Thursday, 12 May 2022

“ĐIỀU RĂN MỚI” CÓ GÌ MỚI? Chú Giải Tin Mừng CN V PS C (Ga 13,31-35)

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hỵ Lạp

Việt

31 Ὅτε οὖν ἐξῆλθεν, λέγει Ἰησοῦς· νῦν ἐδοξάσθη ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου καὶ ὁ θεὸς ἐδοξάσθη ἐν αὐτῷ·

 32 [εἰ ὁ θεὸς ἐδοξάσθη ἐν αὐτῷ], καὶ ὁ θεὸς δοξάσει αὐτὸν ἐν αὐτῷ, καὶ εὐθὺς δοξάσει αὐτόν.

 33 τεκνία, ἔτι μικρὸν μεθ᾽ ὑμῶν εἰμι· ζητήσετέ με, καὶ καθὼς εἶπον τοῖς Ἰουδαίοις ὅτι ὅπου ἐγὼ ὑπάγω ὑμεῖς οὐ δύνασθε ἐλθεῖν, καὶ ὑμῖν λέγω ἄρτι.

 34   Ἐντολὴν καινὴν δίδωμι ὑμῖν, ἵνα ἀγαπᾶτε ἀλλήλουςκαθὼς ἠγάπησα ὑμᾶς ἵνα καὶ ὑμεῖς ἀγαπᾶτε ἀλλήλους.

 35 ἐν τούτῳ γνώσονται πάντες ὅτι ἐμοὶ μαθηταί ἐστε, ἐὰν ἀγάπην ἔχητε ἐν ἀλλήλοις. (Jn. 13:33-35 BGT)

31 Khi anh ta [Giuđa] đã đi ra, Đức Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa được tôn vinh trong Người.

32 [nếu Thiên Chúa được tôn vinh trong Người], Thiên Chúa sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và [Thiên Chúa] sẽ tôn vinh Người ngay lập tức.

33 Các con thân mến, Thầy còn ở với các con ít lâu nữa, các con sẽ tìm Thầy, nhưng như Thầy đã nói cùng những người Do Thái rằng: “Nơi tôi đi, các ông không thể đến”, giờ đây Thầy cũng nói với các con.

34 Thầy ban cho các con một điều răn mới rằng các con phải yêu thương nhaunhư Thầy đã yêu thương các con, các con cũng phải yêu thương nhau.

35 Qua điều này tất cả mọi người biết rằng các con là môn đệ của Thầy, nếu các con có lòng yêu thương nhau.

Bối cảnh

Trong bối cảnh rộng Ga 13,31-35 nằm trong phần thứ ba của Tin Mừng Gioan thường được gọi là “Sách của sự vinh quang” (13,1 – 20,29).[1] Nội dung căn bản của “sách của sự vinh quang” là Đức Giêsu đi về với Chúa Cha. Con đường đi về với Chúa Cha của Đức Giêsu gồm có ba chặng: Đau khổ, chết và phục sinh. Trong bối cảnh hẹp hơn, bản văn này nằm trong diễn từ từ biệt của Đức Giêsu, những lời tâm tình của Đức Giêsu với các môn đệ trước lúc chia tay (13,1 – 16,33). Trong bối cảnh trực tiếp, bản văn này nằm ngay sau trình thuật về việc Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ và tiền báo Tông Đồ Giuđa sẽ nộp Thầy (Ga 13,1-30). Tiếp theo sau đoạn văn này là lời tiền báo về việc ông Phêrô sẽ chối Thầy (Ga 13,36-38). Nghĩa là, bản văn nằm giữa hai lời tiền báo buồn: Trước là lời báo trước ông Giuđa sẽ nộp Thầy, sau là lời báo trước ông Phêrô sẽ chối Thầy. Nếu kết hợp với trình thuật “Rửa Chân” toàn bộ đoạn văn Ga 13,1-38 sẽ có cấu trúc xen kẽ giữa tình yêu và sự chối từ:

Tình yêu thể hiện qua việc rửa chân (13,1-20)

ông Giuđa sẽ nộp Thầy (13,21-30)

Điều răn yêu thương (13,31-35)

ông Phêrô chối Thầy (13,36-38)


Cấu trúc

Bối cảnh: Khi Giuđa đã đi ra (31a)

Mặc khải giờ tôn vinh (31b-32)

Mặc khải nơi Người sẽ đi (33)

Ban điều răn mới (34) 

Người ban: Đức Giêsu

Người nhận: Các môn đệ.

