xưng rằng “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Lúc ấy, Phêrô còn chưa hiểu rõ thế nào là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Có thể nói rằng, chính qua cái chết, căn tính “Con Thiên Chúa” mới được tỏ lộ cách rõ ràng hơn cả. Ngài là Người Con, tự hủy, tự hiến và vâng lời cho đến chết. Con Thiên Chúa phải đổ máu mình ra cho nhiều người được ơn tha thứ. Lần đầu tiên Đức Giêsu được Chúa Cha công bố là “Con” khi Ngài tự hạ bước xuống dìm trong sông Giorđan cùng với dòng người tội lỗi. Lần thứ hai Chúa Cha xác nhận Đức Giêsu là “Con” trong biến cố biến hình, cũng là lúc Đức Giêsu đang bàn thảo với Môsê và Êlia về cuộc tự hiến tại Giêrusalem. Rõ ràng, căn tính “Con Thiên Chúa” của Đức Giêsu chỉ được bộc lộ trọn vẹn nơi mầu nhiệm tự hủy, tự hiến. Mầu nhiệm nhập thể đã là một mầu nhiệm tự hiến và có thể nói rằng mục đích cuối cùng của việc nhập thể là để tự hủy tự hiến mạng sống vì nhân loại: “Con Loài Người đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và trao ban mạng sống mình vì giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20,28; Mc 10,45).

Các nữ môn đệ. Các tác giả ghi lại sự hiện diện cách đặc biệt của các phụ nữ trên đồi Golgôtha, trong khi các Tông Đồ thì biến mất. Những người phụ nữ được mô tả bằng động từ “đi theo”: “Họ đi theo Đức Giêsu” (ἠκολούθησαν τῷ Ἰησοῦ) từ Galilê. Điều này ngụ ý rằng họ là những nữ môn đệ. Dẫu không có thân phận chính thức như Nhóm Mười Hai, họ chứng tỏ mình là những môn đệ đích thực qua hành trình theo Chúa liên tục, kiên trì đến cuối cùng. Những phụ nữ này được kể tên cụ thể. Ngoài Maria Magđala và Maria mẹ của Giacôbê (Mc: Giacôbê thứ) và Giuse (Mc: Giôsê), Mátthêu thêm vào “mẹ các con ông Dêbêđê”, bỏ đi bà “Salômê” và nhóm chung “nhiều bà khác” (Mc: Maria mẹ Giacôbê thứGiôsê, cùng với Salômê, nhiều người nữ vô danh cùng đi lên với Ngài từ Giêrusalem).

13. Mai táng Con Loài Người (Mt 27,57-66).

Trong cảnh mai táng Con Loài Người, nhân vật Giuse Arimathê được nhắc đến lần đầu và lần duy nhất trong toàn bộ các sách Tin Mừng. Tuy được nhắc lần đầu nhưng ông được kể đến như là người đang mong đợi Nước Thiên Chúa từ lâu. Máccô nhấn mạnh vị thế quan trọng của ông như là “thành viên có thể giá trong Hội Đồng”. Nghĩa là, không phải tất cả các thành viên của Hội Đồng Do thái đều đồng thuận bản án tử oan cho Đức Giêsu. Mátthêu không bỏ đi phần mô tả ông Giuse như là một thành viên Hội Đồng có thế giá, nhưng lại nhấn mạnh đến địa vị “giàu có” của ông và đặc biệt nhấn mạnh đến vị thế người môn đệ: “Cũng là một môn đệ Đức Giêsu” (Mt 27,57). Tác giả Gioan mô tả nhiều hơn về người môn đệ này như sau: “Ông là một môn đệ của Đức Giêsu nhưng cách bí mật vì nỗi sợ những người Do Thái” (Ga 19,38). Đặc tính “giàu có” có lẽ phù hợp với việc ông có một huyệt đá riêng của mình và ông đã đặt thi hài Đức Giêsu vào đó (Mt 27,60). Máccô chỉ cho biết là có một huyệt đá được đục sẵn, nhưng không nói của ai.

Hình ảnh môn đệ Giuse xuất hiện trong cảnh an táng của Đức Giêsu trong Mátthêu vừa cho thấy một sự an ủi nào đó đối với cái chết cô đơn của Ngài, vừa cho thấy sự nghịch lý là không một ai trong số các môn đệ có danh phận công khai và gần gũi nhất xuất hiện.

Cách tẩn liệm Đức Giêsu rất đơn giản: Xác Ngài chỉ được quấn vào một tấm khăn liệm. Hình ảnh này thật đơn sơ có thể tương tự như hình ảnh Đức Giêsu mới sinh, bọc tã đặt nằm trong máng cỏ mà Luca đã mô tả (Lc 2,7). Hình ảnh ông Giuse lăn tảng đá vào cửa mộ, đối lại với hình ảnh “thiên sứ lăn tảng đá ra lại” trong trình thuật “ngôi mộ trống” (Mt 28,2).

Cuối cùng là hình ảnh các nữ môn đệ: Maria Magđala và một Maria khác. “Maria khác” theo Máccô là “Maria mẹ của Giôsê” được nói trước đó trong cảnh Đức Giêsu tắt thở. Mátthêu sửa lại đôi chút về hoạt động của hai bà này. Trong khi Máccô nhấn mạnh đến việc họ “chú ý nhìn xem chỗ đặt Người”, Mátthêu nói rằng họ “ngồi đối diện với ngôi mộ”. Phải chăng Mátthêu muốn mô tả một hình ảnh cầu nguyện của các bà, thay vì chỉ là hình ảnh tò mò để ý đến chỗ đặt Người như các bà của Máccô? Điều mà chúng ta có thể thấy chắc chắn là các bà đã theo chân Đức Giêsu đến cùng, không những đến lúc Ngài trút hơi thở cuối cùng, mà còn đến lúc Ngài đã nằm yên trong huyệt đá, các bà vẫn ở đó, bao lâu thì không rõ. Rồi, cũng hai bà này lại đến thăm mộ vào sáng bình minh ngày thứ nhất trong tuần, nghĩa là ngay lập tức sau ngày nghỉ lễ. Mátthêu có sự nối kết và thống nhất hai bà ngồi trước mộ Chúa và hai bà đến thăm mộ Chúa. Máccô thì hơi linh động hơn: Hai bà “nhìn xem nơi họ đã đặt Người” là Maria Magđala và Maria mẹ của Giôsê; còn các bà đi ra mộ để “xức dầu” Chúa là:  Maria Magđala, Maria mẹ của Giacôbê, và Salômê. Dẫu khác nhau chút ít về các nhân vật khác, nhưng Maria Magđala là một ngoại lệ. Bà luôn hiện diện và đứng đầu trong danh sách các người nữ môn đệ.

Chuyện lính canh mồ (27,62-66). khác với tất cả các tác giả khác, Mátthêu có câu chuyện về lính canh mồ Chúa. Các trưởng tế và những người Pharisêu nhớ lại lời của Đức Giêsu nói là “sau ba ngày, Ta sẽ sống lại”. Họ đến xin Philatô cho canh giữ mồ cho đến ngày thứ ba kẻo các môn đệ trộm mất xác Chúa và nói với dân rằng “Ngài đã từ cõi chết sống lại”. Họ cho rằng Đức Giêsu lừa dối khi nói như vậy, và các môn đệ có nguy cơ tác hợp cho việc nói dối này. Và nhiệm vụ của họ là phải ngăn chặn những nguy cơ của vụ lừa dối này. Cùng với việc bố trí lính canh, họ còn niêm phong tảng đá đậy cửa mồ.

Câu chuyện này được tiếp tục và hoàn tất trong trình thuật Phục Sinh, trong đó, chính các trưởng tế cùng với các kỳ mục mới là người nói dối và bắt các lính canh nói dối, chứ không phải Đức Giêsu và các môn đệ. Lính canh chứng kiến tất cả sự việc xảy ra như là “động đất”, “thiên sứ từ trời xuống, lăn tảng đá ra và ngồi lên trên”, “bề ngoài sáng chói và y phục trắng như tuyết”. Họ cũng nghe thông điệp Phục Sinh: “Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh, Người không còn ở đây nữa, vì Ngài đã phục sinh nhưng Ngài đã nói, hãy đến và xem nơi đặt Ngài” (Mt 18,2-6). Khi nghe lính canh kể lại sự việc đã xảy ra, các trưởng tế đã họp bàn với các kỳ mục cho lính canh một số tiền và nói: “hãy nói cho dân, các môn đệ của hắn đã đến lúc ban đêm và trộm xác của hắn trong khi chúng tôi đang ngủ” (Mt 28,13). Lính canh đã nhận tiền và làm như họ đã được chỉ dẫn. Và Mátthêu ghi chú rằng “câu chuyện này đã lan ra giữa những người Do Thái cho đến ngày nay” (Mt 28,15). Đây là cách thức Mátthêu lý giải tại sao giữa những người Do Thái là có cách giải thích sai lệch về “ngôi mộ trống”.

Kết luận

Mátthêu cùng chia sẻ cấu trúc câu chuyện “vụ án Đức Giêsu” với Máccô, nhưng chỉnh sửa các dữ liệu và thêm vào một số chi tiết và thậm chí một đoạn riêng vì dụng ý thần học của mình.

Trước hết, Mátthêu cho biết Đức Giêsu loan báo về cuộc Khổ Nạn một lần nữa hai ngày trước khi nó diễn ra. Tác giả nhấn mạnh đến sự chủ động, khả năng toàn tri và toàn hiến của Đức Giêsu trong Cuộc Khổ Nạn này.

Liên quan đến Giuđa. Giuđa của Mátthêu chủ động mặc cả mối lợi để nộp Thầy (Mt 26,15) và họ đã hứa cho ông ba mươi đồng bạc. Giuđa của Máccô không đề cập đến lợi ích, nhưng họ tự hứa cho ông tiền (Mc 14,11). Trong Mátthêu, Giuđa xem ra ngoan cố hơn, vì Đức Giêsu đã chỉ đích danh ông là kẻ nộp Người, nhưng Giuđa vẫn không xoay chuyển. Khi Giuđa hỏi “Thưa Rabbi, không phải con chứ?” Người đáp: “Chính con nói đó” (Mt 26,25).

Trong Mátthêu, yếu tố “tha tội” được nhấn mạnh như mục đích của “máu giao ước đổ ra”: “Máu giao ước đổ ra cho nhiều người vì ơn tha thứ tội lỗi” (Mt 26,28). Mátthêu đã cho biết rằng thiên sứ truyền cho Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu vì “Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Đức Giêsu cứu dân Người khỏi tội lỗi bằng chính máu vô tội của Ngài.

