Monday, 22 March 2021

CHÚA CHA ĐÃ BỎ RƠI CON MÌNH?! Chú Giải Mc 15,34

Chúa Nhật Lễ Lá năm B (Mc 14,1 – 15,47)

CHÚA CHA ĐÃ BỎ RƠI CON MÌNH?! Chú Giải Mc 15,34

Hy lạp

Việt

34  καὶ τῇ ἐνάτῃ ὥρᾳ ἐβόησεν ὁ Ἰησοῦς φωνῇ μεγάλῃ· ελωι ελωι λεμα σαβαχθανι; ὅ ἐστιν μεθερμηνευόμενον· ὁ θεός μου ὁ θεός μου, εἰς τί ἐγκατέλιπές με; (Mk. 15:34 BGT)

Và vào giờ thứ chín, Đức Giê-su hét lên với một tiếng lớn (kêu lớn tiếng): Ê-lo-i, Ê-lô-i, lê-ma sa-bác-ta-ni; điều có nghĩa là: “Chúa tôi, Chúa tôi, tại sao Ngài bỏ rơi tôi”

 

I.      Bối cảnh: Đây là câu nói của Đức Giê-su được trích ra từ trình thuật về cái chết của Đức Giê-su (Mc 15,33-39). Trước đó là cảnh Đức Giê-su bị những người qua lại nhục mạ, mỉa mai (Mc 15,29-32) và sau đó là cảnh những người phụ nữ hiện diện tại đồi Golgotha (bà Maria Mác-đa-la, Maria mẹ của Gia-cô-bê hậu và Giô-xét, và bà Sa-lô-mê Mc 15,40-41). Trong bối cảnh trực tiếp Mc 15,34 được dẫn đầu bởi sự giới thiệu về thời gian: Giờ thứ sau đến giờ thứ chín; và tình trạng của không gian: “bóng tối bao phủ quanh mặt đất”. Tiếp theo ngay sau Mc 15,34 là phản ứng có tính “hiểu lầm” của dân chúng; rồi, tiếp theo Đức Giê-su kêu lớn tiếng rồi tắt thở. Trình thuật về cái chết của Đức Giê-su được kết thúc bằng lời tuyên xưng của một viên đại đội trưởng: “quả thật người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,13-39).

II.   Cấu trúc: Câu văn tuy ngắn nhưng cũng bao gồm phần bối cảnh và phần cốt truyện. Bối cảnh giới thiệu về thời gian sự kiện. Cốt truyện chính là hành động “la lớn” (B1) và nội dung của lời “la lớn” ấy (B1’), cùng với câu chuyển dịch của lời “la lớn” (B1’’).

A. Bối cảnh thời gian: Giờ thứ chín

B. Cốt truyện:

B1. Hành động: La lớn tiếng

B1’. Nội dung câu la

B1’’. Giải thích câu la

III. Một số điểm chú giải:

3.1  Giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (12:00-03:00): Bóng tối bao phủ[1]: Câu văn bắt đầu bằng cụm trạng ngữ chỉ thời gian “vào giờ thứ chín” hay “tại giờ thứ chín”, nhưng giờ thứ chín này có nối kết chặt chẽ với giờ thứ sáu (Mc 15,33), và thậm chí là giờ thứ ba (Mc 15,25) được nói trước đó. Đó là một bối cảnh liên tục diễn tả khoảng thời gian Đức Giê-su ở trên thánh giá. Giờ thứ ba (khoảng 9h00) là giờ Đức Giê-su bị đóng đinh vào thập giá. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (12:00-03:00), “bóng tối” bao phủ toàn mặt đất. “ἐφ᾽ ὅλην (Mc 15:33) diễn tả một sự đen tối hoàn toàn, không còn một nơi nào có ánh sáng. Tính từ “ὅλην” có nghĩa là toàn thể, tất cả, hoàn toàn. “τὴν γῆν” là mặt đất, đối lại với trời cao (xem Mc 2,10; 9,3; 13,27.31). J.Donahue – D. Harrington cho rằng cách dùng “bóng tối” này của Mác-cô được soi sáng bởi sách ngôn sứ Amos: “trong ngày ấy ta sẽ làm cho mặt trời lặn xuống vào giữa trưa làm cho bóng tối trên mặt đất giữa lúc ngày đang sáng… ta sẽ làm cho đất này chịu tang như người ta chịu tang đứa con một và kết cục của nó như một ngày cay đắng” (Am 8,9-10).[2] Hay bóng tối này cũng có thể ám chỉ đến “ngày của Đức Chúa” đã được nói trong sách Joel: “ngày của Đức Chúa đang đến, một ngày của bóng tối và u ám, một ngày của những đám mây và bóng tối” (Ge 2,1-2).[3] Đây cũng có thể là thời điểm của bóng tối. Bóng tối cũng là một trong những biểu tượng của sự hổn mang của thế giới vào buổi tạo dựng. Khởi đầu của buổi tạo dựng, “bóng tối bao trùm vực thẳm” (St 1,2). Điều mà Thiên Chúa tạo dựng đầu tiên là ánh sáng. Thiên Chúa phán: “hãy có ánh sáng và liền có như vậy” và Thiên Chúa thấy “ánh sáng tốt đẹp” (St 1,3). Bóng tối đang bao trùm toàn thể mặt địa cầu đối lại với hoàng tử của ánh sáng đang bị treo trên thập giá. Tác giả Tin Mừng thứ tư cho chúng ta biết Đức Ki-tô là ánh sáng thế gian (Ga 8,12; 9,5). Người là ánh sáng thật chiếu soi mọi người (Ga 1,9; 3,19). Ánh sáng tượng trưng cho sự sống (Ga 1,4). Ngược lại, bóng tối là nơi diễn ra hình phạt chung cuộc: nơi những người “không mang y phục cưới” (Mt 22,13); và những kẻ lẽ ra được thừa kế nước trời, bị “quẳng ra ngoài và phải khóc lóc, nghiến răng” (Mt 8,12). Những kẻ bắt Đức Giê-su có giờ của họ và có “quyền lực của bóng tối” (Lc 22,53). Có sự nối kết giữa sự hấp hối của Đức Giê-su và bóng tối. Bóng tối bao phủ vì là giờ của quyền lực bóng tối. Hoàng tử ánh sáng, là Đức Giê-su sắp tắt thở nhưng bóng tối này sẽ không diệt được ánh sáng, như sẽ thấy vào đoạn kết của trình thuật này. Sự nối kết cái chết Đức Giê-su vào giờ thứ chín hay trong khoảng từ giờ thứ sau đến giờ thứ chín có thể là một ngôn ngữ biểu tượng. A.Collins – H. Attridge giải thích rằng, đây là thời gian của buổi chiều Tamid, sự hiến tế con chiên lần thứ hai hằng ngày trong đền thờ.[4] Như thế, cái chết của Đức Giê-su bao hàm một sự sát tế. J. Marcus còn ghi chú tính biểu tượng của bóng tối như là “bóng mờ” hay là cảnh vũ trụ bất trường trước cái chết của những con người vĩ đại như là Ju-li-a Xê-da. Hoặc nó như là cảnh Thiên Chúa hay là thiên nhiên đang khóc thương người tử nạn. Bóng tối siêu nhiên, vì thế, có thể là một trong những lý do mà vị đại đội trưởng thừa nhận Đức Giê-su là Con Chúa.[5]

3.2  Kêu lớn tiếng (ἐβόησεν ὁ Ἰησοῦς φωνῇ μεγάλῃ): Cách diễn tả này của Mác-cô thật lạ thường. Mác-cô dùng một động từ diễn tả sự nói lớn, hét to (βοάω). Chưa đủ, Mác-cô còn thêm một cụm từ dùng ở tặng cách, rất có thể là chỉ cách thức: “với một giọng to” (tiếng to). Mác-cô như muốn nhấn mạnh hành động này của Đức Giê-su hoặc muốn giải thích động từ “hét lên” có nghĩa là gì. Dù nghĩa nào đi nữa, hét to với một “giọng lớn” chắc chắn khiến cho không những những người chứng kiến mà còn độc giả phải chú ý. Tất cả họ sẽ bị cuốn vào lời “kêu lên” của Đức Giê-su. “Cụm từ” lớn tiếng này sẽ được lặp lại một lần nữa trước khi Đức Giê-su tắt thở (Mc 15,37)

3.3  “Chúa tôi, Chúa tôi”: Đức Giê-su kêu lên trong tiếng Aram,[6] là ngôn ngữ được sử dụng rộng khắp vùng đất Palestine thời đó. Đức Giê-su cũng nói tiếng Aram. Rất nhiều lần trong Tin Mừng, Mác-cô ghi lại Đức Giê-su dùng tiếng Aram (5,41; 7,34; 11,9.10; 14,36; 15,22). Những từ phổ biến như là: Ép-pha-ta, Áp-ba, Gôn-gô-tha. Mác-cô thường giải nghĩa bằng tiếng Hy Lạp ngay sau đó (Ép-pha-ta: Hãy mở ra, Áp-ba: Cha ơi!, Gôn-gô-tha: Cái sọ). Điều này chứng tỏ rằng, độc giả của Mác-cô có thể rành tiếng Hy-lạp hơn là tiếng Aram. Cách gọi “Thiên Chúa của tôi, Thiên Chúa của tôi” chỉ xuất hiện một lần trong toàn bộ các sách Tin Mừng nếu không kể đến Mt 27,46 trong cùng một tường thuật tương tự. Trong Tân Ước, cách gọi này chỉ dùng cho Đức Giê-su. Thế nhưng, đây là cách gọi phổ biến của các vịnh gia trong Cựu Ước khi cầu nguyện với các Thánh Vịnh (Tv 3,7; 4,1; 5,3.10; 7,2.4…).

4.4  “Bỏ Rơi”. Động từ “bỏ rơ” được dùng ở thì aorist (ἐγκατέλιπές) diễn tả một hành động đã diễn ra. Hành động bỏ rơi đã diễn ra, cho thấy Đức Giê-su đã cảm nghiệm sự bỏ rơi này có lẽ là bắt đầu từ lúc Người bị bắt. Động từ này cũng được dùng một lần duy nhất trong toàn thể Tân Ước với chủ ngữ là Thiên Chúa. Trong 2 Cr 4,9, thánh Phao-lô nói rằng: chúng tôi bị bắt bớ nhưng không bị bỏ rơi. Động từ này ở thể thụ động có thể tác nhân của nó là Thiên Chúa. Hành động “bỏ rơi” đã xảy ra và Đức Giê-su muốn hỏi là tại sao? (εἰς τί). Câu hỏi này giống như một lời oán trách hơn là tìm hiểu lý do. Trước đó, Mác-cô đã cho biết một cuộc “bỏ rơi toàn tập” của các môn đệ: “Tất cả họ đều bỏ rơi Người và tẩu thoát”. Ly kỳ hơn, có một cậu thanh niên, theo Đức Giê-su, khi bị túm áo, cậu bỏ áo và chạy trần truồng” (Mc 14,50-52). Nơi đây, chính là đỉnh điểm của sự bỏ rơi.

Bình luận

Trong 3 tác giả Tin Mừng Nhất Lãm chỉ có Mác-cô và Mát-thêu ghi lại lời nói này của Đức Giê-su trước khi tắt thở: “Chúa tôi, Chúa tôi, tại sao Ngài bỏ rơi tôi”. Trong Tin Mừng Luca, người ta nghe Đức Giê-su nói rằng: “Lạy Cha! Con xin phó thác linh hồn con trong tay cha” (Lc 23,46). Đây là một thái độ vô cùng thanh thản và tích cực của Đức Giê-su khi đối diện với cái chết. Người gọi Thiên Chúa là cha và tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Một người con trao gửi linh hồn của mình cho người cha. Đoạn kết của cuộc khổ nạn, tức là lúc Đức Giê-su trút linh hồn của Lu-ca xem ra rất tích cực, dễ nhận thấy. Điều này có thế bắt nguồn từ cái nhìn của Luca về cuộc khổ nạn và mô hình mà ông đã chọn lựa để mô tả Đức Giê-su. Bắt đầu từ buổi cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu, Đức Giê-su dù đã cầu nguyện thống thiết đến mức đổ mồ hôi máu, nhưng Người đã có “một thiên thần từ trời đến để tăng sức cho Người” (Lc 22,43). Chi tiết này không hề có trong cùng một trình thuật của Mát-thêu và Mác-cô. Nơi trình thuật của Lu-ca người ta tìm thấy đến 2 lần Phi-la-tô “không tìm thấy bằng chứng nào để kết tội Đức Giê-su” (Lc 23,4.14). Hơn nữa, Phi-la-tô cũng xác nhận rằng vua Hê-rô-đê cũng không tìm thấy tội gì để kết án Đức Giê-su (Lc 23,15). Phi-la-tô dự định đánh đòn và thả Đức Giê-su ra (Lc 23,16). Nghĩa là Phi-la-tô muốn tuyên bố rằng Đức Giê-su vô tội trước sự kết án cay nghiệt của các thượng tế và lãnh đạo Do Thái. Chưa hết, ngay cả một tên tội phạm, kẻ bị đóng đinh cùng với Đức Giê-su cũng nhận ra Người vô tội và lên tiếng biện hộ cho Người trước tên tội phạm còn lại: “chúng ta xứng đáng như vậy, vì chúng ta nhận án phạt xứng với những việc chúng ta làm, còn ông này không làm gì sai cả” (Lc 23,41). Còn nữa, sau khi Đức Giê-su tắt thở rồi, viên đại đội trưởng, một người ngoại giáo, lại tuyên xưng, xác nhận rằng: “chắc chắn người đàn ông này là một người công chính” (Lc 23,47). Tất cả những chi tiết này chỉ có trong Tin Mừng Lu-ca. Điều đó cho thấy rằng Luca xây dựng một mô hình hành trình thương khó của một vị ngôn sứ vô tội. Vị ngôn sứ này được hầu như tất cả mọi thành phần dân chúng minh chứng cho sự vô tội của mình, từ vua Chúa quan quyền, cho đến dân ngoại, ngay cả Thiên Chúa cũng gửi sứ thần đến để tăng sức cho Người. Có lẽ chính vì thế mà chặng cuối của con đường Thương Khó này phải được kết thúc trong niềm tin tưởng phó thác vào Chúa Cha: “lạy Cha! Con xin phó linh hồn con trong tay cha”. Theo mô hình của Luca, Đức Giê-su dường như bị xử oan, bị kết án oan, nhưng tất cả các độc giả, cùng với Phi-la-tô, Hê-rô-đê, và viên đại đội trưởng đều hiểu rằng: Đức Giê-su vô tội. Người được minh chứng là vô tội trước khi chết và sau khi chết. cái chết của Người chỉ là một kết cục của một chọn lựa yêu thương, và mang giá trị cứu chuộc: “chén này là Giao Ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20).