Nội dung: Các con phải yêu thương nhau,

Điểm quy chiếu của tình yêu: yêu như Đức Giêsu

Dấu chỉ đặc trưng của người môn đệ: Yêu thương nhau (35)

Các điểm chú giải

1.     Khi Giuđa đã đi ra: Mệnh đề thời gian “khi Giuđa đã đi ra khỏi rồi” nối kết chặt chẽ với câu chuyện trước đó, câu chuyện nói về kế hoạch nộp Thầy của ông Giuđa. Câu chuyện đó được kết thúc bằng: “Sau khi ăn miếng bánh, Giuđa liền đi ra, lúc đó trời đã tối”. Động từ “đi ra khỏi” (13,31) cũng chính là động từ được dùng để mô tả hành động “rời khỏi” của môn đệ Giuđa trong 13,30. Động từ “đi ra khỏi” bỏ ngõ một túc từ chỉ nơi chốn. Địa điểm mà môn đệ Giuđa rời khỏi, theo không gian thể lý, có thể hiểu là “phòng Tiệc Ly” (x. Lc 22,7-13; Mc 14,12-16). Tuy nhiên, theo không gian thần học, môn đệ Giuđa không chỉ “rời khỏi” phòng Tiệc Ly, mà còn rời khỏi vòng tay của Đức Giêsu, rời khỏi cộng đoàn nhóm Mười Hai, và rời khỏi căn tính môn đệ nơi mình. Hành động “rời khỏi” của ông như là một sự cắt đứt tương quan Thầy-trò, rời khỏi vòng tay yêu thương của Đức Giêsu, bẻ gãy mối tương quan huynh đệ của Nhóm Mười Hai. Hành động của ông có đầy đủ suy tính và chọn lựa. Hơn nữa, mặc dù ông đã được chính Đức Giêsu nhắc nhở, ông vẫn quyết định đi vào đêm tối. Dưới sự chỉ dẫn của ma quỷ, ông đã nộp Thầy, và không bao giờ quay trở lại với Nhóm Mười Hai nữa. Khoảng thời gian “khi Giuđa rời khỏi” được đặt làm bối cảnh cho tất cả diễn từ từ biệt, Đức Giêsu tâm tình cùng các môn đệ từ 13,30 – 16,33. Đây là khoảng thời gian khủng hoảng của nhóm các môn đệ. Họ đang đối diện với sự phản bội của người anh em Giuđa. Họ sẽ đối diện với lời tiền báo về ba lần “chối Thầy” của vị Tông Đồ trưởng, và họ trở nên bơ vơ hụt hẫng trước sự ra đi của Thầy Giêsu.

2.     Con Người được tôn vinh … Thiên Chúa được tôn vinh trong Người: Trong bối cảnh “phải lìa bỏ thế gian mà đi về cùng Chúa Cha”, và môn đệ Giuđa đang toan tính nộp Người, Đức Giêsu lại mặc khải về sự tôn vinh của Người.[2] Trong Tin Mừng Gioan, danh xưng “Con Người” (con trai của con người, 12 lần) được dùng trong bối cảnh vinh quang và thập giá trong cuộc đời của Đức Giêsu. Trong bối cảnh vinh quang: “các thiên thần của Thiên Chúa đi lên, đi xuống trên Con Người” (Ga 1,51); “Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13); “Con Người có quyền xét xử” (Ga 5,27); “Con Người là Đấng Thiên Chúa đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6,27); “Con Người lên nơi đã ở trước kia” (Ga 6,62); “Con Người được tôn vinh” (Ga 12,23; 13,31). Trong bối cảnh đau khổ: “Được giương cao như ông Môsê giương cao con rắn trong sa mạc” (Ga 3,14; 8,28; 12,34); “Ăn thịt và uống máu Con Người” (Ga 6,53).