Như thường lệ, Mátthêu nhấn mạnh đến việc hoàn trọn lời Sách Thánh. Ông trích dẫn nhiều lần Kinh Thánh Cựu Ước trong trình thuật Thương Khó. Đức Giêsu của Mátthêu mặc khải ngay từ đầu rằng toàn bộ vụ án này xảy ra là để “điều được chép được tròn đầy” (Mt 26,54). Một người cùng đi với Ngài đã rút gươm phản ứng khi Ngài bị bắt. Đức Giêsu cho biết rằng Chúa Cha có thể gửi “mười hai đạo binh thiên sứ” (26,53) đến cho Ngài, nếu Ngài cầu xin. Nhưng Ngài hoàn toàn tự hiến.

Về vụ chối Chúa. Phêrô của Mátthêu chối Chúa sớm hơn, nhanh hơn Phêrô của Máccô. Ông chối Chúa ba lần trước khi gà gáy (Mt 26,34.74), trong khi Phêrô của Máccô chối Chúa ba lần trước khi gà gáy lần thứ hai (Mc 14,30.72).

Mátthêu cố gắng viết tiếp kết cục câu chuyện Giuđa kẻ nộp Ngài. Nó liên quan đến địa danh Ruộng Máu, một vùng đất chôn cất ngoại kiều. Trong Mátthêu, người ta mới biết được là Giuđa đã hối hận và trả lại toàn bộ số bạc, mối lợi mà giới lãnh đạo Do Thái đã trả cho ông trong phi vụ nộp Thầy. Trước đó, Giuđa đã mặc cả về mối lợi mà họ sẽ cho ông trong phi vụ nộp Thầy, nhưng khi thầy bị kết án, ông chẳng màng đến nó nữa. Qua cái chết tự treo cổ, có thể nói rằng ông đã sẵn sàng trả giá cho lỗi lầm to lớn của mình, lỗi lầm mà chính ông đã thừa nhận: “Nộp máu vô tội”. Tuy nhiên, đó hẳn không phải là một giải pháp lý tưởng, thậm chí có thể nói là một giải pháp thiếu tin tưởng vào lòng thương xót của Thầy. Nó trái ngược với giải pháp của Phêrô, một người phạm một lỗi lầm nghiêm trọng không kém.

Trong Mátthêu hình ảnh Đức Giêsu vô tội được tô đậm hơn rất nhiều. Giuđa Istariốt tuyên bố Ngài là “máu vô tội” (27,4). Mátthêu cho thấy cả hai vợ chồng Tổng trấn Rôma nhận thấy Đức Giêsu vô tội. Vợ của Philatô công bố Ngài là “người công chính” (Mt 27,19). Philatô biết rằng họ “chỉ nộp Ngài vì ghen tỵ”, nên ông mang Barabba, một tên cướp khét tiếng ra để họ có thể chọn giết Barabba mà tha cho Đức Giêsu. Philatô đã cố gắng tìm cách giải thoát cho bị can vô tội, nhưng ông bất lực trước sức ép của đám đông. Chỉ Mátthêu ghi lại cảnh ông rửa tay và tuyên bố mình “vô can với máu này” và làm rõ trách nhiệm của đám đông “các ngươi tự mà lo lấy” (Mt 27,24). Và dân chúng sẵn sàng nhận trách nhiệm ấy.

Trong Mátthêu, người ta thấy được hình ảnh một đám đông “máu lửa” bất chấp mọi hậu quả, miễn là giết được Đức Giêsu: “Cứ để máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi” (Mt 27,25). Song song với hình ảnh “máu lửa” của dân là hình ảnh một tổng trấn Rôma bất lực trong cố gắng giải thoát cho bị can vô tội. Chỉ Mátthêu ghi lại cảnh ông rửa tay và tuyên bố mình “vô can với máu này” và làm rõ trách nhiệm của đám đông “các ngươi tự mà lo lấy” (Mt 27,24).

Trong trình thuật của Mátthêu người bình dân có thể hiểu ngay là tại sao người đại đội trưởng và những người cùng canh gác với ông tuyên xưng Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa”. Biến cố rung chuyển của đất và đá vỡ ra. Tuy thế, đây là một tuyên xưng về thần học nên người tin cần phải nhìn sâu vào ý nghĩa căn tính “Con Thiên Chúa” nơi Đức Giêsu. Ngài là một Người Con được Cha ban tặng cho thế gian, và Ngài đã vâng phục, tự hiến mạng sống làm giá chuộc nhiều người. Khoảnh khắc Ngài chết đau thương chính là thể hiện căn tính này tròn đầy nhất.

Qua Mátthêu, người ta biết ông Giuse Arimathêa, người đã an táng Đức Giêsu là một người giàu có, và nhất là, ông cũng là một môn đệ. Trò an táng Thầy, âu cũng là một niềm an ủi.

Và cuối cùng, chỉ có trong Mátthêu người ta mới hiểu được rằng các trưởng tế và kỳ mục cũng biết Đức Giêsu đã phục sinh. Chính những người lính mà họ cắt đặt niêm phong tảng đá cửa mộ và canh giữ đã chứng kiến tất cả và đã kể lại cho họ. Tuy nhiên, vì không muốn tin, họ đã xuyên tạc, mua chuộc những lính canh để họ rao truyền rằng các môn đệ Đức Giêsu đã trộm xác Chúa, và nói rằng Chúa đã phục sinh.

Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

 



[1] Khi tiên báo về mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Giêsu thường dung danh xưng “Con Loài Người”. Dịch sát nghĩa “Con trai của loài người”. Song đối với danh xưng này là danh xưng “Con Thiên Chúa”. Đức Giêsu vừa là Con Loài người vừa là Con Thiên Chúa. Ở đây, có lẽ Ngài nhắm đến căn tính con người, với thân xác có thể chết, và chính trong thân phận con người mà Ngài có thể liên lụy, mang lấy vết thương, chịu chết thể xác để chuộc tội cho con người.

[2] Giống với lời chào thiên sứ dành cho Đức Maria: χαῖρε, κεχαριτωμένη (Lc 1,28) (Lc 1,28); χαῖρε, ῥαββί, (Mt 26,49); χαῖρε, βασιλεῦ τῶν Ἰουδαίων (Mt 27,29)

[3] Donald Senior, “The Death of Jesus and resurrection of the Holy ones”, The Catholic Biblical Quaterly [vol.38:1976] 321.

Thursday, 17 April 2025

THẦN HỌC GIOAN. ĐẶC TÍNH GIÁO HỘI TRONG TRÌNH THUẬT THƯƠNG KHÓ Ga 19,16b-30



TÓM LƯỢC

Thần học của Gioan về cái chết của Đức Giêsu được xây dựng chủ yếu bởi lời tường thuật về cái chết của Đức Giêsu. Đọc kỹ bốn chi tiết trên thập tự giá: (1) dòng chữ khắc trên đầu Chúa (19,19-22); (2) chiếc áo dài liền từ trên xuống dưới, không có đường may (19,23-24); (3) mẹ của Đức Giêsu và Người môn đệ được yêu mến (19,25-27) và (4) những lời cuối cùng của Đức Giêsu (19,28-30). Những chi tiết này phát triển các chủ đề kết nối chúng với các đoạn văn trước đó và cho thấy Gioan diễn giải cái chết của Đức Giêsu với sự quan tâm đến ý nghĩa giáo hội học của nó.

1.     GIỚI THIỆU

Chủ đề ‘Thần học về Tường thuật Khổ nạn của Gioan’, hoà trộn thần học, tường thuật Khổ nạn và phê bình thuật chuyện – có nhiều chuyện để bàn hơn là những gì có thể được trình bày trong một bài viết duy nhất. Tôi hy vọng sẽ chỉ ra rằng tường thuật Khổ nạn thực sự là cốt lõi của Tin Mừng Gioan, và bất kỳ diễn giải cẩn thận nào về tường thuật Khổ nạn đều phải đọc nó như một phần của toàn bộ tường thuật Tin Mừng, và đọc nó với sự chú ý đặc biệt đến thần học của nó. Có lẽ trước tiên chúng ta nên tự nhắc nhở mình về sự khác biệt giữa tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Giêsu so với các sách Tin Mừng Nhất lãm. Các yếu tố trung tâm của các tường thuật Nhất lãm không xuất hiện trong Gioan. Trong trình thuật của Gioan, không có (1) sự chế giễu Đức Giêsu trên thập tự giá; (2) không có tên trộm ăn năn; (3) không có bóng tối, mặc dù Gioan thường chơi chữ với biểu tượng của ánh sáng và bóng tối; (4) không đếm giờ (ngoại trừ ghi chú trong 19,14 rằng đó là giờ thứ sáu), mặc dù Gioan đã nói nhiều lần về sự xuất hiện của giờ Đức Giêsu; (5) không có sự xé màn che, mặc dù Gioan kể về việc thanh tẩy Đền thờ vào đầu sứ vụ của Đức Giêsu; (6) không có tiếng kêu than; (7) không có động đất; (8) không có sự mở ra của các ngôi mộ, mặc dù Gioan đã nói trước đó về việc mở các ngôi mộ và ghi lại sự sống lại của Lazarus; và (9) không có lời thú nhận của viên đại đội trưởng, mặc dù Gioan đặc biệt nhấn mạnh trong suốt Tin Mừng về việc công nhận Đức Giêsu là ‘Con Thiên Chúa.