Vấn đề đặt ra là tại sao Mác-cô và Mát-thêu lại ghi lại lời kêu than của Đức Giê-su như thế. Người không xưng với Thiên Chúa là cha mà cũng không có một sự tín thác nào vào tay Chúa Cha như Lu-ca ghi lại. Người hấp hối bằng hai tiếng kêu lớn. Tiếng kêu thứ hai vang lên ngay trước lúc Người tắt thở và tiếng kêu đầu tiên như một lời oánh trách sự bỏ rơi của Chúa Cha. Phải hiểu thế nào về lời kêu lớn tiếng này. Đức Giê-su oán trách Chúa Cha?

Để hiểu “lời oán trách” này của Đức Giê-su ta lại phải đọc lại, rà lại một mô hình phác họa Đấng Mê-si-ah của Mác-cô, và (có thể cũng là của Mát-thêu). Đó là một Đấng Mê-si-a không tìm vinh quang và sự an ủi nơi những người trần thế. Các chuyên gia Thánh Kinh thường nói đến đặc tính “bí mật Mê-si-a” trong Tin Mừng Mác-cô.[7] Ví dụ rõ nét nhất và quan trọng nhất về bí mật mê-si-a là lệnh “im lặng”, được ban ra ngay sau lời tuyên xưng của Phê-rô trong 8,30: “Nhưng Người cấm các ông không được nói với ai về Người”. Trước đó, nhiều lần lệnh cấm tiết lộ căn tính cũng được Đức Giê-su đưa ra dành cho quỷ (Mc 1,25.34; 3,12). Cũng thế, Người thường cấm những người được chữa lành tiết lộ về Người và phép lạ: người phong cùi (Mc 1,44); nhưng người chứng kiến phép lạ chữa lành con gái ông Giai-rô (Mc 7,36). Người cũng cấm 3 môn đệ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan tiết lộ về “cuộc biến hình” trước khi Người sống lại (Mc 9,9). Tin Mừng Mác-cô cũng ghi lại nhiều lần Đức Giê-su lánh khỏi đám đông khi họ bị thu hút bởi dấu lạ (6,31; 7,24; 9,30). Có nhiều hướng lý giải cho bí mật Mê-si-a này. Tuy nhiên, một trong những cách lý giải không thể thiếu, đó là, Đức Giê-su không muốn dân chúng biết đến Người chỉ ở “khía cạnh vinh quang” mà thôi. Ngoài bí mật Mê-si-a, độc giả lại không thể bỏ qua “sự ngược ngạo, tréo nghoe” trong cách các môn đệ đón nhận mầu nhiệm Khổ Nạn. Tin Mừng Mác-cô ghi lại đến 3 lần, trong 3 chương liên tục, sự kiện Đức Giê-su loan báo về cuộc Khổ Nạn của Người: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31). Nghịch lý thay, cứ sau mỗi lần Đức Giê-su tiền báo như thế là một phản ứng ngược đời của các môn đệ được kể lại. Sau lần tiền báo thứ nhất (Mc 8,31), Phê-rô liền kéo Người ra và bắt đầu trách Người. Đức Giê-su buộc lòng phải gọi Phê-rô là: “Xa-tan, lùi lại đằng sau Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mc 8,33). Vị tông đồ trưởng không sao “nuốt trôi” được thông tin Thầy sẽ bị giết. Sau lần tiền báo lần thứ hai (Mc 9,31), Mác-cô ghi chú rằng “nhưng các ông không hiểu lời đó, và các ông sợ không dám hỏi lại Người” (Mc 9,32). Không những thế, các ông lại chỉ bận tâm tranh cãi với nhau xem, “ai là người lớn nhất” (Mc 9,34). Thầy thì nói về cái chết của Thầy, trò thì bàn về địa vị và chức tước. Sau lần tiền báo thứ ba (10,33-34), hai người con của ông Dê-bê-đê là Gioan và Gia-cô-bê, đến xin “một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả, khi Thầy được vinh quang” (Mc 10,36). Thầy thì nói về sự tự hạ và cái chết, trò thì nghĩ đến chiếc ghế quyền lực. Trong tâm thế, tâm thức như thế, các môn đệ đã chuẩn bị cho “cuộc bỏ chạy toàn tập” khi Đức Giê-su, thầy của họ bị bắt (Mc 14,50-52). Xem ra, Mác-cô đang xây dựng mô hình một vị ngôn sự bị bỏ rơi, bị hiểu lầm. Ngay cả những môn đệ thân tín của Người cũng không hiểu Người và hiểu lầm về Mầu Nhiệm Tử Nạn – Phục Sinh của Người.[8] Trong dòng tư tưởng đó, độc giả có thể hiểu tại sao Mác-cô lại kết thúc cuộc Khổ Nạn của Đức Giê-su bằng hai tiếng kêu và một lời than vãn như thế. Đó có phải là một lời than trách, phàn nàn? Lời kêu lên này có biểu lộ một sự tuyệt vọng? Có chăng một sự tín thác trong lời cầu nguyện này? Những câu trả lời cho các câu hỏi tương ứng là: Câu hỏi thứ nhất: Có; Câu hỏi thứ hai: Không; Câu hỏi thứ ba: Có (tóm lại: Có – không – có). Câu trả lời thứ nhất là “có” vì rõ ràng trong lời nói của Đức Giê-su ẩn chứa một sự phàn nàn. Đừng ngạc nhiên! Bởi đây chính là cung cách cầu nguyện rất bình thường của người Do Thái. Trong bộ 150 Thánh Vịnh và có một loại Thánh Vịnh được gọi là Thánh Vịnh “phàn nàn” (kêu trách ỉ ôi). Và lời kêu than của Đức Giê-su được trích ra từ Thánh Vịnh 22. Chính xác là đoạn đầu tiên của của câu đầu tiên trong Thánh Vịnh này. Theo ý kiến của W. Brueggeman – W.Bellingger, đây là một thánh vịnh “phàn nàn” nổi tiếng nhất đối với các ki-tô hữu.[9] Thánh Vịnh này ghi lại lời cầu nguyện của những người công chính cách riêng, và toàn dân Ít-ra-en nói chung, trong cơn bách hại. Rõ ràng, không thể chối từ rằng Đức Giê-su trong giây phút cùng cực nhất của cuộc đời mình đã kêu lên cùng Thiên Chúa cha, lời cầu nguyện mà dân Người đã quen sử dụng. Tuy nhiên phàn nàn không có nghĩa là tuyệt vọng, bởi nếu tuyệt vọng thì Người đã không còn cầu nguyện nữa. Người không gọi “Cha” mà gọi Chúa, bởi đó là lời nguyên văn của Thánh Vịnh 22 mà có lẽ Người đã thuộc từ thuở nhỏ. Lời cầu nguyện ấy bắt đầu thế này: “Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi, sao Ngài đành bỏ tôi? Sao Ngài ở xa khỏi sự cứu độ tôi, xa khỏi lời tôi than vãn” (Tv 22,1). Thánh Vịnh này rất gần gũi với bối cảnh của cuộc Thương Khó. Vịnh gia cũng bộc lộ sự chê cười của người khác: “thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dễ duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu môi buông lời mĩa mai”; “nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó, Người có thương, giải gỡ đi nào” (Tv 22,7-9). Những tư tưởng này rất giống với cảnh Đức Giê-su bị người qua kẻ lại nhục mạ, mĩa mai trên cây thập tự (Mt 27,37-44; Mc 15,26-32; Lc 23,35-38). Khi cầu nguyện với Thánh Vịnh này Đức Giê-su, phía sau lời phàn nàn, Đức Giê-su cho thấy một niềm tín thác một cách tuyệt đối vào Thiên Chúa. Quả thế, Thánh Vịnh này được kết thúc bằng những lời ca tụng và tín thác vào Chúa: “Chúa là sức mạnh con nương náu, cứu mau, lạy Chúa, … hỡi những người kính sợ Chúa, hãy tụng ca danh Người,… bởi Chúa chẳng coi thường, chẳng khinh miệt kẻ nghèo hèn khốn khổ, cũng không đành ngoảnh mặt làm ngơ nhưng đã thương nghe lời cầu cứu… con cháu tôi sẽ phụng sự Người, Thiên hạ sẽ nói về Đức Chúa cho thế hệ tương lai, truyền tụng cho con cháu đức công chính của Người, rằng: “Đức Chúa làm như vậy” (Tv 22.20-32). W. Brueggeman - W. Bellingger đề nghị đọc cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su với toàn bộ Thánh Vịnh này trong đó Tv 22,1-21a (phần than vãn) như là toàn cảnh của sự thương khó – đóng đinh và Tv 22, 21b-31 (phần tín thác và ca tụng) như là sự chuyển dịch từ “bị kịch” đến sự phục sinh của Đức Giê-su.[10] Mô hình “người công chính chịu đau khổ và bị giết” trong truyền thống Thánh Vịnh đã phần nào khắc họa hình ảnh cầu nguyện có vẻ tuyệt vọng của Đức Giê-su. A.Y. Collins – H.W. Attridge  cho rằng người tuyệt vọng sẽ không nói gì nữa, trong khi Đức Giê-su nói. Dầu cho lời nói của Người đau đớn, kêu than, nó vẫn là một lời kêu cầu trợ giúp.[11] Thực ra, Người không hề tuyệt vọng, nhưng người cho thấy một sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Qua tiếng kêu ấy, độc giả cảm nhận được rằng, Người thật sự đau khổ đến tột cùng, đau đớn đến tột cùng. Bởi lẽ, còn nỗi đau nào hơn nỗi đau khi cảm giác mình bị Thiên Chúa bỏ rơi. Nhưng niềm tin tưởng phó thác, đã giúp Người tiếp tục nguyện cầu cho đến hơi thở cuối cùng. Người chấp nhận đi cuối con đường thập tự, khổ giá mà Người đã tiền báo 3 lần trước đó với các môn đệ. Người chấp nhận ngay cả khi phải đi một mình. 

