Tôi muốn mở đầu
bài chia sẽ hôm nay bằng một hình ảnh làm chấn động thế giới trong những ngày
qua. Đó là hình ảnh ngày 11.4.2019, Đức Giáo hoàng Phanxico bất ngờ cúi xuống
hôn lên giầy của tổng thống, phó tổng thống, và hai vị lãnh đạo phe đối lập của
quốc gia Nam Su đăng. Thông điệp mà Đức Giáo Hoàng muốn gửi cho các vị lãnh đạo
này là: “tôi xin các vị là những người đã ký hiệp ước hoà giải với nhau, như những
anh em, các vị hãy duy trì nền hoà bình này”. Hành động hôn chân của Đức GH
không hề xa lạ bởi mỗi thứ năm tuần thánh hằng năm ĐGH vẫn có thói quen rửa
chân cho các bệnh nhân hoặc cho các tù nhân không phân biệt lương giáo và hôn
chân từng người. Thế nhưng việc ĐGH quỳ xuống hôn chân các vị lãnh đạo nam Su
Đăng làm người ta không khỏi giật mình, vì đó không phải là nghi thức rửa chân
mà là trong một buổi tiếp kiến của đời thường. Vị giáo Hoàng cho thấy khát
mong, mưu cầu hạnh phúc và hoà bình của mình cho người khác lớn như thế nào.
Ngài cảm thấy khuyên răn bằng lời thì không đủ. Ngài phải làm một điều gì đó để
lay động lòng họ. Và ngài quỳ xuống hôn chân từng vị lãnh đạo. Phải nói là Đức
Giáo hoàng đã hiện tại hoá nghi thức rửa chân của Thứ Năm Tuần Thánh, trong cuộc
sống đời thường của mình.Thursday, 9 April 2020
RỬA CHÂN CHO NHAU NGHĨA LÀ GÌ?
Tôi muốn mở đầu
bài chia sẽ hôm nay bằng một hình ảnh làm chấn động thế giới trong những ngày
qua. Đó là hình ảnh ngày 11.4.2019, Đức Giáo hoàng Phanxico bất ngờ cúi xuống
hôn lên giầy của tổng thống, phó tổng thống, và hai vị lãnh đạo phe đối lập của
quốc gia Nam Su đăng. Thông điệp mà Đức Giáo Hoàng muốn gửi cho các vị lãnh đạo
này là: “tôi xin các vị là những người đã ký hiệp ước hoà giải với nhau, như những
anh em, các vị hãy duy trì nền hoà bình này”. Hành động hôn chân của Đức GH
không hề xa lạ bởi mỗi thứ năm tuần thánh hằng năm ĐGH vẫn có thói quen rửa
chân cho các bệnh nhân hoặc cho các tù nhân không phân biệt lương giáo và hôn
chân từng người. Thế nhưng việc ĐGH quỳ xuống hôn chân các vị lãnh đạo nam Su
Đăng làm người ta không khỏi giật mình, vì đó không phải là nghi thức rửa chân
mà là trong một buổi tiếp kiến của đời thường. Vị giáo Hoàng cho thấy khát
mong, mưu cầu hạnh phúc và hoà bình của mình cho người khác lớn như thế nào.
Ngài cảm thấy khuyên răn bằng lời thì không đủ. Ngài phải làm một điều gì đó để
lay động lòng họ. Và ngài quỳ xuống hôn chân từng vị lãnh đạo. Phải nói là Đức
Giáo hoàng đã hiện tại hoá nghi thức rửa chân của Thứ Năm Tuần Thánh, trong cuộc
sống đời thường của mình.Thursday, 12 December 2019
"Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?"
CNIIIMVA (Xp 3,14-18a; Pl 4,4-7; Lc 3,10-18)
"Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?"
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: “Vậy chúng tôi phải làm gì?” Ông trả lời: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai
có của ăn, cũng hãy làm như vậy”.
Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?” Gioan đáp: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định
cho các ngươi”.
Các quân nhân cũng hỏi: “Còn
chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?”
Ông đáp: “Ðừng
ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình”.
Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong
lòng về Gioan rằng: “Có
phải chính ông là Ðức Kitô chăng?”
Gioan trả lời cho mọi người rằng: “Tôi
lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng
đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần
và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho,
còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!” Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao
giảng tin mừng cho dân chúng.