Mặc dù thiếu rất nhiều đặc điểm của các tường thuật của các sách Tin Mừng Nhất lãm, Gioan kết hợp các yếu tố truyền thống xuất hiện trong các sách Tin Mừng khác với các diễn biến đặc trưng của Gioan theo một cách hấp dẫn và cực kỳ quan trọng. Khác một chút so các sách Tin Mừng Nhất lãm, Đức Giêsu của Gioan vác thập tự giá của chính mình đến một nơi được gọi là “Đồi sọ” (Nơi Đầu lâu) (19,17), không có chuyện ông Simon Kyrênê vác thập giá cho Chúa. Những chi tiết khác của trình thuật Gioan, thì hầu như tương tự Tin Mừng Nhất Lãm. Họ đóng đinh Đức Giêsu cùng với hai người khác và đặt lên Người dòng chữ ‘Vua dân Do Thái’. Những người lính chia nhau quần áo của Người, Maria Mađalêna và những người phụ nữ khác đứng cạnh, những người lính đưa cho Đức Giêsu giấm hoặc rượu chua, và những lời cuối cùng của Đức Giêsu được ghi lại. Các nhân chứng xác nhận cái chết của Đức Giêsu, và sau đó thi thể Giuse Arimathêa đưa xuống và chôn cất. Rõ ràng đây chỉ là một phần chọn lọc các yếu tố từ các tường thuật về cuộc khổ nạn của Tin Mừng Nhất lãm, và mỗi tường thuật khác đều đưa ra cách miêu tả riêng biệt về cái chết của Đức Giêsu, nhưng số lượng lớn các điểm tương đồng giữa Gioan và các Tin Mừng khác tại thời điểm này - đặc biệt là khi Gioan không theo truyền thống Nhất lãm ở những nơi khác - cho thấy Gioan biết và tuân theo một truyền thống được xác định rõ ràng về cái chết của Đức Giêsu.

Xét đến những điểm khác biệt so với các sách Nhất lãm mà chúng ta đã lưu ý, rõ ràng là Gioan chỉ chọn một số yếu tố chính của truyền thống và phát triển chúng theo cách riêng của mình để nhấn mạnh các khía cạnh quan trọng về ý nghĩa cái chết của Đức Giêsu. Vì vậy, chúng ta hãy xem Gioan đã phát triển tường thuật của mình về cái chết của Đức Giêsu như thế nào bằng cách sử dụng các yếu tố được chọn lọc này từ truyền thống và liên kết chúng với các chủ đề quan trọng trong Tin Mừng của ông.

Tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Giêsu tự nhiên được chia thành bảy phần, và việc chôn cất là phần kết luận: (i) Phần giới thiệu, sự đóng đinh (cc. 16b-18); (2) dòng chữ khắc trên đầu Chúa (cc. 19-22); (3) chiếc áo dài không đường may (cc. 23-24); (4) cảnh Mẹ của Đức Giêsu và Người Môn đệ Yêu Dấu (cc. 25-27); (5) Những lời cuối cùng của Đức Giêsu (cc. 28-30); (6) cảnh người lính đâm thủng hông Đức Giêsu (cc. 31-37); và (7) cảnh chôn cất (cc. 38-42). Đối với mục đích hiện tại của chúng ta, tôi sẽ tập trung vào bốn cảnh dẫn đến cái chết của Đức Giêsu (cc. 19-30).

2.     BẢN CHỮ VIẾT TRÊN ĐẦU CHÚA (cc. 19-22)

Tất cả các sách Tin Mừng đều ghi lại bản chữ khắc phí trên đầu Đức Giêsu, nhưng chỉ có Gioan chuyển cảnh này lên vị trí đầu tiên để nó theo ngay sau trình thuật chi tiết còn lại về cảnh trên thập giá. Cách diễn đạt của Gioan về bản chữ khắc cũng rất đặc biệt, chỉ có Gioan ghi lại rằng bản chữ khắc được viết bằng ba ngôn ngữ và chỉ có Gioan có phần tiếp theo của cuộc tranh luận của Philatô với các nhà chức trách Do Thái, lên đến đỉnh điểm trong tuyên bố của tổng trấn Philatô, ‘Những gì tôi đã viết, tôi đã viết.’ Gioan cũng mở rộng rất nhiều cảnh này, những gì không quá 17 từ trong bất kỳ sách Tin Mừng nào khác thì được đưa ra 75 từ trong Gioan. Rõ ràng, Gioan đặc biệt sử dụng yếu tố truyền thống này cho mục đích thần học của riêng mình. Việc khám phá cách bản chữ khắc phát triển các chủ đề quan trọng trong câu chuyện của Gioan sẽ giúp giải thích chức năng của nó ở đây.

Mỗi sách Tin Mừng có cách diễn đạt bản chữ khắc hơi khác nhau, mặc dù mỗi sách đều có tiêu đề, ‘Vua của người Do Thái’. Lời lẽ của Gioan là lời lẽ trang trọng nhất và do đó đã trở thành cơ sở cho cách viết tắt truyền thống của dạng chữ Latin của dòng chữ khắc trong nghệ thuật Kitô giáo, INRI (Iesus Nazarenus Rex Iudaeorum). Lời tuyên bố này có ý nghĩa đặc biệt trong Gioan mà không có trong bất kỳ Tin Mừng nào khác vì cách nó phát triển các chi tiết từ các phần trước của Tin Mừng, thập tự giá như sự tôn vinh, vương quyền của Đức Giêsu, Đức Giêsu là vua của ‘người Do Thái’, mối quan hệ của Đức Giêsu với ‘thế giới’ và ý nghĩa của dòng chữ khắc như lời cuối cùng của Philatô về Đức Giêsu. Chúng ta có thể xem xét ngắn gọn từng điều này.

2.1  Thập tự giá như sự tôn vinh

Ba câu nói về sự nâng lên trong Gioan (3,14; 8,28; 12,32) chuẩn bị cho chúng ta hiểu cái chết của Đức Giêsu như một sự tôn vinh, một sự nâng lên. Người ta thường lưu ý rằng Gioan không coi việc đóng đinh Đức Giêsu là một sự sỉ nhục tiếp theo là sự tôn vinh mà chính là bước đầu tiên trong sự tôn vinh và vinh quang của Đức Giêsu. Sự phục sinh được nén lại trong sự đóng đinh để cả hai là các giai đoạn trong một chuyển động hướng lên. Bản thân cái chết là một phần không thể thiếu trong sự tôn vinh và vinh quang của Đức Giêsu - tất nhiên là được hoàn thành trong sự phục sinh. Trong Gioan 12,34, đám đông hỏi Đức Giêsu làm sao ông có thể nói rằng Con người cần phải được nâng lên. Trên thực tế, những gì Đức Giêsu đã nói (trong Ga 12,23) là giờ đã đến để Con người được tôn vinh (Ashton 1991,495). Ý tưởng ở đây là phiên bản của Gioan về đỉnh điểm của bài thánh ca về về sự tự huỷ của Đấng Kitô trong thư Philípphê 2,5-11, kết thúc bằng lời khẳng định rằng ‘mọi miệng lưỡi sẽ tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kitô là Chúa để tôn vinh Đức Chúa Cha.’ Đức Giêsu sẽ được tôn vinh là Con người bằng cách thu hút mọi người đến với chính mình qua cái chết của Ngài, và trong Đức Giêsu này, Con tôn vinh Chúa Cha. Cái chết của Đức Giêsu, khi đó - không chỉ là sự ca ngợi và tôn vinh dành cho Thiên Chúa - là sự mặc khải về bản chất của Thiên Chúa. Nó ảnh hưởng đến sự cứu rỗi mà nó tiết lộ và tuyên bố (Cf. Smith 1995,121, ‘Mô tả về cái chết của Đức Giêsu như sự tôn vinh và vinh quang là một cách nhấn mạnh tính chất mặc khải của nó’).

2.2  Vương quyền của Đức Giêsu

Mặc dù thuật ngữ ‘vương quốc của Chúa’ chỉ xuất hiện trong Gioan 3,3 và 5, lời tuyên xưng Đức Giêsu là ‘Vua’ ngày càng trở nên quan trọng trong phần sau của Tin Mừng. Chủ đề được công bố trong chương đầu tiên khi NathanaEL, một người IsraEL đích thực, tuyên xưng rằng Đức Giêsu là ‘Vua của IsraEL’ (1,49). Sau khi cho 5.000 người ăn, đám đông nhận ra rằng Đức Giêsu là ‘vị ngôn sứ sẽ đến thế gian’ và cố gắng tôn Ngài lên làm ‘vua’ theo điều kiện của họ (6,15). Trong Gioan 12, Đức Giêsu được Maria ở Bêthania xức dầu và cưỡi lừa vào Jêrusalem giữa những cành lá cọ và tiếng reo hò ‘Hosanna!’ Người thuật chuyện trích dẫn sách Dacaria 9,9 để diễn giải cảnh này, ‘Đừng sợ, hỡi con gái Sion. Này, vua của ngươi đang đến, ngồi trên lưng lừa con’ (12,15). Tại phiên tòa, Philatô hỏi Giêsu về vương quyền của Người và giới thiệu Giêsu với đám đông với lời tuyên bố, ‘Này vua của các ngươi!’ (19,14).

Những tham chiếu này hòa trộn với những ám chỉ về sự tôn vinh và tôn cao của Đức Giêsu, chuẩn bị cho người đọc nắm bắt được sự miêu tả về sự đóng đinh của Đức Giêsu như là bước đầu tiên trong quá trình lên ngôi của Người.

2.3  Đức Giêsu là vua của ‘người Do Thái’

Chữ khắc không chỉ tuyên bố Đức Giêsu là ‘vua’. Nó tuyên bố rằng Người là ‘Vua của người Do Thái’, đưa chủ đề về sự phản đối của người Do Thái đối với Đức Giêsu lên đến đỉnh điểm tại thập tự giá. Lời mở đầu cho chúng ta biết rằng Lời (Logos) đã đến ‘với nhà mình, và người nhà đã không tiếp nhận Người’ (1,11). Từ chương 5 trở đi, sự phản đối của “Những người Do Thái” (Ioudaioi) - những người thường xuất hiện như những nhà chức trách tôn giáo - ngày càng gia tăng. Trong mong muốn giết Đức Giêsu, họ cố gắng bắt giữ Người, họ cầm đá chống lại Người, và cuối cùng triệu tập Hội Đồng để âm mưu chống lại Người. Cuộc trò chuyện đầu tiên của Đức Giêsu với Philatô xoay quanh vấn đề về danh tính của Người là vua của người Do Thái. Philatô hỏi, ‘Ngươi có phải là vua của người Do Thái không?’ (18,33). Đức Giêsu không đưa ra câu trả lời trực tiếp mà chuyển câu hỏi trở lại Philatô. Philatô đáp trả một cách chế giễu, “Ta có phải là người Do Thái không?” (18,35), và Đức Giêsu tuyên bố rằng vương quốc của Người không thuộc về thế gian này (18,36). Khi Philatô viết rằng Đức Giêsu thực sự là “Vua của người Do Thái”, ông tuyên bố sự minh oan cho Đức Giêsu. Người Do Thái trong Tin Mừng có thể từ chối quyền tối cao của Đức Giêsu và tuyên bố rằng họ không có vua nào ngoài Xêda (19,15), nhưng họ không thể phế truất vua của mình. Trớ trêu thay, ngay cả khi họ buộc Philatô phải nghe theo lời kêu gọi đóng đinh Đức Giêsu của họ, Philatô vẫn chứng nhận quyền tối cao của Đức Giêsu đối với họ. Sự phản đối của những người Do Thái đối với Đức Giêsu mạnh đến mức dường như họ phản bội lại chính mình và dân tộc mình. Họ thà thừa nhận vua ngoại bang đô hộ là vua của mình, hơn là nhận đức Giêsu.