Trình thuật về cảnh cái chết trên thập giá của Đức Giê-su, hay cái chết của Đức Giê-su trong lời kêu van như thế, đã đưa đến một kết quả mỹ mãn. Kết quả mỹ mãn đó thể hiện quan hai dấu hiệu: (1) Bức màn trong Đền Thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới (Mc 15,38); (2) Lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng (Mc 15,39). Bức màn này có thể là bức màn nơi ngăn cách giữa "nơi cực thánh" với bên ngoài. Nơi Cực Thánh là nơi có Hòm Bia Thiên Chúa, nơi mà chỉ có vị thượng tế mới được bước vào mỗi năm một lần để dâng của Lễ đền tội cho dân chúng. Từ nay, bức màn ấy đã được xé ra, sự ngăn cách đã được dỡ bỏ và tất cả mọi thành phần dân chúng đều có thể đến với Chúa. Đức Giê-su chính là vị thượng tế cao cả đã dâng máu mình để nối kết đất với trời. Cây thập giá nơi treo thân xác của Người đã nối Chúa với dân của Người. Mọi thành phần dân chúng từ đây đều có thể đến với Chúa nhờ cái chết của Đức Giê-su. Bằng chứng đầu tiên là người dân ngoại tuyên xưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng: “quả thật Người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39) quả thật là cái kết đẹp cho hành trình Thương Khó của vị ngôn sứ đau khổ, Đức Giê-su. Nếu như trình thuật về cái chết của Đức Giê-su trong Tin Mừng Luca chỉ dừng lại ở lời chứng nhận: “quả thật người đàn ông này là một người công chính” (Lc 23, 47), Mác-cô và Mát-thêu vươn đến việc xác định thần tính của Đức Giê-su: “Con Thiên Chúa”. Đây là một cái nhìn có chiều sâu trên cả tuyệt vời. Trong bóng tối dày đặc của “bóng tối bao phủ khắp mặt đất” vẫn có một người dân ngoại, kẻ đã góp phần hành hình Đức Giê-su, nhìn thấy một ánh sáng thật, ánh sáng Con Thiên Chúa. A.Y. Collins – H.W. Attridge bình luận rằng: “Nhóm những người đứng đó, những người nghĩ rằng Đức Giê-su gọi ông Ê-li-a, thấy và nghe, nhưng không phải với “bên trong”, trong khi đó “người đại đội trưởng, thấy và nghe “bên trong”, đi vào ý nghĩa của sự đau khổ và căn tính của Đức Giê-su.[12] “Bóng tối”, trong đó Đức Giê-su đã chết là biểu tượng cho cảnh hỗn mang của buổi tạo dựng và từ đó Đức Chúa sẽ thực hiện một cuộc tạo thành mới khi cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết. J. Marcus cho rằng “bóng tối” cho thấy rằng cái chết của Đức Giê-su là một điểm chuyển trong lịch sử cứu độ. Marcus muốn nói đến khía cạnh cánh chung của bóng tối đã nói đến trong Mc 13,24, hay trong sách Khải Huyền (8,12; 9,2; 16,10). Cách giải thích mang tính cánh chung ấy được hỗ trợ bằng những bản văn Cựu Ước (Am 8,9-10).[13] Bóng tối như thế, cũng là lúc Thiên Chúa xét xử thế gian và mang lại sự hồi sinh cho những người sống tốt lành.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD

Thánh Vịnh 22[14]

Gặp đau khổ, người lành cầu cứu, và ĐỨC CHÚA đã nhậm lời

1 Phần nhạc trưởng. Điệu “Con nai hừng đông” Thánh vịnh. Của vua Đa-vít.

2 Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao? Dù con thảm thiết kêu gào, nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!

3 Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng, đêm van Ngài mà cũng chẳng yên.

4 Thế nhưng Chúa ngự nơi đền, vinh quang của Ít-ra-en là Ngài.

5 Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa, họ cậy trông, Ngài đã độ trì,

6 van nài liền được cứu nguy, đã không thất vọng mỗi khi cậy Ngài.

7 Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi,

8 thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai:

9 “Nó cậy CHÚA, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!”

10 Đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.

11 Chào đời con được dâng cho Chúa, được Ngài là Chúa tự sơ sinh.

12 Xa con Ngài đứng sao đành, nguy hiểm bên mình không kẻ giúp cho.

13 Quanh con cả đàn bò bao kín, thú Ba-san ùa đến bủa vây:

14 Há mồm đe dọa gớm thay, khác nào sư tử xé thây vang gầm.

15 Tưởng mình như tan dần ra nước, toàn thân con xương cốt rã rời, con tim đau đớn bồi hồi, mềm như sáp chảy tơi bời ruột gan.

16 Nghe cổ họng khô ran như ngói, lưỡi với hàm dính lại cùng nhau, chốn tử vong Chúa đặt vào;

17 quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay,

18 xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem.

19 Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn.

20 Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy CHÚA, xin đừng đứng xa.

21 Xin cứu mạng khỏi sa lưỡi kiếm, gỡ thân con thoát miệng chó rừng,

22 khỏi nanh sư tử hãi hùng, phận hèn khốn khổ thoát sừng trâu điên.

23 Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương.

24 Hỡi những ai kính sợ ĐỨC CHÚA, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ít-ra-en tất cả, nào một dạ khiếp oai!

25 Bởi vì Chúa đã chẳng coi thường, chẳng khinh miệt kẻ nghèo hèn khốn khổ, cũng không đành ngoảnh mặt làm ngơ, nhưng đã thương nghe lời cầu cứu.

26 Chịu ơn Người, tôi dâng lời ca tụng, ngày đại hội toàn dân. Điều khấn nguyền, tôi xin giữ trọn trước mặt những ai kính sợ Người.

27 Kẻ nghèo hèn được ăn uống thỏa thuê, người tìm CHÚA sẽ dâng lời ca tụng. Cầu chúc họ vui sống ngàn đời.

28 Toàn thế giới, muôn người nhớ lại và trở về cùng CHÚA. Mọi dân tộc dưới trần phủ phục trước Tôn Nhan.

29 Bởi vì CHÚA nắm quyền vương đế, Người thống trị chư dân.

30 Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất sẽ đều bái lạy một mình Người, phàm những ai trở về cát bụi sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan. Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa,

31 con cháu tôi sẽ phụng sự Người. Thiên hạ sẽ nói về ĐỨC CHÚA cho thế hệ tương lai,

32 truyền tụng cho hậu sinh đức công chính của Người, rằng: “ĐỨC CHÚA đã làm như vậy!”



[1] Tường thuật của Mác-cô về cuộc khổ nạn được chia “làm tiến trình 3 giờ”: Đức Giê-su trước quan tòa Phi-la-tô vào lúc tảng sáng khoảng 6:00 (Mc 15,1); Đức Giê-su bị đóng đinh vào giờ thứ ba, khoảng 9:00 (Mc 15,25); vào giờ thứ sáu tức là giữa trưa (12:00), bóng tối bao phủ khắp mặt đất; vào lúc 3:00 Đức Giê-su chết (Mc 15,34); và vào lúc 6:00 chiều, Đức Giê-su được mai tang (Mc 15,42) [J.R.Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2005) 442, 447].

[2] Ibid.

[3] J. Marcus, Mark 1–8. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) 27A, 1054.

[4] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 752.

[5] J. Marcus, Mark 1–8,1061.

[6] אֱלָהִי אֱלָהִי לְמָה שְׁבַקְתַּנִי

 [7] Xem J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2005) 27-29.

[8] Xem thêm, Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, “Kẻ Cô Đơn trên Con Đường Thập Tự”, http://josephpham-horizon.blogspot.com/2013/03/ke-co-on-tren-conuong-thap-tu-jos.html (truy cập 23/03/2021).

[9]W. BRUEGGEMANN – W. H. BELLINGER, Psalms (NCBC; New York 2014) 113.

[10] W. BRUEGGEMANN – W. H. BELLINGER, Psalms, 121.

[11] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 755.

[12] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark, 766.

[13] J. Marcus, Mark 1–8,1062.

[14] Bản Việt Ngữ của nhóm CGKPV

 


 

Thursday, 18 March 2021

SỰ CÔNG CHÍNH CỦA THÁNH GIUSE. Chú Giải Mt 1,19

 SỰ CÔNG CHÍNH CỦA THÁNH GIUSE. Chú Giải Mt 1,19

Hy lạp

Việt

Ἰωσὴφ δὲ ὁ ἀνὴρ αὐτῆς, δίκαιος ὢν καὶ μὴ θέλων αὐτὴν δειγματίσαι, ἐβουλήθη λάθρᾳ ἀπολῦσαι αὐτήν.

Giuse chồng của cô, dù là một người công chính, nhưng không muốn làm mất mặt cô, định tâm để cô ra đi[1] một cách kín đáo.

 

I.      Bối cảnh

Mt 1,19 nằm trong tường thuật về mầu nhiệm thụ thai của Đức Giê-su Mt 1,18-25. Đây là câu bình giải của người thuật chuyện về phản ứng của thánh Giuse trước biến cố lạ lùng trọng đại xảy ra cho hiền thê đính hôn của mình. Trước đó độc giả đã biết là Đức Maria đã đính hôn với thánh Giuse. Họ chưa chung sống với nhau vì theo tục lệ thì năm đính hôn hai người vẫn ở hai nhà khác nhau. Rồi, thình lình Đức Maria đã mang thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Biết vậy, thánh Giuse đã nghĩ là sẽ để cho Đức Maria được tự do một cách kín đáo. Chuyện xảy ra sau đó thì độc giả cũng đã biết: sứ thần can thiệp, thánh Giuse đã nghĩ lại, và làm theo lời sứ thần hướng dẫn. Trong khuôn khổ bài viết này tác giả chỉ muốn bàn về sự “công chính” của thánh Giuse mà thôi.

II.   Cấu trúc:

A. Tương quan của Giuse với Maria: Chồng

B. Phẩm tính của Giuse: Một người công chính

C. Hai hành động của thánh Giuse:

C.1 Không muốn làm mất mặt cô cách công khai

C.2 Muốn để Đức Maria ra đi một cách kín đáo.

III. Một số điểm chú giải

1.     ὁ ἀνὴρ αὐτῆς (chồng của cô): Theo nghĩa đen, cụm danh từ này là “người đàn ông của cô ấy”. Thánh Giuse được giới thiệu trong sự ràng buộc với Đức Maria. Trước đó, tác giả đã cho biết Đức Maria đã đính hôn với thánh Giuse (1,18) (μνηστευθείσης). Nơi đây, tác giả gọi Giuse là “người đàn ông của” Đức Maria. Nghĩa là, dầu mới đính hôn nhưng ông cũng được gọi là chồng rồi. Nên nhớ thêm, đây là câu chuyện về Đức Giê-su. Đức Giê-su mới là nhân vật chính. Giuse và Maria chỉ là những “kép phụ” mà thôi. Đức Maria cũng được giới thiệu trong tư thế phụ thuộc vào Đức Giê-su. Chúng ta thấy rõ điều đó trong câu giới thiệu: “sau đây là sự sinh hạ (hay là gốc tích) của Đức Giê-su”. Đức Maria được giới thiệu là “Maria, Mẹ của Người”. Maria gắn với Đức Giê-su, Đấng Ki-tô (Giê-su Ki-tô). Giu-se không được phúc gắn kết trực tiếp với Đức Giê-su. Ông phải được gắn kết với Đức Giê-su thì mới được đưa tên vô đây. Và ông được gắn kết với Đức Giê-su nhờ vào thế giá hoàng gia của ông. Ông là “con cháu vua Đavít” (1,20). Tại sao thế giá hoàng gia “hết thời” này lại có giá như thế? Thưa! Vì Đức Giê-su, Đấng Ki-tô phải được sinh ra trong hoàng tộc vua Đa-vít. Sách Samuel quyển thứ 2, chương 7 (bài đọc I, Lễ Thánh Giuse) đã nhắc lại điều ấy. Vậy là đã rõ, Giuse phải là cha nuôi của Đức Giê-su. Nhưng phải gắn kết theo đường nào đây. Thưa! Ông gắn kết với Đức Giê-su qua Đức Maria. Điều này đã được Mát-thêu xếp đặt trong trình thuật về “gia phả của Đức Giê-su, Đấng Ki-tô”: “Gia-cóp là cha của Giuse, chồng của Maria, Mẹ của Đức Giê-su, được gọi là Đấng Ki-tô” (1,16). Gia-cóp này nếu truy nguồn gốc sẽ về đến vua Đa-vít. Rồi, Maria nối kết với Giê-su với vai trò làm Mẹ, thánh Giuse nối kết với Đức Giê-su qua vai trò là chồng của Đức Maria. Ông trở thành cha nuôi của Đức Giê-su và làm cho Đức Giê-su thuộc “dòng dõi” hoàng tộc Đa-vít.