Gợi ý suy niệm:
Phụng vụ Chúa Chúa Nhật
thứ III mùa vọng ngập tràn niềm vui của người con Chúa. Nó khởi đầu bằng lời mời gọi của ngôn sứ Xô-phô-nia: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy reo vui! Hỡi
Israel, hãy cất tiếng reo hò! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan
và nhảy mừng hết tâm hồn!”. Xô-phô-nia mời gọi thiếu nữ Sion (Giê-ru-sa-lem) và cư dân thánh đô của Ít-ra-el, bằng những mệnh từ rất
mạnh mẽ. Trong một câu ngắn gọn, bốn động từ mời gọi “đi bão” được sử dụng theo cấp độ tăng dần và nếu dịch ra tiếng việt thì
không biết dịch làm sao cho gột tả được mức độ tăng dần của nó. Cuối cùng là trạng
ngữ “hết tâm hồn”. Vui từ bên trong, thể hiện ra bên ngoài, một niềm vui toàn
thể, tuyệt đối. Có thể ví hơn cả niềm vui vỡ òa của
người dân Việt nam trong thời khắc trọng tài thổi hồi còi kết thúc trận chung kết
bóng đá nam, Seagames 30, chính thức công bố Việt nam đoạt huy chương vàng môn
bóng đá nam lần đầu tiên trong lịch sử. Vâng! Ngay cả niềm vui ấy cũng không bằng
niềm vui mà Xô-phô-nia mời gọi.
Và lời mời gọi vui mừng ấy tiếp tục được gia
tăng mạnh mẽ trong thánh lệnh của thánh Phao-lô: “anh em hãy vui luôn trong
Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên! Hãy để cho sự tử tế
(gentleness), lòng tốt của anh được tỏ hiện trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần
đến.” Trong cùng một câu ngắn gọn thánh Phao-lô lặp hai lần động từ “hãy vui
mừng”. Và sự vui mừng mà thánh Phao-lô muốn cộng đoàn ki-tô hữu cử hành và lan
tỏa đó là “sự tự tế, lòng tốt”. Sự tử tế sẽ đem đến niềm vui đích thực và niềm
vui đích thực lại kích hoạt sự tử tế. Quả vậy, niềm vui của người ki-tô hữu, niềm
vui thật sự, không phải là một sự chờ đợi ban phát từ người khác nhưng là niềm
vui đến từ sự chủ động trao ban, hành động cụ thể của từng người. Đó là thông
điệp của đoạn Tin Mừng CNIIIMVA (Lc 3,10-18). Từng người (dân chúng, những người
thu thuế, các quân nhân) đến hỏi Gioan Tẩy Giả rằng: “Vậy chúng tôi phải làm
gì?”. Gioan đã ân cần đưa ra chỉ dẫn cụ thể cho từng nhóm người. Dân chúng: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng
hãy làm như vậy”; những thuế vụ: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho
các ngươi”; các quân nhân: “Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng
lòng với số lương của minh”.
Rõ ràng là chịu phép rửa ăn năn sám hối thôi thì
chưa đủ để đem lại niềm vui đích thực. Đi Lễ, nghe giảng tĩnh tâm, xưng tội, rước
Lễ, tất cả điều rất quý nhưng chưa đủ để đem đến niềm vui trọn vẹn đích thực. Cần
phải hỏi rằng: “tôi phải làm gi?”. Là linh mục, tôi phải làm gì? Là cha, là chồng,
tôi phải làm gì? Là vợ, là mẹ tôi phải làm gì? Là công nhân, kỹ sư, bác sĩ,…
tôi phải làm gì? Và hơn tất cả mọi vai trò, là con Chúa, tôi phải làm gì? Mỗi
người hãy chọn cho minh một việc làm cụ thể để sinh hoa trai xứng với lòng sám
hối. Trong những hoa trai tốt lành phát xuất từ sự tử tế mà người này dành cho
người kia, chắc chắn có sự hiện diện của Chúa Giê-su Hài Đồng, Đấng là nguồn
vui trọn vẹn cho mọi cá nhân, mọi gia đình, mọi cộng đoàn.
Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
Thursday, 28 November 2019
“họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày"
CNI_MV_A (Is 2,1-5; Rm
13,11-14; Mt 24,37-44)
Kính thưa quý OBACE!