2.4  Mối quan hệ của Đức Giêsu với “thế gian”

Ý nghĩa của việc khắc dòng chữ bằng ba ngôn ngữ là gì? Các nhà phiên dịch thường lưu ý rằng ba ngôn ngữ - tiếng Do Thái, tiếng La-tinh và tiếng Hy Lạp - đại diện cho ba nền văn hóa gặp nhau ở Juđêa: tiếng Do Thái, ngôn ngữ của Kinh thánh (sách thánh Hípri); tiếng La-tinh, ngôn ngữ của Đế chế; và tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ của nền văn hóa Hy Lạp - ngôn ngữ của tôn giáo, nhà nước và văn hóa. Các nhà phê bình lịch sử đã tự hỏi liệu những người lính thực thi việc hành quyết, có học thức hoặc có khuynh hướng dành thời gian để viết cáo trạng bằng ba ngôn ngữ hay không. Ý nghĩa của chi tiết này, chỉ có ở Gioan, thay vào đó nằm ở mối quan hệ của nó với cách Gioan diễn giải về cái chết của Đức Giêsu.

Trong câu thứ ba của những câu nói về sự nâng lên (12,32), Đức Giêsu tuyên bố rằng nếu Ngài được nâng lên, Ngài sẽ kéo mọi người đến với Ngài. Bây giờ, khi Ngài bị đóng đinh, danh tính Đấng Mêsia thực sự của Ngài được công bố cho tất cả mọi người bằng ba ngôn ngữ của khu vực. Có thể lưu ý đến sự tương đồng với trải nghiệm Lễ Ngũ Tuần trong Công vụ - mỗi người được nghe bằng ngôn ngữ của riêng mình. Đức Giêsu là Vua của người Do Thái, nhưng cái chết của Ngài có ý nghĩa đối với tất cả mọi người. Đó là phương tiện mà Ngài dùng để kéo mọi người đến với Ngài.

Điều này đặt ra câu hỏi liệu bằng cái chết của mình, Đức Giêsu có chiến thắng ‘thế gian’ chống đối Ngài hay không. Trên thực tế, chủ đề ‘Kristus victor’ (Kitô, người chiến thắng) có trong Gioan, mặc dù nó chỉ được gợi lên gián tiếp ở đây. Câu trước câu nói về việc được nâng lên trong Ga 12,32 nói rằng, ‘Bây giờ là lúc phán xét của thế gian này. Bây giờ, kẻ thống trị thế gian này sẽ bị đuổi ra ngoài’ (12,31; cf. 14,30; 16,11). Do đó, sự tôn vinh của Đức Giêsu, tuyên bố về vương quyền của Ngài và việc viết dòng chữ bằng ba ngôn ngữ chứng minh, rằng qua cái chết của mình, Đức Giêsu đã đánh bại ‘kẻ thống trị thế gian này’ và thiết lập một chủ quyền mới. Bây giờ, tất cả mọi người nên thừa nhận Ngài là vua của họ. Hàm ý tự nhiên của lễ đăng quang của một vị vua mới là quyền thống trị mới tạo ra một cộng đoàn mới, và chúng ta sẽ thấy điều này được mô tả trong các cảnh sau.

2.5  Dòng chữ khắc là lời cuối cùng của Philatô liên quan đến Đức Giêsu

Tính cách của Philatô cũng được phát triển chi tiết hơn trong Gioan so với bất kỳ Tin Mừng nào khác. Trong phiên tòa được dàn dựng khéo léo gồm bảy cảnh, Philatô di chuyển qua lại giữa Giêsu bên trong và các nhà chức trách Do Thái bên ngoài, những người với sự mỉa mai lớn sẽ không vào sân trong (Praetorium) vì sợ bị ô uế - ngay cả khi họ yêu cầu giết một người vô tội. Philatô hỏi Giêsu liệu ông có phải là vua của người Do Thái không, tuyên bố ông vô tội ba lần, đánh đòn ông, đề nghị thả một tù nhân và chất vấn Giêsu về thẩm quyền của ông. Philatô có phải là một nhân vật mạnh mẽ kiểm soát toàn bộ quá trình tố tụng hay là một nhân vật yếu đuối dễ bị tổn thương trước cả Giêsu và người Do Thái? Tôi nghĩ rằng Philatô là một nhân vật yếu đuối. Những lập luận mô tả một Philatô mạnh mẽ dựa trên các tài liệu tham khảo của Josephus về Philatô hoặc khả năng lịch sử nội tại không thể trọng lượng hơn khi giải thích cách Gioan mô tả đặc điểm Philatô so với các lập luận liên quan đến Giêsu lịch sử hoặc Gioan lịch sử khi chúng ta giải thích cách Gioan về mô tả đặc tính của Đức Giêsu hoặc Người môn đệ được yêu dấu. Cách Tác giả Tin Mừng thứ tư mô tả Đức Giêsu và tông đồ Gioan có thể rất khác so với Đức Giêsu và Gioan lịch sử, và hình ảnh Philatô dưới ngòi bút thần học của tác giả Tin Mừng thứ tu cũng vậy. Đó là một Philatô yếu đuối. Điểm yếu của Philatô thể hiện rõ ở chỗ người Do Thái buộc Philatô phải ra trước mặt họ, và mặc dù ông tuyên bố Đức Giêsu vô tội ba lần, nhưng cuối cùng Philatô vẫn giao nộp Người.

Giống như trong các cuộc đối thoại khác trong Tin Mừng, mối quan tâm duy nhất của Đức Giêsu là câu trả lời của Philatô với Người, ‘Ngươi tự ý nói điều này hay vì người khác đã nói với ngươi về Ta?’ (18,34). Philatô trả lời những gì ông nghe được từ người khác. Các nhà chức trách yêu cầu Đức Giêsu phải chết vì khi tự nhận mình là Con Thiên Chúa, ông đã phạm tội phạm thượng theo luật của họ. Trong Gioan 19,8, người thuật chuyện kể rằng khi Philatô nghe từ này, ông càng sợ hãi hơn. Câu này nghĩa mơ hồ. Philatô càng sợ hãi hơn vì ông nhận ra rằng các nhà chức trách sẽ không hài lòng với bất cứ điều gì ngoài cái chết của Đức Giêsu, hay ông càng sợ hãi hơn vì sau khi thẩm vấn Đức Giêsu, ông sợ rằng những lời tuyên bố của Đức Giêsu có thể là sự thật? Do đó, ông sẽ không chỉ xử tử một người vô tội mà còn là Con của Thiên Chúa!

Giống như những người khác trong Tin Mừng, đặc biệt là người phụ nữ Samari và người đàn ông mù, Philatô dường như từng bước thực hiện ít nhất một lời thú nhận một phần. Trong 19,5, Philatô nói với đám đông, ‘Này, là người.’ Sau khi Philatô nghe trong câu 8 rằng Đức Giêsu tự nhận mình là Con Thiên Chúa, ông hỏi Đức Giêsu câu hỏi quan trọng của Gioan về nguồn gốc của Người: ‘Ngươi từ đâu đến?’ (c. 9). Tuyên bố cuối cùng của Philatô, không thể không pha chút mỉa mai, là ‘Này, là vua các ngươi!’ (c. 14). Ít nhất, Gioan đã buộc Philatô phải đưa ra lời thú nhận thực sự. Mặt khác, chúng ta cũng có thể dễ dàng suy ra rằng, sau khi tuyên bố Đức Giêsu vô tội, Philatô nghi ngờ rằng những tuyên bố của Đức Giêsu là đúng và đưa ra phán quyết thực sự của mình trong sắc lệnh được viết ra, ‘Giêsu, người Nadarét, Vua dân Do Thái.’

Bản báo cáo của Gioan về dòng chữ khắc trên thập tự giá chứng tỏ có nhiều ẩn ý diễn giải cái chết của Đức Giêsu trong bối cảnh của Gioan. Bản chữ khắc tuyên bố Đức Giêsu được đăng quang làm vua, danh tính đấng cứu thế của Người là vua của người Do Thái, Người đã đánh bại ‘kẻ thống trị thế giới này’ và thực hiện lời hứa thu hút mọi người về với Người. Gioan đã lấy một yếu tố từ truyền thống và lấp đầy nó bằng một ý nghĩa mới.

3.     CHIẾC ÁO KHÔNG ĐƯỜNG CHỈ (cc. 23-24)

Việc rút thăm là một yếu tố truyền thống khác của cảnh đóng đinh được ghi lại trong cả ba sách Tin Mừng nhất lãm (Mc 15,24). Gioan đặt cảnh này sau phần tường thuật về bản chữ khắc. Trong khi các sách Tin Mừng nhất lãm mô tả cảnh này trong sáu đến mười hai từ, Gioan mở rộng cảnh phân chi áo thành 67 từ.

3.1  Trích dẫn

Trong cảnh mở rộng này, Gioan tường thuật rằng những người lính đã chia trang phục của Đức Giêsu thành bốn phần, mỗi người lính một phần. Vì bộ áo choàng của Đức Giêsu không có đường may nên những người lính đã rút thăm để lấy chiếc áo dài thay vì lấy tất cả các trang phục của Người. Câu chuyện của Gioan về những bộ quần áo do đó ứng nghiệm chính xác hơn Tv 22,19, mà Gioan trích dẫn bản Bảy Mươi (Tv 21,19) theo công thức ứng nghiệm. Việc tách chiếc áo dài ra khỏi phần còn lại của quần áo của Đức Giêsu, và lưu ý rằng nó không có đường may và rằng những người lính không muốn xé nó thành từng mảnh, mời gọi người phiên dịch đào sâu hơn vào ý nghĩa của chiếc áo dài không có đường may trong bối cảnh của Gioan.