2.     δίκαιος ὢν καὶ (vì là một người công chính nên… dẫu là một người công chính nhưng…): liên từ “καὶ” (nhưng, và) và động từ eimi ở thể hiện tại phân từ “ὢν” (being) là hai yếu tố mấu chốt trong việc chú giải về “sự công chính” của thánh Giuse. Nếu chúng ta hiểu “καὶ” là “nhưng” thì “δίκαιος” (sự công chính) của thánh Giuse là công chính theo lối giữ Lề Luật. Luca cho chúng ta biết rằng: Cả Da-ca-ria và bà Anna, “đều là người công chính trước mặt Chúa, sống đúng với mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì” (Lc 1,6). Như thế công chính là sống đúng với điều răn và lề luật Chúa. Vậy, sự công chính của Giuse là phải giữ Lề Luật phải tố cáo, đưa vụ việc ra xét xử theo Luật Cựu Ước (Đnl 22,20-21), “nhưng” ông không muốn làm mất mặt cô. Và khi đó cụm động tính từ “δίκαιος ὢν” có thể được dịch rằng: “dẫu/tuy là người công chính”. Cả câu sẽ là: “dẫu/tuy là người công chính… nhưng ông không muốn làm mất mặt cô”. Trong trường hợp này, chúng ta thấy được, quyết định của thánh Giuse vượt quá sự công chính theo lối “giữa Lề Luật”. Quyết định không tố giác người bạn đời biểu lộ lòng xót thương và sự hiền lành trong con người của thánh Giuse. Sự công chính này nên được soi trong ánh sáng lời mời gọi của Đức Giê-su dành cho các môn đệ: “nếu anh em không ăn ở công chính hơn những người kinh sư và những người Pha-ri-sêu thì chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5,20). Sự công chính của các kinh sư và những người Pha-ri-sêu có thể là sự công chính của những người “giữ Lề Luật” một cách cứng nhắc, nhưng lại sống “giả hình” (Mt 23,1-32). Sự công chính của thánh Giuse rõ ràng đạt đến cảnh giới Đức Giê-su mời gọi và là gương mẫu lý tưởng cho các môn đệ. Trường hợp thứ hai, liên từ “καὶ” được hiểu là “và”. Khi đó, sự công chính của thánh Giuse được định hình, quy định theo hành động phía sau đó. Trong trường hợp này, cụm tính từ “δίκαιος ὢν” có thể dịch theo nghĩa nguyên nhân (vì là một người công chính). Cả câu sẽ trở thành: “ Giuse, chồng của cô, là người công chính, nên ông không muốn làm mất mặt cô, mà quyết định để cô ra đi một cách âm thầm”. Như thế, sự “công chính” của thánh Giuse là biểu hiện của lòng thương người, lo lắng cho người bạn đời của mình. Cũng có thể, thánh Giuse tin tưởng vào Đức Maria và ngầm hiểu mầu nhiệm của Thiên Chúa đang thực hiện trên cuộc đời cô, nên ông đành rút lui. Có thể, Đức Maria đã có dịp tâm sự với thánh Giuse về mầu nhiệm này. Vợ chồng tâm sự những chuyện trọng đại như thế với nhau là chuyện thường. Sự công chính này còn là sự công chính của lòng tin và tôn trọng ý định của Thiên Chúa. Khi sứ thần gặp thánh Giuse “trong giấc mơ” có khích lệ rằng: “Giuse con vua Đa-vít, đừng sợ đón Maria, vợ ông về”. “Nỗi sợ này” có thể là nỗi kính sợ “mầu nhiệm của Chúa” trên cuộc đời vị nương tử yêu dấu.

3.     μὴ θέλων αὐτὴν δειγματίσαι (không muốn làm mất mặt một cách công khai): Ở đây, độc giả lại đối diện với một cách dùng hiện tại phân từ khác của động từ “muốn” (desiring, wishing). Đây là một mệnh đề phụ, mệnh đề gồm một hiện tại phân từ và một động từ nguyên mẫu (muốn + làm mất mặt). Mệnh đề này có thể được hiểu là mệnh đề chỉ nguyên nhân: “vì ông không muốn làm mất mặt cô một cách công khai”. Mệnh đề chính sẽ là “nên ông đã muốn để cho cô ấy ra đi một cách kín đáo”.

4.     ἐβουλήθη λάθρᾳ ἀπολῦσαι αὐτήν (ông đã ao ước để cô ra đi một cách kín đáo): Mệnh đề chính này gồm một động từ chính và một động từ nguyên mẫu (mong ước/quyết định + để cô ấy ra đi). Chúng ta thấy cấu trúc của câu này rất chặt chẽ và tương tự nhau. Một mệnh đề phụ được nói đến ở phần (3.) và mệnh đề chính đang nói ở đây. Cả hai mệnh đề đều có một động từ muốn (ao ước) và một động từ nguyên mẫu. Chưa hết, nếu động từ nguyên mẫu ở mệnh đề phụ (δειγματίσαι) có ẩn chứa sự công khai (làm mất mặt cách công khai), thì động từ nguyên mẫu của mệnh đề chính lại đi kèm một trạng từ chỉ sự “bí mật” (λάθρᾳ):

      ông không muốn làm mất mặt cô một cách công khai

nên ông muốn để cô ra đi một cách kín đáo”.

      Hai hành động, một khẳng định và một phủ định, bắt nguồn từ một động từ chỉ ý muốn, ao ước, diễn tả sự công chính của thánh Giuse một cách rõ ràng chặt chẽ. Ông “không muốn” để rồi “ông muốn”. Ông thay hành động “không muốn” làm tổn thương người khác bằng hành động “ông muốn” mang lại tự do cho người bạn đời. Nói cao hơn một tý, ông “không muốn” thực hiện theo cảm xúc, toan tính của riêng ông, để rồi ông “muốn” hoàn toàn theo ý Chúa.


IV. Bình luận

Thánh Giuse bước vào cuộc đời Đức Giê-su qua trung gian người bạn đời là Đức Maria. Dòng máu hoàng tộc của Người quả là cần thiết để người con nuôi của ông, Đức Giê-su Ki-tô, có nguồn gốc hoàng tộc Đa-vít. Bỡi lẽ, “lời của Chúa” trong sách Samuel (2 Sm 7) đã loan tin là từ “một người do chính ngươi sinh ra, ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền… đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con… nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ bền vững muôn đến muôn đời, và ngai vàng của ngươi sẽ được củng cố đến muôn đời”. Do vậy, sự kết nối của Đức Giê-su với thánh Giuse là rất cần thiết. Tuy nhiên, thánh Giuse cũng cho thấy rằng ông không chỉ là có danh “thuộc hoàng tộc vua Đa-vít” thuộc kiểu ăn ké danh hiệu CÔCC. Ông chứng tỏ rằng ông xứng đáng cho sứ vụ này. Có vô vàn phẩm tính không thể kể hết của thánh Giuse. Riêng trong Tông Thư “Patris Corde”, được ban nhân dịp mở năm thánh kính thánh Giuse (08/12/2020 – 08/12/2021), người ta đã tìm thấy ít nhất 7 phẩm tính của ông:[2] (1) Người cha yêu dấu; (2) Người cha ân cần; (3) Người cha vâng phục; (4) Người cha đón rước; (5) Người cha can đảm sáng tạo; (6) Người cha lao động; (7) Người cha bóng mát. Trong đoạn Tin Mừng Mt 1,18-25, nói về nguồn gốc sinh hạ của Đức Giê-su, độc giả cũng dễ nhìn thấy nhiều phẩm tính như: Người đàn chồng trong sạch, hiền lành, cầu nguyện, lắng nghe tiếng Chúa, can đảm dấn thân, vâng phục. Đặc biệt, trong Mt 1,19 chúng ta đã khám phá ra nét đẹp của sự công chính của ông. Đó là một sự công chính lý tưởng “vượt trên sự công chính của những kinh sư và những người Pha-ri-sêu”. Nghĩa là, một sự công chính đầy lòng thương xót và sự linh động chứ không chỉ cứng nhắc của Lề Luật. Đó là sự công chính của một người luôn biết nghĩ cho người khác, tôn trọng người khác. Đó còn là sự công chính của một người hiền lành, điềm tĩnh. Đó cũng có thể là sự công chính của người đọc thấy ý Chúa, tôn trọng kế hoạch của Chúa trên người bạn đời của mình. Sự công chính của thánh Giuse trong bối cảnh Mt 1,18-25, có thể là tổng hợp của các đặc tính trước, trong và sau câu Mt 1,19. Nghĩa là, sự công chính ấy bao gồm sự khiết trinh thể hiện trong việc không đụng chạm xác thịt với người bạn đời xinh đẹp cả trước khi về chung sống và sau khi về chung sống. Đó là một sự khiết trinh tuyệt đối và trọn vẹn. Sự công chính này cũng không loại trừ lòng can đảm, dám đón nhận Đức Maria trong tình trạng như thế, và cưu mang cả cuộc đời. Sự can đảm ấy khởi sự trong quyết định ở đây nhưng được kéo dài đến cuối cuộc đời. Sự công chính công chính ấy còn bao hàm cả việc “lắng nghe Lời Chúa” và “đem ra thực hành”, “thi hành ý muốn Chúa Cha” (Lc 11,27-27; Mt 7,21). Có thể nói rằng, thánh Giuse trở thành người thân, cha của Đức Giê-su không chỉ nhờ vào tương quan phu thê với Đức Maria nhưng trên hết là nhờ vào khả năng “lắng nghe” và “thực hiện” Lời Chúa. Ông có khả năng “nghe” Chúa nói ngay cả lúc đang ngủ và nhất là dám hiện thực hóa những lời nghe được từ giấc mơ ấy, không những một lần nhưng rất nhiều lần (Mt 1,20; 2,12.13.19.22). Điều đó thể hiện sự công chính của một con người cầu nguyện, gắn bó, thắt chặt đời sống mình với Chúa một cách trọn vẹn.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD.



[1] ἀπολῦσαι thường được dịch là “li dị” theo ngôn ngữ hiện đại (ESV), hay là “bỏ” ai đó (CGKPV). Theo nghĩa Hy Lạp nó là:  để cho ai được tự do khỏi ràng buộc gì đó. Động từ này được ghép từ một giới từ (apo: ra khỏi) và một động từ (lú-ồ: tháo cởi, để tự do). Tác giả quyết định dịch là “để cho ai đó ra đi”.

TÔN VINH – CHẾT – NÂNG LÊN – CHẾT. Chú Giải Tin Mừng CN V MC B (Ga 12,20-33); Lm. Jos. Ph.D.Thạch, SVD

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

20  Ἦσαν δὲ Ἕλληνές τινες ἐκ τῶν ἀναβαινόντων ἵνα προσκυνήσωσιν ἐν τῇ ἑορτῇ·

 21  οὗτοι οὖν προσῆλθον Φιλίππῳ τῷ ἀπὸ Βηθσαϊδὰ τῆς Γαλιλαίας καὶ ἠρώτων αὐτὸν λέγοντες· κύριε, θέλομεν τὸν Ἰησοῦν ἰδεῖν.

 22  ἔρχεται ὁ Φίλιππος καὶ λέγει τῷ Ἀνδρέᾳ, ἔρχεται Ἀνδρέας καὶ Φίλιππος καὶ λέγουσιν τῷ Ἰησοῦ.

 23  Ὁ δὲ Ἰησοῦς ἀποκρίνεται αὐτοῖς λέγων· ἐλήλυθεν ἡ ὥρα ἵνα δοξασθῇ ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου.

 24  ἀμὴν ἀμὴν λέγω ὑμῖν, ἐὰν μὴ ὁ κόκκος τοῦ σίτου πεσὼν εἰς τὴν γῆν ἀποθάνῃ, αὐτὸς μόνος μένει· ἐὰν δὲ ἀποθάνῃ, πολὺν καρπὸν φέρει.

 25  ὁ φιλῶν τὴν ψυχὴν αὐτοῦ ἀπολλύει αὐτήν, καὶ ὁ μισῶν τὴν ψυχὴν αὐτοῦ ἐν τῷ κόσμῳ τούτῳ εἰς ζωὴν αἰώνιον φυλάξει αὐτήν.

 26  ἐὰν ἐμοί τις διακονῇ, ἐμοὶ ἀκολουθείτω, καὶ ὅπου εἰμὶ ἐγὼ ἐκεῖ καὶ ὁ διάκονος ὁ ἐμὸς ἔσται· ἐάν τις ἐμοὶ διακονῇ τιμήσει αὐτὸν ὁ πατήρ.

 27  Νῦν ἡ ψυχή μου τετάρακται, καὶ τί εἴπω; πάτερ, σῶσόν με ἐκ τῆς ὥρας ταύτης; ἀλλὰ διὰ τοῦτο ἦλθον εἰς τὴν ὥραν ταύτην.

 28  πάτερ, δόξασόν σου τὸ ὄνομα. ἦλθεν οὖν φωνὴ ἐκ τοῦ οὐρανοῦ· καὶ ἐδόξασα καὶ πάλιν δοξάσω.

 29  ὁ οὖν ὄχλος ὁ ἑστὼς καὶ ἀκούσας ἔλεγεν βροντὴν γεγονέναι, ἄλλοι ἔλεγον· ἄγγελος αὐτῷ λελάληκεν.

 30  ἀπεκρίθη Ἰησοῦς καὶ εἶπεν· οὐ δι᾽ ἐμὲ ἡ φωνὴ αὕτη γέγονεν ἀλλὰ δι᾽ ὑμᾶς.

 31  νῦν κρίσις ἐστὶν τοῦ κόσμου τούτου, νῦν ὁ ἄρχων τοῦ κόσμου τούτου ἐκβληθήσεται ἔξω·

 32  κἀγὼ ἐὰν ὑψωθῶ ἐκ τῆς γῆς, πάντας ἑλκύσω πρὸς ἐμαυτόν.

 33  τοῦτο δὲ ἔλεγεν σημαίνων ποίῳ θανάτῳ ἤμελλεν ἀποθνῄσκειν. (Jn. 12:20-33 BGT)

20 Có một vài người Hy Lạp trong số những người đi lên để thờ phượng vào dịp lễ

21 Họ đến cùng Philípphê, người đến từ Bếtsaiđa, vùng Galilê và sau khi gặp anh ta, họ nói: “Thưa ngài, chúng tôi muốn gặp Giêsu.”