Hôm nay, ngày đầu năm phụng vụ
mới, có thể nói là ngày tết của người Công Giáo, ngôn sứ Isaia dẫn đưa chúng ta
về một khung cảnh êm đềm, bình yên, hạnh phúc đích thực. Đó là nơi mà “dân dân
lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi.” Nghĩa là một nơi sum vầy
cho nhiều người, nhiều dân tộc trên trái đất này. Ở nơi ấy, không còn bóng dáng của
chiến tranh, của hận thù ghen ghét, vì lúc bấy giờ “họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc
thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm
đánh nhau nữa, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.” Tất cả những gì mà trước đây họ
dùng để làm hại nhau, thì nay được biến thành những công cụ để làm lợi cho
nhau, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhau. Đó quả là một viễn ảnh rất đẹp, một
khung cảnh bình yên mà biết bao người mơ ước.
“lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”
Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng
năm A (Is 2,1-5; Rm 13,11-14; Mt 24,37-44)
“lúc các con không ngờ,
Con Người sẽ đến”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô
theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán
cùng các môn đệ rằng: “Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến
cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống,
dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ,
thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ
xảy ra như vậy. Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được
tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người
được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi. Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ
nào Chúa các con sẽ đến.”
“Nhưng các con phải biết
điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng,
không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì
lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”.
Gợi ý suy niệm:
Chúng ta vừa kết thúc năm
phụng vụ với tuần 34 mùa thường niên năm C. Chúa Nhật này chúng ta lại bắt đầu
lại chu kỳ phụng vụ 3 năm, và quay trở lại từ năm A. Trong năm A, Tin Mừng mỗi
Chúa Nhật thường sẽ trích từ Tin Mừng Mát-thêu. Phụng vụ Lời Chúa ngày đầu tiên
của năm phụng vụ bắt đầu bằng lời tiền báo của ngôn sứ Isaiah (bài đọc I), diễn
tả một viễn ảnh trên cả tuyệt vời, khi mà nhiều dân nước kéo nhau lên “núi nhà Đức
Chúa”, để nghe luật CHúa và sống theo Lời Chúa. Và rồi “họ sẽ đúc gươm đao thành
cuốc thành cày và rèn giáo mác nên liềm nên hái”. Một cảnh tượng hòa bình viên
mãn được mở ra khi tất cả mọi dân đều sống theo Lời Chúa và biến tất cả các vũ
khí chiến tranh thành công cụ làm ăn sinh sống.
Trong bài đọc II, thánh Phao-lô cũng mời gọi các tín hữu hạy “mặc lấy Chúa Ki-tô, và chớ lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt”, “hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sư, không chơi bời dâm đãng”, “vì giờ đây ơn cứu độ của chúng ta đã đến gần hơn lúc chúng ta mới tin đạo”. Dẫu biết rằng, mỗi ngày chúng ta tiến gần hơn đến ngày “con Người đến” nhưng chúng ta lại mù tịt thông tin về ngày giờ và địa điểm. Điều chúng ta có thể làm và phải làm là “hãy tỉnh thức” và “phải sẵn sàng”. Nếu chúng ta chờ đợi Chúa và luôn sẵn sàng thì việc Chúa đến giờ, hay ở đâu không quan trọng lắm. Thế nhưng, rất nhiều người không sẵn sàng nên hằng năm Giáo Hội lại khởi động lại, lên giây cốt trong thời gian Mùa Vọng để mọi người ý thức hơn, sẵn sàng hơn. Sự bất ngờ của ngày Chúa đến không phải đến từ sự độc đoán, hay rình rập từ Chúa. Thế nhưng, cuộc sống chúng ta được đan kết bằng một chuỗi những sự chọn lựa và dấn thân. Nó không phải là là một cuộc bán mua, đổi chác, toan tính trong chốc lát. Để rồi, nếu tôi biết ngày mai Chúa đến thì hôm nay tôi đi xưng tội. Nếu tôi biết tháng sau Chúa đến thì cứ ăn chơi đến cuối tháng đi xưng tội là vừa đủ. Nếu mỗi thành viên trong một quốc gia, một giáo xứ, cộng đoàn, một gia đình… biết mặc lấy Đức Ki-tô, đi theo đường lối Chúa thì sợ gì ngày Chúa đến, hay thậm chí còn mong ước, thắc mắc sao Chúa không mau đến nữa kìa.