3.2  Áo dài không có đường may, được dệt ‘từ trên xuống’

Một trong những manh mối đầu tiên mà người đọc được cung cấp là áo dài được dệt từ trên xuống (ἐκ τῶν ἄνωθεν, c.23). Từ ἄνωθεν xuất hiện trong ba bối cảnh khác trong Gioan. Nicôđêmô được cho biết rằng ông phải được sinh ra ἄνωθεν, mà ông đã nhầm lẫn khi cho rằng đó là sự ám chỉ đến một sự sinh ra về mặt thể xác khác, trong khi Đức Giêsu đang thách thức ông phải sinh ra một lần nữa từ trên cao, sự sinh ra của Thần Khí (3,3.7). Ngay sau đó, Đức Giêsu hoặc người thuật chuyện của Gioan khẳng định rằng ‘đấng đã đến từ trên cao thì ở trên hết mọi người’ (3,31), và nhắc lại lời khẳng định đó ở cuối câu thơ rằng, ‘đấng đã đến từ thiên đàng thì ở trên hết mọi người’. Trong cuộc trò chuyện của Giêsu với Philatô, ông đã bác bỏ lời cảnh báo của vị tổng trấn rằng bằng cách trả lời rằng Philatô không có thẩm quyền nào ngoại trừ thẩm quyền được ban cho ông ‘từ trên cao’ (19,11). Các nhà bình luận đã lưu ý đến sự chơi chữ ở đây, Quyền hạn của Philatô được hoàng đế La Mã trao cho ông, nhưng theo nghĩa xa hơn, ông chỉ có thể đưa Giêsu đến cái chết vì được Chúa trao cho quyền đó. Sự đảo ngược ở đây là Đức Giêsu và Chúa Cha là một (10,30), và Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống của mình trong Gioan (10,18). Philatô không thể kết án Đức Giêsu phải chết nếu Ngài không vâng lời Chúa Cha và đã quyết tâm hy sinh mạng sống của mình vì ‘những người của mình’.

Bây giờ, tại thập tự giá, những từ quan trọng này, là ἐκ τῶν ἄνωθεν, lại xuất hiện trong mô tả của người thuật chuyện về chiếc áo dài liền mạch. Nó được tạo ra theo cách này, được dệt từ trên xuống toàn bộ chiếc áo. Gioan thường sử dụng các tham chiếu đến các chi tiết thể lý theo những cách kịch tính. Người phụ nữ Samari để lại chiếc bình của mình bên giếng (4,28), những chiếc bánh dùng để nuôi đám đông được làm từ lúa mạch (6,9), khi Giuđa ra ngoài thì trời đã tối (13,30), khi các môn đệ nhìn vào ngôi mộ trống, họ thấy những tấm vải liệm nằm ở đó (20,6-7), và sau đó chúng ta sẽ được kể rằng ngay cả sau khi đánh bắt được nhiều cá, lưới vẫn không bị rách (21,11), và ngọn lửa trên bờ là ngọn lửa than, giống như ngọn lửa trong sân khi Phêrô chối Đức Giêsu (18,18; 21,9). Thiết kế liền mạch của chiếc áo dài mà Đức Giêsu để lại là ‘từ trên cao’ xuống. Do đó, có thể không quá lời khi nói rằng những gì đang xảy ra tại thập tự giá đều là một phần của bức tranh thêu về thiết kế mang tính cứu chuộc của Chúa.

3.3  Chiếc áo dài không rách

Việc chiếc áo dài là một mảnh liền, và những người lính quyết định không xé nó (μὴ σχίσωμεν), cho thấy chiếc áo dài liền mạch có liên quan đến việc Gioan nhấn mạnh nhiều lần về sự hiệp nhất của Giáo Hội. Đức Giêsu tuyên bố rằng sẽ có một đàn chiên, một người chăn (10,16), và khi được nâng lên, Ngài sẽ tập hợp mọi người lại với Ngài (12,32). Người thuật chuyện của Gioan tiếp tục chủ đề trong 11,52, bình luận rằng Đức Giêsu sắp chết để Ngài có thể tập hợp thành một những đứa con của Chúa đã bị phân tán. Đức Giêsu và Chúa Cha là một (10,30), và Đức Giêsu đã cầu nguyện rằng các môn đệ của Ngài có thể là một, giống như Ngài và Chúa Cha là một (17,11.21.22.23). Như chúng ta đã lưu ý, lưới chứa mẻ cá lớn, có thể tượng trưng cho sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội, cũng không rách (οὐκ ἐσχίσθη, 21,11).

Theo nghĩa bóng, qua mô tả về chiếc áo dài liền mạch, Gioan gắn kết cái chết của Đức Giêsu với chủ đề về sự hiệp nhất. Khi ông thu hút mọi người đến với mình, ông thu hút họ vào một thân thể, một cộng đoàn. Do đó, sự hiệp nhất của Giáo Hội được đặt nền tảng trên thiết kế của Chúa. Những gì Chúa dệt, Chúa dệt toàn bộ, từ trên cao. Sự hiệp nhất của Giáo Hội dựa trên nguồn gốc chung của nó, tại thập tự giá. Tuy nhiên, cuối cùng, Gioan nhấn mạnh rằng sự hiệp nhất của các tín hữu bắt nguồn từ sự hiệp nhất của Đức Giêsu với Chúa Cha, vì vậy, giống như Đức Giêsu là một với Chúa Cha, ‘những người của Ngài’ sẽ tìm thấy sự hiệp nhất của họ thông qua sự hiệp nhất của họ với Ngài. Chỉ có một cây nho, một lưới, một đàn chiên, một người chăn, một Người Con, một chiếc áo dài liền mạch được dệt từ trên xuống.

Một lần nữa, Gioan đã lấy một yếu tố truyền thống của cảnh đóng đinh và phát triển nó theo cách riêng của mình để trong bối cảnh lớn hơn của Tin Mừng, nó mang thêm ý nghĩa và phục vụ cho việc diễn giải thêm ý nghĩa của cái chết của Đức Giêsu trên thập tự giá.

4.     MẸ CỦA ĐỨC GIÊSU VÀ NGƯỜI MÔN ĐỆ NGƯỜI YÊU (cc. 25-27)

Mỗi sách Tin Mừng khác đều nêu tên những người phụ nữ đứng cạnh khi Đức Giêsu bị treo trên thập tự giá. Trong các sách Tin Mừng khác, sự hiện diện của những người phụ nữ như những chứng nhân cái chết của Đức Giêsu được nói đến sau khi cái chết của Người được tường thuật. Gioan đưa bối cảnh về phía trước và là sách Tin Mừng duy nhất ghi lại cuộc trao đổi giữa Đức Giêsu với mẹ Người và Người Môn đệ Yêu Dấu. Tất nhiên, Gioan cũng là sách Tin Mừng duy nhất ghi lại sự hiện diện của một môn đệ duy nhất tại thập tự giá, trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm các môn đệ bỏ trốn hết. Trong số những người phụ nữ tại thập tự giá, Mátthêu và Máccô nêu tên ‘Maria, mẹ của Giacôbê và Giuse,’ nhưng Gioan là người duy nhất ghi lại sự hiện diện của thân mẫu của Đức Giêsu. Gioan dường như liệt kê bốn người phụ nữ tại thập tự giá, mẹ của Đức Giêsu, chị gái của bà, Maria, vợ của Clopas và Maria Mađalêna.

4.1  Một cảnh mang tính biểu tượng

Đức Giêsu nhìn thấy mẹ mình và Người Môn Đệ Yêu Dấu, và nói với mẹ mình, ‘Này người phụ nữ, đây là con bà,’ và nói với Người Môn Đệ Yêu Dấu, ‘Đây là mẹ của con,’ và người thuật chuyện kể rằng ‘từ giờ đó’, người môn đệ đã đưa bà về nhà mình. Qua nhiều thế kỷ, các nhà giải thích đã nghi ngờ rằng cảnh này có ý nghĩa biểu tượng. Có một chi tiết khiến chúng ta để là cả mẹ của Đức Giêsu và Người Môn Đệ Yêu Dấu đều không được nêu tên. Người ta cho rằng người mẹ và Người Môn Đệ Yêu Dấu đại diện cho một Ađam và Eva mới, IsraEL và Giáo hội, hoặc Kitô giáo Do Thái và Kitô giáo dân ngoại. Tôi tin rằng ý nghĩa biểu tượng của cảnh này không phải được tìm kiếm trong các ý nghĩa biểu tượng không hợp thời hoặc không liên quan đến Tin Mừng, mà là trong hình ảnh biểu tượng gắn liền với các chủ đề được phát triển trong chính Tin Mừng. Như thường thấy, mẹ của Đức Giêsu chỉ xuất hiện một lần ở nơi khác trong Tin Mừng, tại tiệc cưới ở Cana. Cảnh này theo một số khía cạnh là cảnh tương ứng của Gioan với cảnh trong Tin Mừng Nhất lãm mà Đức Giêsu hỏi ai là mẹ và anh em của Ngài (Mc 3,32-35; Lc 8,19-21). Câu trả lời gay gắt của Đức Giêsu với mẹ không phải là để che đậy trong nỗ lực sai lầm nhằm cứu vãn sự lịch sự của Đức Giêsu. Bằng câu trả lời của mình, Ngài đã tách mình khỏi mẹ mình. Từ nay trở đi, các mối quan hệ huyết thống sẽ là thứ yếu so với những mối quan hệ được sinh ra bởi tinh thần và được duy trì bởi đức tin. Ngài nói với Nicôđêmô trong chương tiếp theo rằng Ngài phải được sinh ra từ trên cao, bởi nước và Thần Khí. Những gì là xác thịt là xác thịt, và những gì là Thần Khí là Thần Khí (3,3-8). Những người anh em huyết thống của Đức Giêsu chỉ xuất hiện một lần trong Tin Mừng, ở đầu chương bảy, và ở đó người thuật chuyện kể rằng anh em của Ngài không tin vào Ngài (7,5). Tệ hơn nữa, thế gian không thể ghét họ, như thế gian ghét Ngài (7,7). Các mối quan hệ huyết thống của Đức Giêsu hoàn toàn vượt qua khi Ngài hoàn thành công việc mà Chúa Cha đã giao cho Ngài làm.