22 Anh Philípphê đến và nói cùng Anrê, Anrê đến cùng với Philípphê, và họ nói cùng Đức Giêsu.

23 Đức Giêsu trả lời họ, nói rằng: “Giờ đã đến để Con Người được tôn vinh”

24 Amen, Amen, Thầy nói cùng anh em, nếu hạt lúa mì, hạt mà rơi xuống đất không chết đi[1] nó tồn tại một mình, nhưng nếu chết đi nó sẽ mang nhiều hoa trái.

25 Người yêu mạng sống[2] của mình Thầy thì sẽ phá hủy nó, còn người ghét mạng sống của mình ở thế giới này sẽ bảo toàn được nó vào sự sống đời đời.

26 Nếu ai phục vụ Thầy, hãy đi theo Thầy, và Thầy ở đâu người phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Nếu ai phục vụ Thầy, Người Cha sẽ vinh danh anh ấy.

27 Bây giờ linh hồn Thầy đã kinh sợ. Thầy nói bây giờ? Cha ơi! hãy cứu con khỏi giờ này? Nhưng vì điều này con đã đến vào giờ này.

28 Cha ơi, hãy tôn vinh danh của Cha. Có tiếng đến từ trời: “Ta đã tôn vinh và sẽ lại tôn vinh.”

29 Đám đông, những người đang đứng và nghe nói rằng: “Đó là tiếng sấm”, những người khác nói: “Một thiên thần đã nói với ông ấy”

30 Đức Giêsu trả lời rằng: “Không phải vì tôi tiếng ấy đã đến nhưng vì anh chị em”

31 “Bây giờ là bản án của thế gian này. Giờ đây thủ lãnh của thế gian sẽ bị trục xuất ra ngoài.

32 Nếu Thầy được nâng lên khỏi mặt đất, Thầy sẽ kéo tất cả lên cùng Thầy.”

33 Người nói điều này để nói trước loại cái chết mà Người sẽ chết.

Bối cảnh bản văn

Đoạn 12,20-33 được trích ra từ phần cuối của “Sách Các Dấu” (lạ) có thể được gọi là phần “Đức Giêsu di chuyển về phía giờ chết và tôn vinh (11 – 12).[3] Chương 12 khởi đầu bằng sự kiện Đức Giêsu được xức dầu tại Bêtania. Theo giải thích của Đức Giêsu, hành động xức dầu của cô Maria là để chuẩn bị cho ngày mai táng (12,7). Chủ đề mai táng này dĩ nhiên là có liên hệ mật thiết với lời dạy của Đức Giêsu trong đoạn Tin Mừng này về cái chết tự nhiên của hạt lúa mì được gieo vào lòng đất (12,24). Nó cũng không xa lạ với chủ đề “nâng cao khỏi mặt đất” (12,32).  Chủ đề “nâng cao” liên kết với 3,1-36, nơi mà Đức Giêsu mặc khải rằng: “Con Người sẽ được nâng cao, để ai tin vào Người thì có sự sống đời đời” (3,14). Công bố này sẽ được những người Do Thái nhắc lại ngay sau đoạn này để chất vấn Đức Giêsu về sự trường tồn của Đấng Kitô (12,34). “Nâng cao lên khỏi mặt đất” vừa là chủ đề Khổ Nạn vừa bao hàm cả chủ đề “tôn vinh”. Chủ đề tôn vinh được nhấn mạnh trong đoạn trước đó bằng lời bình chú của tác giả: “Sau khi Đức Giêsu được tôn vinh, các ông nhớ lại lời Thánh Kinh đã chép những điều đó về Người” (12,16). Trong đoạn văn này, Đức Giêsu nói đến “đã đến giờ Con Người được tôn vinh” (12,23). Người cũng cầu xin Chúa Cha “tôn vinh danh” của Chúa Cha (12,28). Lời đáp trả từ trời khẳng định sự tôn vinh danh Chúa Cha: “Thầy đã tôn vinh, Thầy sẽ còn tôn vinh nữa”. Chủ đề “tôn vinh” cũng sẽ được lặp lại nơi đoạn cuối của chương 12: “Ngôn sứ Isaia đã thấy ‘vinh quang’ của Đức Giêsu và đã nói về Người” (12,41); Các lãnh đạo Do Thái “chuộng ‘vinh quang’ của phàm nhân hơn ‘vinh quang’ của Thiên Chúa” (12,43). Chủ đề “tôn vinh” cũng là chủ đề của nửa còn lại của Tin Mừng thứ tư.  Quả vậy, phần 13,1 – 20,31 được gọi là “Sách Của Sự Tôn Vinh”.[4] Nói đến “tôn vinh”, “nâng cao” thì không thể không nói đến mầu nhiệm Phục Sinh. Chủ đề Phục Sinh dĩ nhiên là chủ đề quan trọng nhất của toàn bộ các sách Tin Mừng, không riêng gì Tin Mừng thứ tư. Trong bối cảnh trực tiếp chủ đề Phục Sinh trong đoạn văn này gợi nhớ đến “sự sống lại” của La-za-rô được nhắc đến hai lần trong đoạn trước đó (12,9.17). Chủ đề bản án, “sự xét xử” (12,31) cũng là chủ đề nối kết nhiều đoạn trong Tin Mừng thứ tư, đặc biệt là trong chương 5 (3,19; 5,22.24.27.30; 7,24; 8,16 ;9,39). Sự nối kết giữa “thủ lãnh thế gian” và “sự xét xử” trong đoạn này cũng sẽ được lặp lại trong 16,11, nơi mà “thủ lãnh thế gian đã bị kết án”. Một cái nhìn sơ lược về bối cảnh để thấy rằng đoạn văn Ga 12,20-33 nối kết với những đoạn trước và sau nó trong bối cảnh trực tiếp nhưng còn nối kết với nhiều đoạn khác trong Tin Mừng và với toàn bộ Tin Mừng thứ tư, cũng như các Tin Mừng khác.

Giới hạn và cấu trúc bản văn

Giới hạn 

Ga 12,20-33 được bắt đầu bằng dấu hiệu chuyển đoạn khá rõ nét. Đó là cách thức giới thiệu nhân vật mới: “một vài người Hy Lạp” (12,20). Phần giới thiệu về nơi chốn cũng được đề cập. Sự xuất hiện những nhân vật mới bên cạnh hai môn đệ được nêu tên cách đích danh: Philípphê và Anrê. Đây là những nhân vật chính cho câu chuyện này. Đoạn văn được ngắt nơi 12,33: “Đức Giêsu ám chỉ đến loại cái chết mà Người sẽ chết”, tiếp theo sau công bố của Đức Giêsu: “Phần tôi, khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo tất cả lên với tôi” (12,32). Phần ngắt đoạn này xem ra không thỏa đáng vì ngay sau câu nói của Người, dân chúng sẽ đặt câu hỏi là: “Chúng tôi đã học biết trong sách Luật rằng : Đấng Kitô phải trường tồn mãi mãi, thế sao ông lại nói ‘Con Người phải được giương cao’ ? (12,34). Nghĩa là câu chuyện vẫn được tiếp tục với cùng chủ đề mà Đức Giêsu đã mở ra. Trình thuật này nên kết thúc ở 12,36, bằng dấu hiệu chuyển đoạn rõ rệt : “Nói thế xong, Đức Giêsu rời khỏi nơi đó và lánh đi, không cho họ thấy”.

Cấu trúc

Đoạn Tin Mừng này có thể được định dạng bởi bốn phần: phần A (cc.20-22) là phần giới thiệu bối cảnh bao gồm nhân vật và nơi chốn. Phần B (cc.23-26) là phần diễn từ của Đức Giêsu. Nhân dịp có mấy người Hy Lạp đến gặp Đức Giêsu, Người đưa ra diễn từ. Diễn từ này có thể cấu trúc hóa thành một cấu trúc quy tâm với hai cặp thành phần song song với nhau. Phần B1 nói về giờ Con Người được tôn vinh // B’1 cũng nói về sự vinh danh của những người phục vụ Đức Giêsu. Phần B2 là dụ ngôn, tạm gọi là “hạt lúa mì” // B’2 là phần áp dụng dụ ngôn này. Phần C ghi lại phản ứng của Đức Giêsu qua những lời độc thoại và chọn lựa của Người ở C1. Lời cầu xin Chúa Cha “hãy tôn vinh danh Người” và lời đáp trả của “tiếng từ trời” (C2). Kết thúc phần C là phản ứng của đám đông trước “tiếng từ trời”. Bản án dành cho thế gian là phần tiếp theo của cấu trúc bản văn (D). Phần cuối cùng là mạc khải của Đức Giêsu về mầu nhiệm “được nâng lên” và hiệu quả của mầu nhiệm này (E). Họa đồ của đoạn văn này có thể được phác họa ngắn gọn như sau: sự tôn vinh – cái chết – sự nâng lên – cái chết.

A. Giới thiệu Bối cảnh : Nhân vật và nơi chốn (cc.20-22)

B. Diễn từ của Đức Giêsu: Sự tôn vinh và cách thức tôn vinh (cc.23-26)

B1. Giờ Con Người được tôn vinh

B2. Dụ ngôn hạt lúa mì

B’2. Áp dụng dụ ngôn hạt lúa mì

B’1. Phục vụ - theo – vinh danh

C. Phản ứng và lời cầu nguyện của Đức Giêsu (cc.27-29)

C1. Phản ứng và chọn lựa

C2. Lời cầu xin tôn vinh và đáp trả

C3. Phản ứng của đám đông

D. Bản án thế gian: Thủ lãnh thế gian bị trục xuất (c.31)

E. Nâng lên và hiệu quả (cc.32-33)

E1. Nâng lên

E2. Cái chết

Một số điểm chú giải

1. Một vài người Hy Lạp : Người Thầy có thể cho rằng đây là những người Hy Lạp gốc Do Thái sống trong miền đất nào đó ngoài Do Thái. Tuy vậy, có lẽ tác giả Gioan muốn nói những người Hy Lạp thật sự, thuộc thế giới dân ngoại.[5] Ngay trước sự kiện này là lời trách cứ của nhóm Pharisêu: “Các ông chẳng làm nên trò trống gì hết ! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết” (12,19). Những người Hy Lạp này có thể được xem là bằng chứng, chứng minh cho lời phàn nàn của nhóm Pharisêu (thiên hạ theo ông ấy hết). Những người Hy Lạp này là hoa trái đầu tiên của thế giới dân ngoại.[6] Họ muốn gặp gỡ Đức Giêsu với một sự tôn kính đặc biệt. Họ gọi Philípphê, một môn đệ của Đức Giêsu, bằng một ngôn từ rất trịnh trọng: (κύριε). Danh từ này trong Tiếng Hy Lạp mang theo một cách gọi rất lịch sự, trịnh trọng : “Thưa ngài !” (thưa ông) hoặc “thưa thầy”. Nó cũng có nghĩa là “thưa Đức Chúa” thưa “Ông chủ”. Trong bối cảnh này, nghĩa đầu tiên có vẻ hợp lý hơn. Tuy nhiên, cách gọi người môn đệ của Đức Giêsu như thế đủ cho thấy những người Hy Lạp này trân trọng Đức Giêsu đến thế nào. Sự dè dặt trong cách họ tiếp cận Đức Giêsu có thể cho thấy họ còn ngần ngại không biết Đức Giêsu có muốn tiếp cận với dân ngoại hay không. Sự tìm gặp của một vài người Hy Lạp là bối cảnh trực tiếp để Đức Giêsu nói về “giờ tôn vinh”.