Trong bài đọc II, thánh Phao-lô cũng mời gọi các tín hữu hạy “mặc lấy Chúa Ki-tô, và chớ lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt”, “hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sư, không chơi bời dâm đãng”, “vì giờ đây ơn cứu độ của chúng ta đã đến gần hơn lúc chúng ta mới tin đạo”. Dẫu biết rằng, mỗi ngày chúng ta tiến gần hơn đến ngày “con Người đến” nhưng chúng ta lại mù tịt thông tin về ngày giờ và địa điểm. Điều chúng ta có thể làm và phải làm là “hãy tỉnh thức” và “phải sẵn sàng”. Nếu chúng ta chờ đợi Chúa và luôn sẵn sàng thì việc Chúa đến giờ, hay ở đâu không quan trọng lắm. Thế nhưng, rất nhiều người không sẵn sàng nên hằng năm Giáo Hội lại khởi động lại, lên giây cốt trong thời gian Mùa Vọng để mọi người ý thức hơn, sẵn sàng hơn. Sự bất ngờ của ngày Chúa đến không phải đến từ sự độc đoán, hay rình rập từ Chúa. Thế nhưng, cuộc sống chúng ta được đan kết bằng một chuỗi những sự chọn lựa và dấn thân. Nó không phải là là một cuộc bán mua, đổi chác, toan tính trong chốc lát. Để rồi, nếu tôi biết ngày mai Chúa đến thì hôm nay tôi đi xưng tội. Nếu tôi biết tháng sau Chúa đến thì cứ ăn chơi đến cuối tháng đi xưng tội là vừa đủ. Nếu mỗi thành viên trong một quốc gia, một giáo xứ, cộng đoàn, một gia đình… biết mặc lấy Đức Ki-tô, đi theo đường lối Chúa thì sợ gì ngày Chúa đến, hay thậm chí còn mong ước, thắc mắc sao Chúa không mau đến nữa kìa.
Joseph Pham Duy Thach SVD
Saturday, 25 May 2019
BẰNG CHỨNG SỐNG ĐỘNG NHẤT VỀ SỰ PHỤC SINH
Năm 2017, lần đầu tiên tôi có dịp được đặt chân đến
Kinh Thành Jerusalem, là quê hương, là nơi chôn nhau cắt rốn, của Kito giáo nói
chung và của Công Giáo nói riêng, là nơi ghi lại cuộc khổ nạn đau thương của Đức
Kito, là nơi hoài niệm đau thương của Mẹ Maria và các môn đệ. Tuy nhiên, đó
cũng là nơi ghi lại biến cố phục sinh huy hoàng của Đức Kito. Biến cố lớn nhất
và trọng đại nhất, cần thiết nhất, mà nếu không có nó thì không có Giáo hội
công giáo, không có Vatican, không có Đức Giáo Hoàng, không có các Giám Mục và
linh mục không có những ngôi nhà thờ và dĩ nhiên không có trung tâm mục vụ này,
bởi vì chẳng có ai tin vào Đức Kito cả. Ngay cả các môn đệ cũng quên Đức Giesu,
bỏ lại sau lưng kinh nghiệm đau thương để về quê cày ruộng và đánh cá. Biến cố
phục sinh chính là biến cố mấu chốt là đỉnh cao trong sự nghiệp rao giảng, là kết
thúc tuyệt vời, có hậu cho mầu nhiệm làm người của Đức Giesu. Biến cố Phục Sinh
là diểm khởi đầu, là ngày khai sinh, là sức sống của các môn đệ, là điểm tựa,
là giá đỡ, là nền tảng và bệ phóng cho niềm tin của mỗi người chúng ta. Thánh
Phaolo nói rằng: “mà nếu Đức Kito không
sống lại thì lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội
lỗi của anh em, và nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kito ở đời này mà thôi thì
chúng ta là kẻ đáng thương hơn hết mọi người trên thế gian này. Nhưng không phải
thế! Đức Kito đã sống lại, mở đường cho những người an giấc ngàn thu. Quả thế,
như mọi người vì liên đới với Adam mà phải chết thì mọi người nhờ liên kết với
Đức Kito cũng sẽ được sống lại như vậy” (1Cr 15,17-20). Nhờ Mầu nhiệm Phục Sinh
chúng ta tràn trền hy vọng được gặp lại những người thân của chúng ta, những
người mà chúng ta đã từng thương tiếc, chia tay ngậm ngùi nhìn họ lìa cõi đời
này, những người mà cuộc chia ly với họ người đời là gọi là “ngàn thu vĩnh biệt”