4.2  Người Môn đệ Được Yêu

Người Môn đệ Được Yêu được giới thiệu trong Gioan 13,23 với một đặc điểm đơn giản nhưng rõ ràng có ý nghĩa. Ông là môn đệ mà Đức Giêsu yêu thương, và ông dựa vào ngực Đức Giêsu (ἐν τῷ κόλπῳ τοῦ Ἰησου) - cũng giống như Đức Giêsu, người con duy nhất của Chúa Cha được giới thiệu ở phần cuối của lời mở đầu là ‘ở trong lòng Chúa Cha’ (1,18). Môn đệ được yêu thương xuất hiện ở tất cả các khoảnh khắc quan trọng của các sự kiện trung tâm của Tin Mừng, Ông ở trên ngực Đức Giêsu trong bữa ăn cuối cùng của Người, ông đưa Phêrô vào sân trong khi Đức Giêsu bị xét xử, ông đứng cạnh mẹ Đức Giêsu dưới chân thập giá, ông chạy cùng Phêrô đến ngôi mộ trống và là người đầu tiên, cũng là người duy nhất tin vào sự phục sinh ngay khi ông nhìn thấy những tấm vải liệm nằm ở đó, và ông là người đầu tiên nhận ra Chúa phục sinh tại Biển Galilê. Trong những câu kết thúc của Tin Mừng, Chúa phục sinh nói rằng Môn đệ được yêu sẽ làm chứng thực sự, và biên tập viên cuối cùng nói rằng Môn đệ được yêu thương là người đã viết những điều này và ‘chúng ta’ (cộng đoàn Gioan) biết rằng lời chứng của ông là có thật. Môn đệ được yêu đóng vai trò là người đại diện cho cộng đoàn Gioan; ông là người sáng lập và là người có thẩm quyền tông đồ của cộng đoàn.

4.3  Mẹ của Đức Giêsu

Những liên tưởng tượng trưng về mẹ của Đức Giêsu trong cảnh này khó xác định hơn. Trong cả hai cảnh mẹ của Đức Giêsu xuất hiện, Người gọi bà là ‘người phụ nữ’. Trong bài diễn văn từ biệt, như một phần trong cách diễn giải của Đức Giêsu về sự ra đi của mình, Đức Giêsu đã nhắc đến hình ảnh người phụ nữ đang chuyển dạ, khi đến giờ của mình, bà sinh ra một đứa con và không còn nhớ đến cơn đau chuyển dạ nữa (16,21).

Trong Tin Mừng Luca, mẹ Maria được cho biết rằng một thanh gươm sẽ đâm thấu tim bà (2,35). Trong Tin Mừng này, mẹ của Đức Giêsu đã nhận được một đứa con trai trên thập tự giá. Một mối liên hệ xa hơn nhưng không phải là không hợp lý có thể được tạo ra với hình ảnh người phụ nữ mặc áo mặt trời trong Khải Huyền 12,1-2, người sinh ra một đứa con trai được đưa lên trời, nhưng con thú vẫn tiếp tục ngược đãi người phụ nữ và ‘những người còn lại trong dòng dõi bà, những người tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa và có lời chứng của Đức Giêsu’ (Kh 12,17).

4.4  Ngôn ngữ biểu hiện

Bây giờ, tại thập tự giá, khi giờ của Đức Giêsu đã đến, Đức Giêsu sử dụng một công thức mặc khải “này” và ngôn ngữ biểu tả. Giống như một lời tuyên bố về hôn nhân, lời tuyên bố của Người thực sự hoàn thành hoặc tác động đến mối quan hệ mới mà nó tuyên bố. Bằng lời tuyên bố của mình, Đức Giêsu tạo nên một gia đình mới, mẹ và con trai.

4.5  ‘Những đứa con của Chúa’

Ngay từ đầu, Tin Mừng Gioan đã sử dụng phép ẩn dụ về mối quan hệ họ hàng để mô tả mối quan hệ mới của người tin với Chúa. Những người đáp lại sự mặc khải trong Đức Giêsu - những người được Chúa Cha kêu gọi, thu hút và lựa chọn và tin vào danh Đức Giêsu - được trao quyền để trở thành ‘con cái của Thiên Chúa’ (1,12). Hơn nữa, người thuật chuyện đã giải thích rằng Đức Giêsu không chỉ chết cho dân, mà còn để tập hợp tất cả những đứa con bị phân tán của Chúa lại với nhau (11,52).

4.6  Sự hình thành của một gia đình mới

Sự hình thành của gia đình mới này tại thập tự giá tạo nên hạt nhân cho cộng đoàn những người tin. Cộng đoàn Gioan coi Người Môn đệ Yêu Dấu là nhân chứng tận mắt, là mối liên kết của họ với Đức Giêsu. Không thể tránh khỏi, cộng đoàn sẽ đồng nhất với Người Môn đệ Yêu Dấu trong cảnh này. Địa vị mới của họ bắt đầu từ cây thập tự. Địa vị mới của những người theo Đức Giêsu một lần nữa được báo hiệu trong những lần hiện ra sau khi phục sinh. Đức Giêsu bảo Maria Mađalêna đi và nói với ‘các anh em’ của mình rằng, ‘Ta sẽ lên cùng Cha của Ta và Cha của anh em, cùng Thiên Chúa của Ta và Thiên Chúa của anh em’ (20,17), và Maria đã đi và nói với các môn đệ của Người rằng bà đã thấy Chúa và rằng Người đã nói những điều này. Ý nghĩa rất rõ ràng. Các môn đệ bây giờ đã trở thành anh em của Người. Gia đình mới đã được thành lập. Một lần nữa, Gioan đã lấy một yếu tố truyền thống của câu chuyện về cuộc khổ nạn (những người phụ nữ ở cây thập tự) và phát triển nó theo cách riêng của mình, thêm vào sự hiện diện của Người Môn đệ Yêu Dấu và những lời của Đức Giêsu với mẹ của mình và Người Môn đệ Yêu Dấu. Hiến pháp của cộng đoàn mới trong cảnh này là hành động cuối cùng của Đức Giêsu trước khi người thuật chuyện tường thuật rằng Đức Giêsu biết “mọi sự đã hoàn tất” (19,28). Những gì Đức Giêsu đã hoàn thành trên thập tự giá được mô tả trong cảnh quan trọng này là hiến pháp của một cộng đoàn mới, cộng đoàn “những kẻ thuộc về Người”. Do đó, ý nghĩa cứu chuộc của thập tự giá trong Gioan không chỉ là cá nhân mà còn là tập thể. Hơn cả một lý thuyết cơ bản về sự chuộc tội, Gioan có một giáo hội học cơ bản về thập tự giá.

5.     LỜI CUỐI CÙNG CỦA ĐỨC GIÊSU, “TA KHÁT” VÀ “MỌI VIỆC ĐÃ HOÀN THÀNH” (cc. 28-30)

Mỗi sách Tin Mừng nhất lãm đều kể về việc mang rượu cho Đức Giêsu. Trong Mátthêu và Máccô, nó theo sau tiếng kêu của Đức Giêsu về sự bỏ rơi của Cha. Trong Luca, nó là một phần trong sự chế giễu Đức Giêsu. Trong Gioan, việc ban rượu giấm cũng liên quan đến lời của Đức Giêsu, nhưng ở đây tự nhiên hơn vì Đức Giêsu nói rằng Người “khát”. Đặc biệt, ​​Gioan duy trì yếu tố này của truyền thống và sử dụng nó để phục vụ cho thần học của mình. Trong số các sách Tin Mừng, chỉ có Gioan tuyên bố rõ ràng rằng việc ban rượu giấm đã ứng nghiệm lời Kinh thánh. Tuy nhiên, trái ngược với những tuyên bố về sự ứng nghiệm trong câu 24 về việc chia áo trong của Chúa và các câu 36 (không cái xương nào bị gãy) và 37 (nhìn xem Đấng họ đâm thâu), đoạn Kinh thánh nói về việc trao rượu giấm không được trích dẫn.

5.1  Sự nhấn mạnh đến sự hoàn tất

Người đọc có thể nhận thấy sự nhấn mạnh lặp lại về sự hoàn tất trong những câu. Người thuật chuyện thuật lại rằng Đức Giêsu biết rằng mọi thứ giờ đã hoàn tất. Phân từ εἰδὼς xuất hiện trong hai bối cảnh khác trước đó trong Gioan. Trong 13,1, người thuật chuyện thuật lại rằng ‘Đức Giêsu biết rằng giờ của Ngài đã đến để rời khỏi thế gian này đến với Cha,’ và trong khu vườn, người thuật chuyện thuật lại rằng Đức Giêsu ‘biết mọi điều sẽ xảy đến với mình,’ đã bước tới để nói chuyện với những kẻ đối phương (18,4).

5.2  Sự hoàn thành sứ mệnh của Đức Giêsu

Ở đây, sau khi thành lập gia đình mới của ‘chính mình’ và biết rằng mình đã hoàn thành mọi điều mình phải làm, Đức Giêsu nói rằng Ngài khát. Người thuật chuyện bình luận rằng Đức Giêsu nói rằng Ngài khát để hoàn thành lời Thánh Kinh. Thuật ngữ được sử dụng ở đây là bất thường; nó có cùng gốc với gốc trong phần đầu của câu 28 và trong lời cuối cùng của Đức Giêsu trong câu 30, ‘Mọi việc đã hoàn tất.’ R. Brown (1994.2,1070) nhận xét rằng ‘Gioan muốn nhấn mạnh một cách mạnh mẽ về cách Đức Giêsu chết chỉ sau khi Ngài đã chấm dứt những gì Ngài đến để làm.’ Lời mở đầu nêu rằng Đức Giêsu đến để cho Chúa Cha được mọi người biết (1,18), và Gioan the Người Dìm chỉ ra Đức Giêsu cho các môn đệ của mình là ‘Chiên Thiên Chúa, Đấng cất tội lỗi thế gian’ (1,29.36). Người thuật chuyện kể lại rằng Đức Giêsu đã trao quyền cho những ai tin vào Ngài để trở thành ‘con cái của Thiên Chúa’ (1,12), và Đức Giêsu nói rằng Ngài đã đến để chiên của Ngài có sự sống và để chúng có sự sống đó một cách dồi dào (10,10), và rằng Ngài đến để làm chứng cho sự thật (18,37). Trong suốt chức vụ của mình, Đức Giêsu chỉ chuyển động ứng với cảm nhận của riêng mình về thời gian. Không ai lấy đi sự sống của Ngài. Để ứng nghiệm Gioan 10,18, Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống của mình - nhưng chỉ sau khi Ngài đã hoàn thành công việc mà Chúa Cha đã giao cho Ngài làm. Do đó, trong Tin Mừng Gioan, cái chết của Đức Giêsu đánh dấu sự hoàn thành sứ mệnh của Người là làm cho Chúa Cha được biết đến, xóa bỏ tội lỗi của thế gian, làm chứng cho sự thật và ban sự sống dồi dào cho ‘những người thuộc về Người’.