2. Philípphê và Anrê: Trong danh sách 12 tông đồ của Tin Mừng Máccô, tên Philípphê được đặt ngay sau tên Anrê. Máccô đặt bộ ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan vào đầu danh sách, sau đó mới đến Anrê và Philípphê và các môn đệ khác.[7] Mátthêu xếp tên của Anrê ngay sau tên Phêrô và Philípphê sau tên của hai anh em Giacôbê và Gioan. Luca cũng liệt kê tương tự Mátthêu. Tin Mừng Gioan không nói đến danh sách 12 Tông Đồ. Theo tác giả, Anrê và một môn đệ vô danh là hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Họ đã nghe Gioan Tẩy Giả giới thiệu về Đức Giêsu: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Rồi, họ đã “đến, xem chỗ Người ở và ở lại” với Đức Giêsu một ngày (Ga 1,39). Chính Anrê, sau khi trở về từ chỗ Đức Giêsu ở đã giới thiệu và dẫn em mình là Phêrô đến với Đức Giêsu (1,41-42). Tiếp theo sau đó, Đức Giêsu gặp và gọi ông Philípphê: “Anh hãy theo tôi” (1,43). Theo Gioan, hình như Philípphê được gọi trước cả Giacôbê và Gioan. Theo Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giêsu gọi liền hai cặp anh em: Phêrô – Anrê, rồi Giacôbê – Gioan (Mt 4,18-22 ; Lc 5,1-11 ; Mc 1,16-20).[8] Philípphê được giới thiệu là ở Bếtsaiđa, cùng quê với hai anh em Phêrô và Anrê. Đây là dữ liệu của riêng tác giả Tin Mừng thứ tư. Theo Tin Mừng Nhất Lãm, Phêrô có một ngôi nhà ở Caphácnaoum, một thành phố ngay bên bờ, đầu hồ Galilê, phía Bắc (Mc 1,29-31 ; Mt 8,14-15 ; Lc 4,38-39). Theo Mátthêu và Luca, Bếtsaiđa là một trong những thành phố bị Đức Giêsu nguyền rủa, vì đã không sám hối (Mt 11,21; Lc 10,13-15). Đây cũng là thành phố Đức Giêsu lánh vào sau phép lạ “hóa bánh ra nhiều” (Mc 6,45 ; Lc 9,10) và chữa lành một người mù (Mc 8,22-26). Việc Philípphê đến gặp Anrê có thể giải thích ở góc độ thân thích: hai người là đồng hương; nhưng lý do quan trọng hơn có thể là vì Anrê là môn đệ đầu tiên được gọi. Thế giá của Anrê, có thể là cao hơn Phêrô, vì ông được gọi trước và là người giới thiệu Phêrô cho Đức Giêsu. Sự xuất hiện sóng đôi của Philípphê và Anrê trong Tin Mừng Gioan, cũng được ghi nhận trong phép lạ hóa bành ra nhiều. Lúc đó, Đức Giêsu đã hỏi ông Philípphê là: “Thầy mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Ông Philípphê đáp lại: “Thưa ! có mua đến hai trăm quan tiền cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” (Ga 6,5.7). Sau câu trả lời của Philípphê là lời giới thiệu của Anrê:  “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu” (Ga 6,8-9). Theo R. Schnackenburg, sự “đi cặp” của hai môn đệ này cũng có thể ám chỉ sứ vụ của họ giữa những Người Hy Lạp.[9] Có lẽ vì thế mà những người Hy Lạp tìm đến Philípphê.

3. Con Người:[10] Danh xưng Con Người được dùng rất phổ biến trong Tin Mừng thứ tư. Trong tiếng Hy Lạp : ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου (Con trai của loài người). Danh xưng này trong tiếng Do Thái là בֶן־אָ֜דָ֗ם  nghĩa là “Con trai của nhân loại” hay “con trai của loài người”. Danh xưng này trong Cựu Ước nhiều lần được dùng để nhấn mạnh sự mong manh (Is 51,12, G 25,6) nhỏ bé của con người trước Thiên Chúa (Tv 11,4). Đôi khi nó còn được dùng để chỉ thân phận con người tội lỗi (Tv 14,2t; 31,20) sẽ phải chết (Tv 89,48; 90,3). Danh xưng này còn xuất hiện trong văn chương khải huyền Do Thái như là nhân vật thần linh đến từ đám mây, tiến đến trước tòa Thiên Chúa và nhận lãnh vương quyền phổ quát (Đn 7,13).[11] Nó đơn giản nói về nhân loại cách chung.[12] Danh xưng này xuất hiện 70 lần trong toàn bộ Tin Mừng. Chỉ có Đức Giêsu dùng danh xưng này và cho chính Đức Giêsu, ngoại trừ một lần trong Tin Mừng Gioan nơi dân chúng lặp lại để hỏi Đức Giêsu về sự trường tồn của Đấng Kitô (Ga 12,34). “Con Người” được sử dụng 13 lần trong toàn bộ Tin Mừng thứ tư (1,51; 3,13.14; 5,27; 6,27.53.62; 8,28; 9,35;12,23; 12,34a.b.; 13,31). Tin Mừng này nói về khía cạnh vinh quang của Con Người (12,23.28; 13,31.32). Con Thiên Chúa thi hành quyền phán xét vào ngày sau hết với tư cách là Con Người (5,26-29); Thiên thần lên xuống trên Con Người (1,51); Người từ trời đến (3,13) và Người sẽ lên nơi Người ngự trước kia (6,62); Con Người phải trải qua thập giá (9,35). Trong cái nhìn của Gioan, Thập giá trùng hợp với sự trở về trời để Con Người được vinh thăng: “Con Người phải được treo lên” (3,14; 12,34); vinh hiển của Người là ở chỗ ấy (12,23; 13,31).[13] Trong Tin Mừng thứ tư, sự tôn vinh của Con Người cũng được nhấn mạnh (Ga 12,23; 13,31). Ngoài ra, quyền xét xử (5,27); Quyền trao ban sự sống (6,27); Đấng được đặt niềm tin vào (9,35); Đấng mà thịt Người được ăn (6,35) Trong đoạn văn này danh xưng “Con Người” được dùng như là một đấng từ “trên đi xuống” và từ “dưới đi lên”. Con Người cũng gắn liền với sự “được giương cao" (3,14; cf. 8,28) như ông Môsê đã giương cao “con rắn đồng trong sa mạc”. Danh xưng này cũng được đặt bên cạnh danh xưng “Con Một của Thiên Chúa”. C. Barrett hiểu rằng “chính trong tư cách là Con Người mà Đức Giêsu định dạng sự nối kết giữa hai không gian trời và đất, sự hiện hữu trần thế của Người là nơi mà những thực tại trên trời tỏ hiện và cũng là nơi mà những thực tại trên trời bị nhân loại chối từ”.[14]

4. Tôn vinh Danh Cha: Ý tưởng “tôn vinh” được lặp lại đến 4 lần trong riêng đoạn văn này: Con Người được tôn vinh (12,23); xin tôn vinh Danh Cha (12,28a); “Thầy đã tôn vinh, Thầy sẽ còn tôn vinh nữa” (12,28b). Động từ “tôn vinh” dùng ở thể bị động, thì aorist, (δοξασθῇ) có tác nhân được hiểu ngầm là Chúa Cha. Cách dùng “bị động” của động từ này gợi nhớ đến Is 66,5, nơi lời Đức Chúa nói cùng những người kính sợ lời Người: “Những anh em của ngươi, những kẻ ghét ngươi và đuổi ngươi ra ngoài vì danh Thầy đã nói: ‘Hãy để Đức Chúa được tôn vinh, để chúng tôi thấy niềm vui của các bạn’”. Trước căn bệnh của Ladarô Đức Giêsu cũng nói rằng: “bệnh này không chết nhưng vì sự tôn vinh của Thiên Chúa, để Người Con của Chúa có thể được tôn vinh nhờ nó” (11,4).  Chúa Cha sẽ được tôn vinh nhờ người Con mỗi khi thực hiện những điều các môn đệ yêu cầu nhân danh Đức Giêsu (14,13). Đức Giêsu cầu xin Cha tôn vinh danh của Chúa Cha. Tiếng từ trời khẳng định rằng: “Đã tôn vinh” và “sẽ tôn vinh nữa”. Tin Mừng thứ tư nói đến hai loại danh (tên) “τὸ ὄνομα”: Danh Đức Giêsu và Danh Chúa Cha. Người tin vào danh Đức Giêsu sẽ được trao “quyền trở thành Con Thiên Chúa” (1,12). Danh của Đức Giêsu được nhiều người tin (2,23). Người nào không tin vào danh của Con Một Chúa thì đã bị kết án rồi (3,18). Ai cầu xin điều gì nhân Danh của Đức Giêsu thì Người sẽ làm (14,13-14; 15,16.21; 16,23). Đức Giêsu đến vì danh của Chúa Cha (5,43). Việc Đức Giêsu làm nhân danh của Chúa Cha (10,25) làm chứng cho Người. Chủ đề tôn vinh được nhắc đến ở chương 12 như là một giới thiệu cần thiết cho “Sách của sự tôn vinh” bắt đầu từ chương 13 (13,1 – 20,31).

5. “Giờ đã đến” (ἡ ὥρα): Kiểu nói giờ + động từ “đến” rất đặc trưng, mang nhãn hiệu độc quyền của Tin Mừng Gioan. Nó được dùng ít nhất 14 lần trong Tin Mừng này (2,4; 4,21.23; 5,25.28; 7,30; 8,20; 12,23; 16,2.4.21.25.32; 17,1). Cách dùng này diễn tả nhiều chiều kích khác nhau. Lần đầu tiên cụm từ này xuất hiện nơi tiệc cưới Cana, nơi đó Đức Giêsu đã nói cùng Mẹ Người: “Việc đó có vấn đề gì với con và với mẹ? Giờ của con chưa đến” (2,4). Trong câu chuyện “Người phụ nữ Samaria” (4,1-42), Đức Giêsu dùng hai lần mệnh đề này để nói đến nơi mà những người thờ phượng đích thực sẽ phải thờ phượng Chúa Cha. Đó là “trong tinh thần và chân lý” (4,21.23). Trong cuộc tranh luận với những người Do Thái, Đức Giêsu nói: “Giờ sẽ đến”, khi những kẻ chết, những kẻ trong mồ sẽ nghe tiếng của Con Chúa và được sống (5,25.28). Hai lần cấu trúc này được áp dụng cho “những kẻ giết” các môn đệ, nhưng nghĩ rằng họ phục vụ Thiên Chúa (16,2.4). Đức Giêsu nói trước khi “giờ đó đến” các môn đệ nhớ là Người đã nói với các môn đệ rồi. Một lần áp dụng cho giờ của “người phụ nữ sinh con”. Khi giờ ấy đến thì cô lo lắng nhưng sinh con rồi thì cô không còn nhớ đến đau khổ nữa. Đây là ví dụ tương tự cho sự đau khổ buồn phiền của các môn đệ rồi sẽ chuyển thành niềm vui (16,20). Đó là giờ mà các môn đệ “sẽ bị phân tán và để” Đức Giêsu một mình (16,32). Đức Giêsu rất có thể nói đến cuộc phân tán khi Người bị bắt (Mc 14,50-52; Mt 26,56; Ga 18,8). Trong 12,23 động từ “đến” được dùng ở thì “hoàn thành” diễn tả một hành động đã xảy ra và hiệu quả vẫn còn trong hiện tại.[15] Giờ ấy đã đến và những điều xảy ra trong giờ ấy vẫn đang tiếp diễn. Giờ Đức Giêsu muốn nói trong bối cảnh này có thể hiểu là giờ chết, giống như hạt lúa mì rơi xuống đất phải thối đi. Giờ đó cũng là giờ Phục Sinh, giờ sinh bông hạt với những ơn ích đi kèm với sự Phục Sinh. Trong 17,1, khi Đức Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha, động từ này, ở thì hoàn thành cũng được sử dụng: “giờ đã đến, xin tôn vinh Con Cha, để Người Con cũng tôn vinh Cha”. Nơi đây có sự kết hợp giữa “tôn vinh” và “giờ đã đến” giống y hệt trong đoạn này. “Giờ đã đến” này liên quan gần gũi với “giờ của Người chưa đến” được nói đến 2 lần để diễn tả lý do trì hoãn của những kẻ bắt Người: Họ muốn bắt Người nhưng “giờ của Người chưa đến” (7,30; 8,20). “Giờ đã đến” cũng là thời gian đặc biệt ấn định lúc Đức Giêsu rời bỏ thế gian để đến cùng Chúa Cha (13,1).

6. “Hạt lúa mì gieo vào lòng đất” : Dụ ngôn này được bắt đầu bằng cách nói rất trịnh trọng “Amen, Amen” (quả thật, quả thật). Cách dùng gấp đôi hai chữ “Amen” trước mệnh đề “tôi nói cùng các ngươi” (ἀμὴν ἀμὴν λέγω ὑμῖν) cũng là đặc trưng của Tin Mừng thứ tư. Tin Mừng Nhất Lãm có dùng lối diễn tả này trước những câu nói của Đức Giêsu nhưng chỉ có một chữ Amen được dùng (ἀμὴν λέγω ὑμῖν). Và tần suất của cách dùng này trong Tin Mừng thứ tư cũng áp đảo so với Tin Mừng Nhất Lãm. Mátthêu là tác giả dùng nhiều lần mệnh đề này hơn cả (31 lần, Mc: 14 lần; Lc: 6 lần), trong khi đó mệnh đề này (với Amen được gấp đôi) được Gioan sử dụng đến 50 lần. Cách nói này, rõ ràng nhấn mạnh tính chắc chắn của logic trong dụ ngôn này. Đức Giêsu dùng kinh nghiệm thông thường của người nông dân trồng lúa. Hạt lúa muốn nẩy mầm thì phải ngấm nước và thối đi. Và cho đến khi lên cây, hạt lúa giống hoàn toàn Thầyn biến. Các vùng quê Việt nam có nhiều nơi trồng lúa bằng lối cấy. Họ dùng mạ để cấy. Thế nhưng, để có mạ thì cũng phải gieo hạt lúa vào lòng đất. Và tiến trình hạt lúa giống phân hủy cũng như Đức Giêsu diễn tả. Trên thực tế, có nhiều hạt giống gieo xuống, nó không chịu nảy mầm. Nó cứ trơ ra vậy. Dầu cho các hạt giống được tuyển chọn rất kỹ, vẫn không bảo đảm được một trăm phần trăm số hạt gieo xuống đều nẩy mầm. Nhưng hạt nào nẩy mầm thành cây thì hạt ấy phải hư đi.