bởi họ nghĩ rằng sẽ không bào giờ còn gặp lại một lần nào nữa. Nhưng không! Cuộc
chia ly ấy, chúng ta, những người tin vào mầu nhiệm Phục sinh gọi là “Rest In
Peace” (RIP), chúng ta gọi là về nhà cha, về với Chúa, “khi Chúa thương gọi con
về”, dù nhiều khi con không muốn về vì còn vương vấn thế gian. Sở dĩ chúng ta
có niềm tin như thế bởi vì Đức Kito đã sống lại. Ngài đã làm cho con trai bà
gúa thành Nain sống lại. Ngài đã làm cho Lazaro sống lại. Ngài có quyền trên sự
sống và cái chết. Và nhất là, Ngài đã sống lại, và sống vĩnh cữu, sống đời đời
đời, sống hạnh phúc viên mãn. Anh chị em có tin thế không? Có còn dám tin thế
không? Có xác tín như vậy không? Không dễ tý nào. Bởi lẽ, làm sao mà tin? Làm
sao để mà xác tín đây? Làm sao để và đứng vững giữa một dòng đời bươn chãi với
những lo toan của cuộc sống với nhiều đau khổ, thất vọng? làm sao giữ vững niềm
tin của mình giữa một xã hội Phương Tây tục hoá. Một xã hội đề cao tự do cá
nhân, hưởng thụ, “enjoy”, và đang dần dần rời bỏ nhà thờ, Thánh Lễ. có thể nói
rằng, ngọn tháp cao nhất của nhà thờ Đức Bà Paris, vừa đổ xuống trong trận hoả
hoạn khủng khiếp tối thứ hai tuần rồi, khiến người ta không khỏi giật mình, hoảng
sợ, bởi lẽ nó như báo động cho một thực tại của Giáo Hội Phương Tây đang sụp đổ,
tuột dốc không phanh. Làm sao để tiếp tục tin vào Đức Kito phục sinh đây? và
đâu là bằng chứng hữu hình cho niềm tin ấy? Bằng chứng nào, chứng cứ nào, dựa
vào đâu, để cho chúng ta thuyết phục chính mình và chứng tỏ cho người khác rằng
Chúa Kito của tôi, của chúng tôi đã phục sinh và Ngài đang sống?
Dạ Thưa bằng chứng sống động nhất cho sự phục sinh của
Đức Kito là một bất động sản vô giá không thể mua bằng tiền. Có ai đoán được đó
là cái gì không ah? Đó là ngôi mộ trống. Thật khó hiểu, thật khó tin. Ngôi mộ
trống làm sao là bằng chứng sống động cho sự phục sinh của Đức Kito được? Thế
mà có kẻ đã tin và loan truyền cho đến ngày nay.
ACE thân mến, bài Tin Mừng ngày hôm nay dẫn chúng ta
đi từ đêm tối đến sáng ngày; từ bóng đêm đến ánh sáng; từ bóng đêm của thất vọng
đến ánh sáng của niềm hy vọng; từ bóng tối của đau buồn, sầu khổ đến ánh quang
của niềm vui sướng, hân hoan. Tin Mừng cho chúng ta biết Bà Maria Macdala bước
ra khỏi cửa nhà khi trời còn tối. Đó không chỉ là bóng tối của thời gian, của
không gian, nhưng là bóng tối của sự đau buồn thất vọng. Buồn đau thất vọng vì
thiếu ánh sáng của Đức Kito. Bà đến thăm mộ Chúa với cõi lòng nặng trĩu, bước
chân nặng nề, lê bước, có khi vừa đi vừa khóc. Thế rồi Tin Mừng cho chúng ta biết
khi thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ, bà bắt đầu chạy về báo tin, những bước chạy vội
vã, hối hả, tất tưởi. Rồi những bước chạy của bà, tin báo của đã kéo theo những
bước chạy của Phero và người môn đệ Đức Giesu thương mến. Đó là một cuộc chạy
đua mà chúng ta thấy có kẻ trước người sau. Phero dường như là thất thế trong
cuộc chay đua này. Người ta đoán là Phero chắc là vì tuổi già sức yếu nên chạy
chậm hơn. Có thể. Nhưng theo tôi, sự thua kém của Phero so với người môn đệ Đức
Giesu thương mến không đơn giản chỉ là thua kém về thề chất, thể lý nhưng sâu
xa hơn là sự thua kém trong mối tương quan gần gũi với Đức Giesu, một sự thua
kém về tình yêu, tình thầy trò. Ngay trong tên gọi chúng ta đã thấy được sự vượt
trội này. Chỉ có người môn đệ này được gọi là ‘người môn đệ Đức Geisu thương mến’.