5.3  Cơn khát của Đức Giêsu

Người ta thường đồng ý rằng những bản văn Cựu Ước có khả năng nhất cho đoạn Kinh thánh được đề cập là Tv 69,21 hoặc 22,15; cả hai đều được trích dẫn ở những nơi khác trong những câu chuyện về cuộc khổ nạn. Tv 69 đề cập cụ thể đến cơn khát và những người phản đối cho người công chính uống giấm. Tuy nhiên, vì dữ liệu tham khảo trong Kinh thánh không được trích dẫn, nên có vẻ như không chắc chắn rằng ý nghĩa của cơn khát của Đức Giêsu chủ yếu nằm ở sắc thái của văn bản Cựu Ước (Cf. Brawley 1993,427-43; Culpepper 1996,199-205). Thay vào đó, chúng ta phải một lần nữa tìm kiếm ý nghĩa của cơn khát của Đức Giêsu trong chính Tin Mừng.

Mối liên hệ của τελειωθῇ (được hoàn tất) với công việc của Đức Giêsu và với cơn khát gợi nhớ đến những tham chiếu trước đó về cơn khát (và cơn đói) trong Tin Mừng, đặc biệt là Gioan 4 và Gioan 7,37-39. Kinh thánh đóng vai trò quan trọng trong cả hai đoạn văn. Người phụ nữ Samari nhớ lại ‘cha chúng ta là Jacob’, người đã đào giếng để thỏa cơn khát của họ; Gioan 7,38-39 đề cập đến một đoạn văn khó hiểu khác trong kinh thánh và dự báo về việc ban Thần Khí khi Đức Giêsu được tôn vinh. Bất kể người ta có đọc Gioan 19,28-29 như một sự lặp lại của Tv 69,21 hay không, bất kỳ độc giả nào bỏ lỡ mối liên hệ trong Gioan 19,28-29 với các tham chiếu về cơn khát trước đó trong Tin Mừng sẽ bỏ lỡ nhiều ý nghĩa tượng trưng, ​​ẩn dụ và mỉa mai trong lời tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Giêsu. Trong Gioan, thức ăn và đồ uống đối với Đức Giêsu là biểu tượng của một thực tại cao hơn. Tương tự như vậy, khi Phêrô cố gắng ngăn cản việc bắt giữ Đức Giêsu, Đức Giêsu đã trả lời, ‘Ta sẽ không uống chén mà Cha đã trao cho Ta sao?’ (18,11). Bây giờ, khi đã hoàn thành mọi điều mình phải làm, Đức Giêsu khát. Ngài đã sẵn sàng uống ngụm cuối cùng từ chiếc chén được trao cho Ngài. Chỉ trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu mới thực sự uống rượu chua được trao cho Ngài, và khi làm như vậy, Ngài ngụ ý cho việc uống chén đau khổ khi Ngài chết. Do đó, khi Đức Giêsu nói, ‘Ta khát’, Ngài không chỉ chỉ ra sự ứng nghiệm của Kinh thánh và sự ứng nghiệm của lời hứa ban nước sống cho những ai đến với Ngài; Ngài cũng ngụ ý nói về cho sự chết của chính Ngài.

5.4  Sự ứng nghiệm của Kinh thánh

Trong một số dữ liệu tham khảo khác về sự ứng nghiệm của Kinh thánh trong sách Gioan, văn bản tiền thân cũng không được xác định (x. Ga 2,22; 7,42; 17,12; 20,9). Trong mỗi câu này, như trong Gioan 19,28, có một dữ liệu tham khảo rõ ràng về Kinh thánh hoặc về sự ứng nghiệm này, các nhà chú giải hiện đại đã gợi ý rằng Tin Mừng có thể có nhiều hơn một văn bản được xem xét. Về cả hình thức và hiệu ứng, những tham chiếu này khác biệt đáng kể so với các tham chiếu về sự ứng nghiệm của sách Thánh trong đó một văn bản cụ thể được trích dẫn. Trong Gioan 19,28-29, nhiều yếu tố khác nhau của Sách Thánh được ứng nghiệm, người công chính khát, rượu chua được ban cho, cây kinh giới được sử dụng và Đức Giêsu từ bỏ Thần Khí.

5.5  Cây hương bài

Tất nhiên, việc nhắc đến cây hương bài báo hiệu sự ứng nghiệm của chủ đề Xuất hành trong Tin Mừng Gioan. Người thuật chuyện nói với người đọc ngay từ đầu rằng trong khi luật pháp đến qua Môsê, thì ‘ân sủng và chân lý đã đến qua Giêsu’ (1,17). Đức Giêsu đã được công bố với các môn đệ là ‘người mà Môsê và các tiên tri đã viết’ (1,45). Việc ‘nâng lên’ của Đức Giêsu sẽ giống như việc Môsê nâng con rắn bằng đồng lên trong sa mạc (3,14). Môsê không lên án Đức Giêsu, nhưng làm chứng về Người (5,45-46). Giống như Môsê, Đức Giêsu nuôi dưỡng đám đông trong sa mạc và băng qua biển, chứng minh rằng chính Người là bánh sự sống đích thực, đã từ trên cao xuống. Chủ đề về việc Đức Giêsu ứng nghiệm vai trò của Môsê hoặc ‘vị ngôn sứ giống như Môsê’ đã hứa (Đnl 18,15.18) lên đến đỉnh điểm tại thập tự giá. Đức Giêsu cũng chết vào giờ giết những con chiên Vượt qua; thực hiện quy tắc giết chiên Vượt Qua, chân của Người không bị gãy; và ông uống rượu giấm từ cây hương bài được dâng cho Người khi Người chết.

5.6  Sự trớ trêu của cơn khát của Đức Giêsu

Những sự trớ trêu rõ ràng trong cảnh này cần được bình luận (cf. Moore 1993,207-27; idem 1994,43-64; Witkamp 1996,489-510). Những mâu thuẫn khó có thể trớ trêu hơn hoặc mạnh mẽ hơn, người cho nước hằng sống lại khát, sự thiếu hụt hoàn thành, việc trao rượu đi với ác ý, và việc uống làm cơn khát trầm trọng hơn. Tương tự như vậy, có một dữ liệu tham khảo về sự ứng nghiệm của Sách Thánh, nhưng câu văn không được trích dẫn. Sách Thánh không có mặt mà vắng mặt trong sự ứng nghiệm của nó. Trái ngược với những diễn giải gần đây do Werner Kelber và Stephen Moore đề xuất, khi Đức Giêsu nói rằng Người khát, người đọc không tưởng tượng rằng người đã cung cấp nước hằng sống sẽ không thể cung cấp nó. Ngược lại, người ta nắm bắt được sự trớ trêu cơ bản của câu chuyện về cuộc khổ nạn, rằng sự sống chỉ đến qua cái chết, rằng Đức Giêsu chỉ có thể ban nước sống cho người khác nếu chính Người khát (tức là chỉ khi Người hoàn thành sứ mệnh của mình). Bối cảnh của câu chuyện gợi ý sự hoàn thành hơn là sự thất vọng về lời đề nghị nước sống của Đức Giêsu: (1) khi chết, Đức Giêsu tuyên bố công việc của Người đã hoàn thành (‘Mọi sự đã hoàn tất’); (2) Người trút hơi thở cuối cùng, và sự mơ hồ hoặc chơi chữ cho thấy rằng có nhiều điều đang được nói đến hơn là chỉ đơn giản là Người đã chết (trao thần khí); và (3) khi cạnh sườn Người bị đâm thủng, nước và máu chảy ra từ Người (tương đồng với Gioan 7,37-39). Bị đánh đập, chảy máu và kiệt sức, Đức Giêsu không thể đáp ứng được những nhu cầu cơ bản nhất của mình. Bằng cách chịu đựng cơn khát cuối cùng này, Đức Giêsu tuôn đổ nước sự sống sẽ trở thành một nguồn nước trào lên sự sống vĩnh cửu (4,14). Câu thơ của nhà thơ Ben Jonson, ‘cơn khát từ tâm hồn dâng lên xin một thức uống thiêng liêng’ (The Forest, ix: To Celia), mô tả cơn khát của Đức Giêsu cũng như cơn khát của những người tìm kiếm nước sống từ Người.

5.7  Trao ban Thần Khí

Lời tường thuật của người thuật chuyện rằng Đức Giêsu cúi đầu và ‘trao ban Thần Khí’ (19,30) cộng hưởng với lời bình luận của người thuật chuyện trong Gioan 7,39 rằng Thần Khí vẫn chưa được ban cho vì Đức Giêsu vẫn chưa được tôn vinh. Trong bài diễn văn từ biệt, Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ của mình rằng tốt hơn cho họ là Người ra đi vì khi Người ra đi, Người sẽ sai Đấng Bảo Trợ đến ở cùng họ (16,7). Do đó, người đọc đã được chuẩn bị để hiểu rằng khi Đức Giêsu chết, Thần Khí sẽ đến từ Đức Giêsu và Chúa Cha để hướng dẫn cộng đoàn các môn đệ sau khi Đức Giêsu chết. Tác giả đã đang tinh tế nhắc nhở người đọc về lời hứa này thông qua cách ông kể lại cái chết của Đức Giêsu. Không cần phải giải thích thêm, chúng ta có thể lưu ý một lần nữa rằng Tin Mừng của Gioan đã sử dụng các yếu tố truyền thống của câu chuyện về cuộc khổ nạn - những lời cuối cùng của Đức Giêsu, việc trao rượu giấm và cái chết của Đức Giêsu - và sử dụng chúng để hoàn thành các chủ đề quan trọng đã được phát triển trước đó trong Tin Mừng. Và một lần nữa cái chết của Đức Giêsu đã được giải thích với sự nhấn mạnh vào ý nghĩa của nó đối với cộng đoàn tín đồ, Bằng cái chết của mình, Đức Giêsu đã hoàn thành công việc mà Chúa Cha đã giao cho Ngài làm; Ngài đã yêu thương những người của mình cho đến cùng (Cf. 13,1); Ngài đã hoàn thành các lời Sách Thánh, đặc biệt là cơn khát của người công chính khi Ngài chết và việc sử dụng cây hương bài trong cuộc Xuất hành; Ngài cung cấp nước sự sống; và Ngài trao ban Thánh Linh mà Ngài đã hứa khi Ngài chết. Do đó, thần học về thập tự giá của Gioan được phát triển một cách khéo léo trong phương thức tường thuật của Tin Mừng. Bằng cách đọc lời tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Giêsu, người ta có thể nắm bắt lại ý nghĩa của nó và tiếp thu một cách chủ động những gì nó đã hoàn thành trong lịch sử.