7. Chết: Như đã nói trên, không phải một trăm phần trăm số hạt gieo xuống đều nẩy mầm. Tuy nhiên, khi cây đã lớn và sinh hoa trái thì chắc chắn hạt giống của nó đã chết đi và Thầyn biến vào lòng đất. Đức Giêsu muốn nhấn mạnh đến hành động “chết”.[16] Động từ “chết” (ἀποθνῄσκω) được dùng ba lần trong đoạn này. Hai lần được dùng cho hạt lúa mì (12,14a.24b.) và một lần được dùng cho Đức Giêsu. Trong câu giải thích về mc khải của Đức Giêsu về mầu nhiệm “được nâng lên khỏi mặt đất”, người thuật chuyện đã cho biết là Đức Giêsu muốn nói trước về cái chết mà Người sẽ chết (12,33). Rõ ràng, có mối liên hệ giữa hạt lúa mì được gieo vào lòng đất và Đức Giêsu. Mệnh đề “loại cái chết nào, Người sẽ chết” (ποίῳ θανάτῳ ἤμελλεν ἀποθνῄσκειν) sẽ được lặp lại trong biến cố Khổ Nạn, khi Philatô trao quyền xét xử Đức Giêsu cho dân Do Thái và họ đáp rằng: “Chúng tôi không có quyền lên án xử tử ai” (Ga 18,32). Đức Giêsu cũng được thượng tế Caipha nói tiên tri là sẽ chết thay cho quốc gia (Ga 11,50-51; 18,14). Cuối cùng, Người bị những người Do Thái kết án phải chết theo luật của họ (Ga 19,7).

8. Yêu quý mạng sống – phá hủy – Ghét mạng sống ở thế gian này – bảo toàn. Tác giả sử dụng cấu trúc song song với những hình ảnh trái ngược nhau: yêu˃˂ ghét; phá hủy ˃˂ bảo toàn. Dụ ngôn hạt lúa mì chết đi này trước nhất áp dụng cho Đức Giêsu qua mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Người. Luật Con Người đưa ra được áp dụng chung chung cho tất cả mọi người:[17] “yêu – phá hủy”, “ghét – bảo tồn, duy trì”. Kiểu nói này bàng bạc với kiểu nói trong Tin Mừng Nhất Lãm: “ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mất mạng sống vì Thầy và vì Tin Mừng, sẽ cứu được nó” (Mc 8,35; Mt 10,39; Lc 9,24). Danh từ mạng sống “τὴν ψυχὴν”, cũng có nghĩa là linh hồn, phần bên trong của con người khác với thể xác. Gioan có thể có ý muốn nói ở đây chỉ là thể xác. Yêu “mạng sống” và “ghét mạng sống ở thế gian” có thể chỉ nói về “sự sống” tạm bợ của thể xác. Thể xác của bất cứ ai rồi cũng sẽ chết. Ai yêu quý chăm chút cho thể xác này ở đời này rồi cũng chết. Mục đích của những người theo Chúa là sự sống đời đời (ζωὴν αἰώνιον). Đức Giêsu có thể đang nói về sự tử đạo của các Kitô hữu.[18] Giống như các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm, Gioan cũng nhấn mạnh sự hy sinh trong đời sống của các tín hữu. Đức Giêsu sẽ bước vào cuộc Khổ Nạn, trải qua sự chết rồi mới phục sinh vinh hiển. Những người tin theo Chúa cũng vậy họ cũng phải trải qua quá trình này như quy luật tự nhiên phân hủy của hạt lúa mì.

9. Phục vụ - Hãy theo: Phía sau mc khải về mầu nhiệm chết để sinh nhiều bông hạt của hạt lúa mì và ghét mạng sống thể lý đời này để bảo tồn cho sự sống trường tồn, là một lời mời gọi: “Hãy theo Thầy!”. Đây là động từ diễn tả tương quan sư - đồ (thầy – trò). Trong Tin Mừng Nhất Lãm, đây chính là động từ diễn tả sự “đi theo” của bốn môn đệ đầu tiên (Mt 4,20.22). Trong Tin Mừng Gioan, hai môn đệ của Gioan (Tẩy Giả) cũng “đi theo” Đức Giêsu sau khi nghe Gioan giới thiệu: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (1,37). Đây cũng là động từ Đức Giêsu dùng để gọi môn đệ Philípphê: “Hãy theo thầy” (1,43). Đức Giêsu cũng dùng hai lần động từ này để mời gọi Phêrô sau khi Người đã Phục Sinh (Ga 21,19.22). Tương tự, trong Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giêsu gọi Lêvi (Mc 2,14; Mt 9,9; Lc 5,27) và người thanh niên giàu có (Mt 19,21; Mc 10,21; Lc 18,22) cũng cùng một mệnh lệnh, cùng một động từ. Theo Đức Giêsu đồng nghĩa với việc từ bỏ chính mình và vác thập giá của mình mà theo (Mt 16,24; Mc 8,34; Lc 9,23). Lời mời gọi này tiếp theo ngay sau lời công bố: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng vì Thầy sẽ cứu được nó” (Lc 9,24; Mt 16,25; Mc 8,35). Mô hình này của Tin Mừng Nhất Lãm có vẻ đi song song với mô hình của người môn đệ mà Đức Giêsu đặt ra trong đoạn này. Lời mời gọi “đi theo” của Đức Giêsu dành cho những “người phục vụ” đi theo ngay sau lời ai yêu mạng sống thì phá hủy, còn ai ghét mạng sống ở đời này thì bảo toàn. Trong bối cảnh này, “phục vụ” không còn là những phụ giúp những công tác tông đồ thường ngày nhưng là dấn thân với Đức Kitô trong mầu nhiệm Tử Nạn – Phục Sinh. “Theo Chúa” không chỉ là đi theo nhưng là học lấy bài học và rập khuôn theo gương mẫu của Đấng sẵn sàng chết đi cho người khác. “Theo Chúa” là vác thập tự lên đồi Golgotha với Người. Phần thưởng dành cho những người “phục vụ” Đức Giêsu là được Chúa Cha ban vinh dự. Gioan dùng nhiều lần động từ này với đối tượng được vinh dự là Chúa Cha và Người Con: “Tất cả có thể vinh danh Người Con hệt như họ vinh danh Chúa Cha; ai không vinh danh Người Con thì không vinh danh Chúa Cha” (5,23; Cf. 8,49). Một lần duy nhất động từ ban vinh dự có chủ ngữ là Chúa Cha và đối tượng lãnh nhận vinh dự được ngầm hiểu là “người phục vụ” Đức Giêsu. Sự “theo” Đức Giêsu không dừng lại ở cái chết nhưng còn tiến tới sự vinh quang và hoàn hảo của Người.[19]

10. Kinh sợ (ταράσσω): Lời tự bạch của Đức Giêsu trước biến cố Tử Nạn cho thấy cảm xúc và sự chiến đấu nội tâm của Người. Tin Mừng Nhất Lãm diễn tả cảm xúc lo sợ của Đức Giêsu trong buổi cầu nguyện nơi Vườn Cây Dầu. Tác giả Gioan thì cho biết Đức Giêsu đi vào khu vườn bên kia suối Kítrôn với các môn đệ (Ga 18,1), nhưng không tường thuật chi tiết buổi cầu nguyện như Tin Mừng Nhất Lãm. Trong buổi cầu nguyện ấy, các Tin Mừng Nhất Lãm đều ghi lại cảm xúc, buồn sầu, lo sợ của Đức Giêsu. Riêng Luca còn ghi lại cảnh Đức Giêsu “đổ mồ hôi máu” (Lc 22,44).[20] Đức Giêsu cầu nguyện xin Cha “cất chén này xa” Người, nhưng cũng bày tỏ sự quyết quyết liệt là “xin đừng làm theo ý Con mà làm theo ý Cha” (Lc 22,42; Cf. Mt 14,36; Mt 26,39). Khác với Tin Mừng Nhất Lãm, Tin Mừng Gioan cho biết Đức Giêsu “ταράσσω”. Động từ này trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “lo lắng” (troubled) hoặc “kinh sợ” (terrified). Đây là động từ Mátthêu dùng để diễn tả sự “kinh sợ” và la lên của các môn đệ khi thấy Đức Giêsu đi trên mặt biển (Mt 14,26). Tâm trạng lo lắng của vua Hêrôđê khi nghe tin Đức Giêsu mới sinh cũng được ghi lại bằng động từ này (Mt 2,3). Động từ này được dùng ở thì hoàn thành diễn tả nỗi lo lắng của Đức Giêsu đã diễn ra và hậu quả của nó vẫn còn hiển hiện. Tâm hồn của Đức Giêsu cũng cảm thấy “phiền não” trước “sự trao nộp của Giuđa Ítcariốt (13,21). Hai lần Người an ủi các môn đệ rằng: “Lòng anh em đừng “buồn phiền” hãy tin vào Chúa và tin vào Thầy (14,1); “Đừng để lòng anh em lo lắng và đừng để chúng sợ sệt” (14,27). Sự kinh sợ của Đức Giêsu sẽ trải dài từ đây đến hết Cuộc Khổ Nạn và sự buồn sầu lo lắng của các môn đệ cũng sẽ xuất hiện và kéo dài khi thầy Giêsu đi vào Cuộc Khổ Nạn như thế.

11. Cứu khỏi giờ này: Khác với Tin Mừng Nhất Lãm, nơi Đức Giêsu cầu xin Cha “hãy cất chén này khỏi” Người. Ở đây Đức Giêsu tự hỏi và không phải “cất chén” mà là “cứu thoát khỏi giờ này”. Đức Giêsu muốn nói đến một thời điểm, một khoảng thời gian trong đó tất cả biến cố Khổ Nạn sẽ diễn ra. Người tự vấn và cũng tự trả lời. Cũng như trong Tin Mừng Nhất Lãm, Người tự xin nhưng Người cũng tự quyết. Đức Giêsu xác định rõ mục đích của sứ vụ của Người: “Vì mục đích này (ἀλλὰ διὰ τοῦτο) mà Con đã đến trong giờ này” (12,27).  Vì mục đích này (διὰ τοῦτο) theo C. Barrett là “Tôi sẵn sàng hiến dâng mạng sống mình”.[21] Điều này phù hợp với logic của dụ ngôn “hạt lúa mì” mà Đức Giêsu tâm đắc. Tương tự như trong Tin Mừng Nhất Lãm, Người sẵn sàng đón nhận “chén” theo ý Chúa Cha chứ không theo cảm xúc, ý muốn của riêng mình.

12. Thủ lãnh thế gian: Giây phút Đức Giêsu được tôn vinh cũng là giây phút thế gian bị kết án: Thủ lãnh thế gian bị tống ra ngoài.[22] Thế gian” ở đây có thể hiểu là thế gian chống đối và chối bỏ Đức Giêsu chứ không phải là thế gian toàn nhân loại. Dĩ nhiên, Đây không phải là bản án do Đức Giêsu kết án nhưng là một bản “tự kết án”. Đức Giêsu đến không phải để lên án và kết án thế gian, nhưng để thế gian được cứu độ nhờ Người (Ga 3,17). J. Moloney nói đến một thần học của sự tự kết án, mà Tin Mừng thứ tư đóng góp cho tư tưởng Kitô giáo. Người Thầy không cần phải chờ đến thời sau hết khi Con Người trở lại xét xử như trong Mt 25,31-46. Người Thầy xét xử chính mình qua việc chấp nhận hay từ chối mc khải của Chúa trong và qua Đức Giêsu và qua những hành động tốt, xấu đến từ quyết định chọn lựa của mình.[23]