Người môn đệ này cùng là người duy nhất nằm trong lòng Đức Giesu trong bữa tiệc
ly. Người môn đệ này cũng là người duy nhất đứng gần bên thập giá Chúa Giesu và
là người duy nhất Đức Giesu trao gởi Mẹ của mình ‘đây là Mẹ của con’. Ông cũng
là người đầu tiên nhận ra Chúa Kito phục sinh trên bờ hồ Tiberia và nói cùng
Phero: ‘Chúa đó’. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ông là người chạy nhanh hơn, đến
mộ trước, nhưng quan trọng nhất vẫn là ‘Ông đã thấy và đã tin’. Niềm tin ấy là điểm sáng rực nhất trong bài
Tin Mừng hôm nay khởi đầu bằng đêm tối. Ông đã thấy gì vậy? thưa là ‘Ngôi mộ trống’.
Trên thực tế điều ông thấy cũng giống hệt như điều Maria Macdala và Phero thấy,
một ngôi mộ trống, băng vải và khăn che đầu của Đức Giesu. Sự khác biệt ở chỗ
là ‘ông đã thấy và đã tin.’ Và niềm tin mãnh liệt ấy vượt mọi không gian thời
gian, vượt qua bao nhiêu chướng ngại vật để loan truyền cho không biết bao
nhiêu người, qua biết bao thế hệ và cho cả chúng ta ngày nay.
Bất động sản ấy, chứng cứ niềm tin của sự Phục Sinh ấy
vẫn còn đứng vững hơn 2000 năm nay giữa trung tâm của Kinh Thành Gierusalem cho
đến ngày nay. Đó chỉ là một ngôi mộ trống, một hóc đá bất động nhưng lại sống động
lung linh hơn bất cứ thứ gì khác trên thế gian này. Hằng ngày có hàng ngàn người
từ khắp nơi trên toàn thế giới đến xếp hàng để được nhìn thấy, được chạm vào
Ngôi mộ trống ấy. Chúng tôi, các linh mục đến đó, nếu muốn dâng Lễ ở đó phải
đăng ký trước ba tháng. Từng phút từng giây trong ngày đều có người đứng xếp
hàng ở đó. Và biết bao nhiêu tín hữu trên thế giới ao ước được một lần đến đó
và chạm vào đó. Đó là bằng chứng mãnh liệt, xác thực rằng Đức Kito phuc sinh
đang sống. Ngôi mộ trống nhưng lại chứa đựng tròn đầy hình tượng Đức Kito Phuc
Sinh. Ngôi mộ trống nhưng chứa đựng niềm tin vô hạn của Kito giáo, của mỗi người
chúng ta.