6.     Ý NGHĨA GIÁO HỘI HỌC CỦA CÁI CHẾT CỦA ĐỨC GIÊSU

Trong suốt phần bình luận này về tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Giêsu, tôi đã gợi ý rằng Gioan liên tục phát triển các yếu tố của truyền thống theo những cách tỏ lộ ý nghĩa của cái chết của Đức Giêsu. Khi giới thiệu mỗi cảnh trong bốn cảnh này trên cây thánh giá, chúng ta đã lưu ý rằng Gioan đã lấy một yếu tố từ truyền thống và phát triển nó theo cách riêng biệt của mình. Hơn nữa, mỗi cảnh này đều có ý nghĩa đối với sự hình thành của Giáo Hội. Bây giờ chúng ta có thể tập hợp các mô thức giáo hội mà chúng ta đã ghi chú trên suốt hành trình.

Bằng cách phát triển các yếu tố truyền thống cụ thể này, Gioan đã nhiều lần nhấn mạnh ý nghĩa của cái chết của Đức Giêsu đối với Giáo Hội. Dòng chữ tuyên bố lễ đăng quang của Đức Giêsu là ‘Vua của người Do Thái’. Ba ngôn ngữ mà dòng chữ được viết báo hiệu tính phổ quát của quyền tối cao của Đức Giêsu. Khi được nâng lên, Ngài sẽ thu hút tất cả mọi người đến với mình. Cái chết của Ngài làm ứng nghiệm Sách Thánh. Cụ thể hơn, thiết kế cho sứ mệnh cứu chuộc của Đức Giêsu, giống như thiết kế của chiếc áo dài liền mạch, được dệt từ trên xuống. Đó là thiết kế của Chúa. Thực tế là chiếc áo dài không bị rách phản ánh ý định của Chúa rằng cộng đoàn những người tin Chúa phải là một. Ở một số khía cạnh, thần học về thập tự giá của Gioan có mối quan hệ với các thần học sau này ‘Kristus Victor’. Nghịch lý thay, qua cái chết của mình, Đức Giêsu đã chiến thắng quyền lực của cái ác, Ngài được tôn lên làm vua, Ngài hoàn thành công việc mặc khải và cứu chuộc của mình, và Ngài thiết lập cộng đoàn mới. Ở đây chúng ta có thể dừng lại để nhấn mạnh tính cấp tiến của tầm nhìn của Gioan đối với cộng đoàn mới.

Công việc của Tin Mừng không biết đến ranh giới quốc gia, và cuối cùng, nó phải đối mặt với cùng một thách thức ở mọi nơi. Ngôn ngữ luôn đánh dấu bản sắc văn hóa, cho dù là tiếng Hy Lạp, tiếng La-tinh và tiếng Do Thái; tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, hoặc tiếng gần đây được gọi là Ebionics; tiếng Anh và tiếng Afrikaans, hoặc nhiều ngôn ngữ và giọng khác nhau báo hiệu di sản văn hóa của chúng ta. Lời tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Giêsu nói trong cùng bối cảnh của ba ngôn ngữ và một chiếc áo dài liền mạch, không rách. Một cộng đoàn mới được thành lập tại thập tự giá bởi cái chết của Đức Giêsu. Đó là một gia đình mới, một người mẹ và một Môn đệ Yêu dấu, và được trao quyền bởi Chúa Thánh Thần đã hứa. Giáo hội phải là một cộng đoàn được đánh dấu bằng sự hiệp nhất, tình yêu và Chúa Thánh Thần, một cộng đoàn với một vị vua mới, một vị vua bị đóng đinh. Đấng Mêsia bị đóng đinh khát, và bằng cơn khát của mình, Người đồng nhất với tất cả những ai đang khát. Qua cái chết của mình, Người ban sự sống. Theo cách này, cách diễn giải của Gioan về truyền thống làm nổi bật các yếu tố có ý nghĩa về mặt giáo hội học, và cách diễn giải lại truyền thống này phản ánh một sự hiểu biết thần học cơ bản, Giáo Hội không chỉ được thành lập trên sự phục sinh của Đức Giêsu mà còn có nguồn gốc từ thập giá. Do đó, những gì đã xảy ra trên thập giá định hình cho mọi thời đại bản chất và thiết kế của Giáo Hội.

Trong bài viết này, tôi đã cố gắng chứng minh rằng tác giả Tin Mừng thứ tư đã chọn những yếu tố quan trọng từ truyền thống, rằng ông phát triển những yếu tố này trong câu chuyện về cuộc khổ nạn như một phần không thể thiếu và thực sự là phần cao trào của toàn bộ Tin Mừng, và rằng khi chúng ta đọc những cảnh này trong bối cảnh của câu chuyện Tin Mừng, chúng ta thấy rằng Gioan thực sự có một thần học mạch lạc về thập tự giá, và cụ thể hơn là một giáo hội học về thập tự giá dự kiến ​​một thiết kế đầy thách thức cho Giáo hội. Do đó, tôi xin đưa ra năm kết luận sau,

1. Bất chấp tất cả những điểm khác biệt so với các Tin Mừng khác, Gioan đã rút ra từ truyền thống về cái chết của Đức Giêsu bao gồm nhiều yếu tố giống như chúng ta tìm thấy trong các Tin Mừng nhất lãm. Tuy nhiên, Gioan dường như không rút ra bất cứ điểm nào, trực tiếp từ các Tin Mừng nhất lãm.

2. Tác Giả Tin Mừng thứ tư đã chọn và phát triển một số yếu tố nhất định từ truyền thống theo cách riêng của mình và cho mục đích riêng của mình. Cách Gioan xử lý truyền thống và sự phát triển của bốn cảnh này xung quanh các chủ đề của Gioan minh họa cách Gioan đã xây dựng một cách giải thích tường thuật về cái chết của Đức Giêsu. Câu chuyện hiện nay vừa là ẩn dụ cho ý nghĩa cái chết của Đức Giêsu vừa là phương thức để lôi kéo độc giả của Gioan vào ẩn dụ đó.

3. Những điểm nhấn đặc biệt của câu chuyện về cuộc khổ nạn của Gioan được thể hiện rõ khi chúng ta theo dõi sự phát triển của các chủ đề của Gioan đạt đến đỉnh điểm trong câu chuyện về cuộc khổ nạn. Trái ngược với khẳng định của Kasemann, lời kể của Gioan về cái chết của Đức Giêsu thực sự ‘phù hợp một cách hữu cơ với tác phẩm của ông’ (1968,7)

4. Lời tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Giêsu làm nổi bật ý nghĩa của nó đối với Giáo Hội, truy tìm nguồn gốc của cộng đoàn mới đến thập tự giá: một mối quan hệ họ hàng mới vượt qua những khác biệt về ngôn ngữ, dưới quyền tối cao của Đức Giêsu, không bị chia rẽ bởi sự ly giáo, và được duy trì bởi ‘nước sự sống’ và Thần Khí được cấu thành ở đây. Lời tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Giêsu phản ánh một hiểu biết thần học quan trọng: rằng Giáo Hội có nguồn gốc từ thập tự giá (không chỉ ở ngôi mộ trống), và do đó, những gì đã xảy ra trên thập tự giá cho thấy kế hoạch của Chúa dành cho Giáo Hội và sẽ mãi mãi xác định sứ mệnh và cuộc sống của Giáo Hội.

Tóm lại, có thể không lạc lõng khi lưu ý rằng không thể thay thế cho các học giả thú nhận giải thích các văn bản Kinh Thánh trong bối cảnh của Giáo Hội và cho Giáo Hội. Chức năng của văn bản Kinh Thánh là bảo tồn và liên tục tái hiện những câu chuyện nền tảng về các hành động cứu chuộc của Chúa trong lịch sử, Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô và tầm nhìn sáng lập của Giáo Hội. Lời kêu gọi của những người giải thích Kinh Thánh là thăm dò những sắc thái của bản văn và đọc những câu chuyện của nó một cách nhạy bén trong bối cảnh luôn thay đổi của chúng ta. Lời kêu gọi của Giáo Hội là trung thành với những câu chuyện Kinh Thánh, rao giảng Tin Mừng của họ và thách thức cộng đoàn đại diện cho mục đích cứu chuộc của Chúa ngày càng trọn vẹn hơn giữa chúng ta. Vì vậy, chúng ta hãy khích lệ lẫn nhau trong nhiệm vụ này.

Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

[Chuyển ngữ từ “The theology of the Johannine passion narrative: John 19:16b-30” của tác giả R. Alan Culpepper, trong NEOTESTAMENTICA 31(1) 1997.]

 

WORKS CONSULTED

Ashton, J., 1991. Understanding the Fourth Gospel. Oxford, Clarendon.

Brawley, R.L., 1993. An absent complement and intertextuality in Gioan 19,28-29. JBL 112, 427--43.

Brown, R.E. 1994. The death of the Mêsiah. 2 vols. New York, Doubleday.

Culpepper, R.A., 1996. Reading Gioan irony, in Culpepper, R A & Black, CC (eds), Exploring the Gospel of Gioan, In honor of D. Moody Smith, 199-205. Louisville, Westminster/Gioan Knox.

De Boer, M.C., 1996. Gioan perspectives on the death of Giêsu. Kampen, Kok Pharos.

Kasemann, E., 1968. The testament of Giêsu. Philadelphia, Fortress.

Moore, S.D., 1993. Are there impurities in the living water that the Gioan Giêsu dispenses? Deconstruction, feminism, and the Samaritan woman. Biblical Interpretation 1,207-27.

Moore, S.D., 1994. Poststructuralism and the New Testament, Derrida and Foucault at the foot of the cross. Minneapolis, Fortress.

Smith, D.M., 1995. The theology of the Gospel of Gioan. Cambridge, Cambridge University

Press.

Witkamp, L.T., 1996. Giêsu’ thirst in Gioan 19,28-30, Literal or figurative? JBL 115,489-510.

Professor R.A., Culpepper. Dean. McAfee School of Theology. Mercer University. 3001 Mercer University Drive. Atlanta. GA 30341-4415. USA. Guest Lecturer. Department of New Testament. Unisa. POBox 392. Pretoria. 0003 South Africa.