13. Được nâng lên khỏi mặt đất: Động từ “ὑψόω” (nâng lên) là một động từ mang nhãn hiệu Gioan. Tác giả dùng rất nhiều lần động từ này để diễn tả mầu nhiệm “nâng lên” của Đức Giêsu. Ngoài hai lần trong đoạn Tin Mừng này, còn nhiều lần khác nữa Đức Giêsu tiền báo về “sự nâng lên này”. Khi Người Do Thái nâng Đức Giêsu lên, họ sẽ nhận ra là Người “hằng hữu” (ἐγώ εἰμι) (Ga 8,28). Đức Giêsu hứa rằng, khi Người được “nâng lên” khỏi mặt đất Người sẽ “kéo mọi người lên” với Người (12,32.34). Động từ nâng lên dùng ở “thể bị động thần linh” có tác nhân là chính Thiên Chúa. Cỏ thể diễn tả rằng, Đức Giêsu bị những người Do Thái “treo lên” nhưng lại được “Thiên Chúa “nâng lên”. Động từ này rõ ràng ám chỉ đến sự chết, mầu nhiệm Tử Nạn nhưng cũng ám chỉ đến vinh quang Phục Sinh. Bởi lẽ, nếu “nâng lên” chỉ nói đến sự chết, thì Đức Giêsu không kéo mọi người lên theo làm gì. Hơn nữa, làm sao họ nhận ra Người hằng hữu được nếu “nâng lên” chỉ là tử nạn. Khác với Tin Mừng Máccô, sự đau khổ và sự vinh quang phân biệt theo thứ tự thời gian: tử nạn – sau ba ngày sẽ sống lại (Mc 8,31). Gioan dùng một động từ để diễn tả cả hai. “Nâng lên” vừa diễn tả Tử Nạn và vừa cho thấy vinh quang.[24] Đức Giêsu bị treo lên là giá chuộc cho tội lỗi nhân loại. Người không tìm vinh quang cho mình những là ơn cứu độ cho nhân loại. Hiệu quả cứu độ của “sự được nâng lên” của Người có tính phổ quát. Tính từ bất định, số nhiều “πάντας” (tất cả) mở rộng biên giới cứu độ ra vô tận, không giới hạn một nhóm người nào. Như R. Schnackenburg đã nhận định: “Đặc tính tích cực quan trọng hơn của giờ của Đức Giêsu hệ tại nơi sự cứu độ của các tín hửu và cụ thể ở nơi chiều kích phổ quát.”[25]

14. Cái chết mà Người sẽ chết: Nhờ người thuật chuyện, có thể là chính tác giả, độc giả hiểu rằng: “Được nâng lên” chính là cái chết mà Đức Giêsu sẽ chết. Như đã nói ở trên, động từ chết ở đây đồng nghĩa với động từ chết diễn tả hạt lúa mì. Chi tiết này cũng phản ảnh niềm tin và cách hiểu của cộng đoàn Gioan đối với mầu nhiệm “được nâng lên”. Được “nâng lên khỏi mặt đất” có nghĩa là cái chết “treo trên thập giá”, nhưng cũng là “được nâng lên” cõi trời cao, được tôn vinh, vinh thăng qua mầu nhiệm Phục Sinh.

Bình luận tổng quát

Phụng Vụ Chúa Nhật V Mùa Chay tiếp tục quảng diễn về mầu nhiệm Khổ Nạn – Phục Sinh. Mầu nhiệm này được Đức Giêsu giới thiệu như là “giờ Con Người được tôn vinh”. Nhân dịp có những người ngoại giáo Hy Lạp đến tìm, những người có thiện cảm với Đức Giêsu cũng như các môn đệ của Người. Đức Giêsu không ra gặp Người Hy Lạp mà giới thiệu cho họ toàn bộ mầu nhiệm cao cả nhất của cuộc đời Ngài. Đó là hình ảnh mà Đức Giêsu muốn họ gặp gỡ. Đức Giêsu mạc khải cho họ về “sự tôn vinh” của Người. Ngạc nhiên thay, sự tôn vinh ấy lại được mạc khải qua một dụ ngôn diễn tả một quy luật tất yếu của đời thường. Ai cũng biết, một hạt lúa muốn nẩy mầm rồi sinh hoa trái thì hạt lúa ấy phải tiêu hủy và Thầyn biến hoàn toàn. Động từ “chết” được dùng cho hạt lúa mì, cũng là động từ được dùng cho Đức Giêsu. Đức Giêsu cũng sẽ chết đi để mang lại hoa trái ơn cứu độ cho Con Người. Đó là một điều tất yếu. Dụ ngôn hạt lúa mì với quy luật tự nhiên tất yếu đó lại được áp dụng cho tất cả phận người, không riêng gì ai. Nó đáng lưu tâm cho ai muốn có “sự sống đời đời”. Ai yêu mạng sống mình thì sẽ giết chết nó, còn ai ghét mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Quy luật này tương tự như quy luật được nói đến trong Tin Mừng Nhất Lãm: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất”, còn “ai liều mất mạng sống mình” vì Đức Giêsu và “vì Tin Mừng” thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Đức Giêsu muốn nói đến ơn gọi tử đạo của các tín hữu. Tử đạo không chỉ bằng cái chết, sự bách hại, nhưng còn bằng những hy sinh trong đời sống hằng ngày vì tình yêu dành cho Chúa và anh chị em đồng loại. Cái chết, cái mất mà Đức Giêsu muốn nói là cái chết của thân xác thể lý. Nhưng cái chết này có thể dẫn tới cái chết đời đời nếu người Thầy “tham sống sợ chết” mà làm trái đạo lý làm người, trái những điều Chúa dạy và không tin vào Đức Giêsu. Ngược lại, sự chết ấy sẽ mang lại sự sống đời đời cho cả thân xác thể lý và linh hồn bất tử nếu người Thầy dám hy sinh nó vì tình yêu và nguyên tắc làm người, làm con Chúa. Nói đến sự sống đời đời không chỉ nói đến sự bất tử cho bằng là chất lượng cuộc sống đời đời. Đó là hạnh phúc viên mãn với Chúa và với những người khác, trong đó có người thân bạn hữu. Trong thực tế lịch sử, khi đối diện với cuộc Khổ Nạn và cái chết Đức Giêsu cũng đã từng bồi hồi, xao xuyến và kinh sợ đến đổ mồ hôi máu.[26] Nếu như trong Tin Mừng Nhất Lãm Người xin Chúa Cha “cất chén này xa Người thì trong Tin Mừng Gioan, Người tự vấn rằng liệu Người có nên xin Chúa Cha “cứu” Người khỏi giờ này. Tuy nhiên, chọn lựa là như nhau. Cuối cùng Đức Giêsu đã chọn lựa thánh ý của Chúa Cha hơn là ý riêng mình, vì đó chính là “mục đích” mà Người đã đến thế gian. Lời cầu nguyện, cảm xúc lo sợ, ý Chúa Cha được thể hiện, tất cả đã diễn ra trong cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu. Sự vâng lời tuyệt đối cho đến chết và chết trên thập tự giá cũng là con đường đến sự tôn vinh của Đức Giêsu.[27] Nhiều nơi khác trong Tân Ước sự vinh quang vượt trên quyền lực thù ghét liên quan đến cái chết của Đức Kitô trên thâp giá (Cl 1,20 ; 2,14).[28] Sự tôn vinh của Đức Giêsu theo cách ấy cũng là sự tôn vinh dành cho Chúa Cha. Chúa Cha được tôn vinh nhờ vào sự vâng phục của Chúa Con. Nói cách khác, Chúa Cha đã không bị mất mặt khi đặt trọn tín thác sứ vụ cứu độ vào Thầyy Chúa Con. Sự tôn vinh của Chúa Con theo cách ấy cũng mang lại ơn cứu độ cho nhân loại. Khi Đức Giêsu được “nâng lên” thì “tất cả” được kéo lên cùng Người. Không phải Người kéo họ lên cây thập giá với Người nhưng đưa họ vào vinh quang với Người. Và muốn vào hưởng vinh quang với Người thì họ không thể tránh khỏi con đường thập tự, như cách Đức Giêsu áp dụng dụ ngôn “hạt lúa mì”: “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ huy diệt nó, ai ghét mạng sống mình ở đời này thì bảo toàn được nó cho sự sống đời đời”. Dụ ngôn được áp dụng cụ thể cho người phục vụ Đức Giêsu. Người phục vụ Đức Giêsu được mời gọi “đi theo” Người. “Đi theo” có nghĩa thông thường là “làm môn đệ”. Tuy nhiên, trong bối cảnh trực tiếp này (ngay sau dụ ngôn hạt lúa mì), “đi theo” có nghĩa là đi vào cuộc khổ nạn với Đức Giêsu. Hành trình cuộc khổ nạn sẽ được kết thúc bằng sự tôn vinh. Mệnh đề “Thầy ở đâu, kẻ đi theo thầy cũng sẽ ở đó” diễn tả cả hai thực tại: (i) kẻ phục vụ Người sẽ ở trong cuộc khổ nạn với Người; (ii) kẻ phục vụ Người sẽ ở trong vinh quang với Người. Diễn từ của Đức Giêsu được bắt đầu bằng “sự tôn vinh” và kết thúc bằng “sự nâng lên” nhưng sự “nâng lên ấy” được tác giả giải thích là chết. Lúc Đức Giêsu được tôn vinh theo cách ấy cũng là lúc thế gian bị “tự xét xử”. “Thủ lãnh thế gian” bị trục xuất ra ngoài vì họ không tin vào Con Một Thiên Chúa. Thế gian ở đây gói gọn trong số những người chống đối và chối bỏ Đức Giêsu và con đường cứu độ của Người. Sự quy nhóm này cũng do sự chọn lựa của họ bởi lẽ ơn cứu độ của Con Người là ơn cứu độ phổ quát, dành cho tất cả mọi người, không chỉ riêng ai.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD.

 



[1] Động từ ἀποθνῄσκω có nghĩa là: hư đi, thối đi, khô đi (Cây cỏ); chết đi ngược lại với sống (người và động vật).

[2] ψυχή, ῆς trong tiếng Hy Lạp nghĩa là linh hồn bất tử, phần bên trong của thân xác. Nó cũng có nghĩa là sự sống mạng sống [F.W. Danker (ed.), A Greek-English lexicon of the New Testament and other early Christian literature (Chicago 32000) 1099].

[3] R.E. Brown, The Gospel according to John (I–XII). Introduction, translation, and notes (AYB; New Haven – London 2008) XXIX, cxli.

[4] R.E. Brown, The Gospel according to John (I–XII), XXIX, cxxxviii.

[5] R.W. Haenchen – R. W. Funk – U. Busse,  John. A commentary on the Gospel of John (Hermeneia CHCB; Philadelphia 1984) 96: R. Schnackenburg, Il Vangelo di Giovanni (seconda parte). Testo Greco e Traduzione, Commento au capp.5-12 di Rudolf Schnackenburg (CTNT: Brescia 1977) 634.

[6] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 211.

[7] Danh sách 12 Tông đồ theo Tin Mừng Nhất Lãm. Mát-thêu: “đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông; ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô; ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người” (10,2-4) ; Mác-cô: “Si-môn là Phê-rô, rồi có ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê -Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi, rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta-đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người” (3,16-19); Luca: “đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông; ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô; ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người” (6,2-4).

[8] Luca không nhắc đến tên An-rê trong nhóm các môn đệ đầu tiên, và câu chuyện Đức Giê-su gọi Phê-rô – Gio-cô-bê – Gioan cũng thú vị và kịch tính hơn hai tác giả còn lại.

[9] R. Schnackenburg, Il Vangelo di Giovanni, 634-635.

[10] Xem Joseph Phạm Duy Thạch, SVD, “Con trai của con người” trong HORIZON MISSIONARY: CHUYỆN TRÊN TRỜI DƯỚI ĐẤT (josephpham-horizon.blogspot.com) (truy cập ngày 16/03/2021).

[11] Giáo Hoàng Học Viện Pio X, Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh (Tôn Giáo 2016) “Con Người”, 295-296.

[12] D.L. Bock, Dictionary of Jesus and the Gospels (ed. J.B. Green) (Downers Grove 2013) “Son of Man”, 894.

[13] Giáo Hoàng Học Viện Pio X, Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, 299

[14] C.K. Barrett, The Gospel According to St. John. An Introduction with Commentary and Notes on Greek Text (Philadelphia 1978) 212.

[15] D.B. Wallace, Greek Grammar beyond the basics. An Exegetical syntax of the New Testament (Grand Rapids 1996) 573.

[17] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 211.

[18] R.W. Haenchen – R. W. Funk – U. Busse,  John, 97.

[19] R. Schnackenburg, Il Vangelo di Giovanni, 641.

[20] Cả Mátthêu và Máccô đều cho biết là Đức Giê-su “buồn rầu xao xuyến”. Người tâm sự cùng với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26,37-38; Mc 14,33-34); Luca cũng ghi lại Đức Giê-su lâm vào cơn xao xuyến nhưng thêm vào cảnh Đức Giê-su đổ mồ hôi máu (Lc 22,44).

[21] C.K. Barrett, The Gospel According to St. John, 425.

[22] R.W. Haenchen – R. W. Funk – U. Busse, John. 98.

[23] F.J. Moloney, The Gospel of John (SP; Collegeville 2005) IV, 102.

[24] C.K. Barrett, The Gospel According to St. John, 214.

[25] R. Schnackenburg, Il Vangelo di Giovanni, 652.

[26] Xem thêm Lm. Jos Duy Thạch, « Điều Gì Làm Cho Đức Giê-su Đổ Mồ Hôi Máu ? » HORIZON MISSIONARY: ĐIỀU GÌ LÀM CHO ĐỨC GIÊ-SU “ĐỔ MỒ HÔI MÁU”? (josephpham-horizon.blogspot.com) (truy cập 18/03/2021).

[27] R. Schnackenburg, Il Vangelo di Giovanni, 652.

[28] H. Ridderbos, The Gospel of John. A Theological Commmentary (Grand Rapids 1991) 440.