ACE thân mến! Mừng vui lên! Chúa sống lại rồi. Mừng Lễ
Phục sinh chúng ta được mời gọi hãy vui mừng, loan tin vui khắp nơi. Chúng ta
được mời gọi nhận ra Đức Kito Phục Sinh đang sống quanh ta và ngay trong tâm hồn
mỗi người. Ngài đã hiện ra với nhiều người nhưng không phải ai cũng đã được
nhìn thấy Chúa. Niềm tin của chúng ta, căn bản, nền tảng vẫn là niềm tin dựa
vào chứng cứ “ngôi mộ trống”. Chúng ta dược mời gọi tin ngay cả khi mình không
thấy Chúa. Với sự hiện diện của anh chị em ngày hôm nay, trong Thánh Lễ này tôi
tin chắc rằng anh chị em thật sự tin vào Đức Kito phục sinh. Tôi cũng như cha quản
nhiệm, cha Christophe, cầu chúc và ước mong rằng ACE có thể nhận ra Đức Kito Phục
Sinh hiện diện và đang sống trong gia đình, nơi hàng quán, nơi công sở, nơi học
đường. Ước mong rằng niềm tin vào Chúa Phục Sinh, sự sống đời sau sẽ thay đổi triệt để cách sống, cách kiếm tiền, cách cư xử của
mỗi người chúng ta. Cũng là mưu sinh kiếm tiền, nhưng tôi nguyện mưu sinh kiếm
tiền cách lương thiện theo lời Chúa dạy, không mua gian, bán lận, lừa lọc. Cũng
là yêu thương nhưng tôi chọn yêu thương theo cách của Đức Kito, cho đi tất cả
và hiến thân vì người khác, không ích kỷ, chỉ nghĩ cho riêng mình. Cũng có nhà
cửa hàng quán, công sở, nhưng tôi được mời gọi nhận ra, nhìn thấy những nơi ấy
như những không gian của ngôi mộ trống thánh, nơi đó Đức Kito Phục Sinh hằng hiện
trị, hướng dẫn và ban ơn cho mỗi người chúng ta. Amen.
Phục Sinh 2019 Balan
Jos. Phạm Duy Thạch
TÌM NGƯỜI SỐNG GIỮA KẺ CHẾT
Việc loan Tin
Mừng Phục Sinh không thể chỉ dừng lại ở lời nói, ở loa phóng thanh. Chúng ta
cùng được mời gọi bước vào đời sống mới với Đức Kito. Đó là một đời sống mang đậm
chất tình người. Chúng được mời gọi xây dựng một nền văn minh tình thương, nơi
đó tất cả người người biết làm vui lòng người khác. Chúng ta được mời gọi đặt
tình yêu lên cao nhất, làm trung điểm trong mọi mối tương quan thường ngày.
Chúng ta được mời gọi xác tín rằng như thánh Phaolo: rằng là “con người cũ của
chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho
chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải
thoát khỏi tội lỗi.” Chúng ta cũng được mời gọi làm sống dậy niềm tin tuyệt đối
vào Thiên Chúa như Abraham, đến sẵn sàng dâng Isaac người con duy nhất cho
Chúa. Một niềm tin như thế giúp cho chúng ta bước qua, vượt qua mọi khó khăn,
nghiệt ngã thất, trong cuộc đời mình. Abraham được mệnh danh là người “ Vững
tin khi không còn gì để trông cậy” (Rm 4,1) Chúng ta được mời gọi tái khám phá
ra nơi mỗi người hình ảnh Thiên Chúa để hết sức kính trọng và yêu thương người
khác: “Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành
con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.” Con người
giống Thiên Chúa nhất ở chỗ họ có một trái tim yêu như Chúa. Càng yêu thương
thì con người ta càng trở nên giống hình ảnh nguyên thuỷ mà Thiên Chúa muốn tạo
dựng. Càng yêu thương con người ta mới ra người hơn, giống người hơn. Càng bao
dung, quãng đại, con người ta càng trở nên con cái Thiên Chúa.Trái lại càng thù
ghét con người càng xa rời Thiên Chúa. Càng ít kỷ, nhỏ nhen con người ta càng
đưa mình gần với thú vật hoang dã. Càng thù hận, giết chóc thì con người ta
càng trở thành con cái của ác quỷ và nó sẽ huỷ diệt con người. Hãy để con tim của
Đức Kito phục sinh, con tim của Đấng cho đi tất cả, con tim của Đấng yêu cho đến
chết, hãy để con tim ấy lên tiếng, đập nhịp trong mọi mối tương quan thường
ngày của chúng ta. Có như thế nhân mới bớt khổ đau và mỗi người chúng ta sẽ
không còn đau khổ.LA PACE E L'AMORE
Care sorelle e fratelli
La liturgia di oggi, sesta Domenica
di Pasqua, ci ricorda un messaggio importante, i tesori che Gesù ha
lasciato ai suoi discepoli prima di partire. Quei tesori sono la pace e l’amore.
In questa Santa messa, e tutta questa Domenica, meditiamo e preghiamo affinché
riceviamo l’amore e la pace che Gesù vuole dare non sola ad ognuno di noi, ai
nostri confratelli e sorelle ma anche
alla gente di questo mondo.
“Vi lascio la pace vi do la mia pace”
Mi sembra che questo sia il regalo più importante e necessario che Dio vuole dare ad ognuno di
noi e al mondo intero. Ricordiamo che nel momento in cui Gesù è nato, gli angeli dal cielo
hanno cantato: “Gloria a Dio nel più alto dei cieli, e sulla terra pace agli
uomini che egli ama” (Lc 2,14). Poi, quando Gesù ha mandato i suoi discepoli a
proclamare il Vangelo. Il primo e principale vangelo che hanno dovuto
proclamare è quello della pace: “in qualunque casa entriate prima dite ‘pace a
questa casa’ (Lc 10,5). Ricordiamo anche la frase che di solito diceva
dopo aver curato una malattia: “va in
pace” (Lc 7,50). Nelle beatitudini, Gesù ha insegnato: “beati gli operatori di
pace, perché saranno chiamati figli di Dio” (Mt 5,9). Dopo la resurrezione,
Gesù ha dato tante volte la benedizione ai suoi discepoli: “pace a voi” (Gv
20,19.21.26). Quindi possiamo capire quanto è importante il messaggio di pace
nel Vangelo di Gesù. Desidera sempre che tutte le persone nel mondo abbiano la
sua pace.
Però, sappiamo che non è così per tutti. Ci sono poche persone che
hanno la pace nella loro vita. Troppa gente intorno a noi soffre
tanto. Ma qual è la causa che fa sentire i discepoli turbati, ansiosi e
spaventati? La risposta è “l’assenza di Gesù”. La mancanza di Dio, la mancanza
di Gesù risorto è la mancanza più seria e principale nella vita dei discepoli.
Senza Gesù il loro cuore è turbato e ha
timore. Senza Cristo risorto non c’è pace e felicità vera.
Allora, cosa abbiamo bisogno di fare affinché riconosciamo e sentiamo la
presenza di Gesù nella nostra vita? La risposta è accogliere l’invito di Gesù
nel Vangelo di oggi: “se uno mi ama, osserverà la mia parola e il Padre mio lo
amerà e noi (cioè Gesù e Padre) verremo a lui e prenderemo dimora presso di
lui”. Osservare la parola di Gesù è il modo migliore per invitarlo a venire e
restare con noi. Quindi, dobbiamo incoraggiare e aiutare gli uni e gli altri a
osservare la parola di Dio. È più facile e più probabile se tutti osservassero
la parola di Gesù. Diventa più difficile se in una comunità, non farebbero
tutti del loro meglio per osservare la parola di Dio. Cioè alcuni fanno del
loro meglio per osservare la parola di Dio mentre gli altri non vogliono farla.
Vorrei che ognuno di noi amasse Gesù veramente e desiderasse osservare la
parola di Dio nel Vangelo, ascoltasse e meditasse ogni giorno. Solo così possiamo sentire che Gesù risorto sta vivendo
nel nostro cuore e nella nostra comunità. E solo così avremmo la pace sempre e
la gioia, la felicita vera che Gesù ci vuole dare sempre.
Secondo Papa Francesco: La pace è una conversione del
cuore e dell’anima, ed è facile riconoscere tre dimensioni indissociabili di
questa pace interiore e comunitaria:
- la pace con sé stessi, rifiutando l’intransigenza,
la collera e l’impazienza e, come consigliava San Francesco di Sales,
esercitando “un po’ di dolcezza verso sé stessi”, per offrire “un po’ di
dolcezza agli altri”;
- la pace con l’altro: il familiare, l’amico, lo
straniero, il povero, il sofferente…; osando l’incontro e ascoltando il
messaggio che porta con sé;
- la pace con il creato, riscoprendo la grandezza del
dono di Dio e la parte di responsabilità che spetta a ciascuno di noi, come
abitante del mondo, cittadino e attore dell’avvenire[1]
[1] Messaggio
del Santo Padre Francesco per la celebrazione della 52ma Giornata Mondiale
della Pace (1° gennaio 2019), 18.12.2018, no.7.
[1] Messaggio del Santo Padre Francesco per la celebrazione
della 52ma Giornata Mondiale della Pace (1°
gennaio 2019), 18.12.2018, no.7.
Subscribe to:
Posts (Atom)