Sau dấu lạ đầu tiên Đức Giêsu làm tại Cana, người thuật chuyện đã ghi chú rằng “đó là dấu lạ đầu tiên Đức Giêsu làm và bày tỏ vinh quang của Người, các môn đệ đã tin vào Người (Ga 2,11).  Động từ “tôn vinh” được dùng ở thể bị động, cho thấy Thiên Chúa là tác nhân của sự tôn vinh này. Nhìn vào cấu trúc, độc giả có thể thấy rõ Thiên Chúa tôn vinh Đức Giêsu [(a): Con Người được tôn vinh // (a’): Thiên Chúa sẽ tôn vinh Người nơi chính mình]. Đức Giêsu không cần “sự tôn vinh của loài người” (Ga 5,41). Đức Giêsu cũng không tự tôn vinh chính mình vì Người cho biết rằng nếu Người tôn vinh chính mình thì vinh quang của Người chẳng là gì cả. Ở nơi khác, Đức Giêsu đã nhiều lần cho thấy tác nhân của hành động tôn vinh là Chúa Cha: “Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi, Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông” (Ga 8,54). Sự vinh quang của Đức Giêsu là điểm quy chiếu quan trọng để cho các môn đệ hiểu lời Thánh Kinh nói về sự kiện Đức Giêsu đi vào thành Giêrusalem trong tiếng reo hò: “Hoan hô, hoan hô, chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa, chúc tụng vua IsraEL” (Ga 12,13-16). Giờ vinh quang của Đức Giêsu chính là giờ mà Người trao ban sự sống vì yêu nhân loại: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh. Amen, Amen, Thầy bảo các con, nếu hạt lúc mì gieo xuống đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi nó mới sinh được nhiều bông hạt khác” (Ga 12,24).[3] Trong Tin Mừng Nhất Lãm, cả hai biến cố quan trọng qua đó, Chúa Cha tôn vinh Đức Giêsu như là “Người Con yêu dấu”, đều liên quan đến mầu nhiệm tự hạ và chết. Biến cố thứ nhất là biến cố Đức Giêsu chịu Phép Rửa (Mc 1,9-11; Mt 3,13-17; Lc 3,21-22), trong đó, Người hạ mình, hòa mình vào dòng người tội lỗi để đồng hành và cứu độ họ. Biến cố thứ hai là biến cố “biến hình trên núi cao” (Mc 9,2-8; Lc 9,28-36; Mt 17,1-8), trong đó, Người thảo luận với hai nhân vật của Cựu Ước về cuộc xuất hành mà Người sẽ hoàn tất tại Giêrusalem. Đức Giêsu nói điều này trước khi Người bước vào cuộc khổ nạn. Tuy vậy, Người lại dùng một động từ quá khứ để diễn tả sự “được tôn vinh của Người”: Giờ đây, Con Người đã được tôn vinh. Có thể nói vinh quang của Người bắt đầu từ khi môn đệ Giuđa ra đi để tính toán cho phi vụ nộp Người. Đó là thời điểm bắt đầu cả tiến trình mà qua đó Người được tôn vinh.[4]

Khi Đức Giêsu chấp nhận đi con đường khổ nạn – chết – phục sinh[5] như là một hành trình, qua đó Người được tôn vinh, thì cũng là lúc Chúa Cha được tôn vinh. Nhiều lần trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giêsu nói rằng Người không tìm vinh quang cho chính mình nhưng là vinh quang cho Chúa Cha (Ga 7,18; 8,50; 11,4.40).[6] Câu “Thiên Chúa được tôn vinh trong Người” được lặp lại hai lần trong hai câu văn liên tục. Chúa Cha được tôn vinh khi Người Con hoàn thành công trình cứu độ qua cái chết và sự phục sinh của Người: “Con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con” (Ga 17,4; cf. Ga 4,34). Việc Đức Giêsu tôn vinh Chúa Cha cũng được thể hiện qua nhiều cách diễn tả: “Bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh trong Người Con” (Ga 14,13); “Điều làm cho Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” (Ga 15,8). Trong lời cầu nguyện hiến tế, Đức Giêsu xin “Chúa Cha tôn vinh” Người Con để Người Con tôn vinh Chúa Cha (Ga 17,1). Theo tác giả F.X.V.P. Long (trích lại trong R. Brown, The Gospel According to John), cách nói “Thiên Chúa được tôn vinh trong Người Con” có thể hiểu theo bốn nghĩa: (1) Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa được loài người tôn vinh; (2) Thiên Chúa được Đức Giêsu tôn vinh bằng sự vâng phục của mình; (3) Thiên Chúa đã nhận được danh dự cho mình trong Đức Giêsu; (4) Thiên Chúa đã mặc khải vinh quang của Ngài nơi Đức Giêsu.[7]

(a) Con Người được tôn vinh

(b) Thiên Chúa được tôn vinh trong Người

(b’) Nếu Thiên Chúa được tôn vinh trong Người

(a’) Thiên Chúa sẽ tôn vinh Người nơi chính mình

3.          Các con thân mến (τεκνία): Danh từ “τεκνία” có nghĩa là đứa trẻ, con cái. Đức Giêsu xem các môn đệ như con của mình. Người tỏ lòng thương cảm đối với những môn đệ của Người khi Người phải ra đi.[8] Trong cách gọi này, người ta có thể mường tượng sự non nớt, bơ vơ, lạc lõng, của nhưng người môn đệ ở lứa tuổi trưởng thành, trước biến cố to lớn trong cuộc đời họ, biến cố họ bị lạc mất Chúa. Sự lạc lõng, bơ vơ, đau khổ của những người tìm kiếm Thầy, nhưng không thể đến với Thầy. Danh xưng này rất quen thuộc trong thư thứ nhất của Gioan (1Ga 2,1.12.28; 3,18; 4,4; 5,21). Tác giả xem những con chiên trong cộng đoàn như những đứa con của mình. Có bằng chứng cho thấy rằng trong truyền thống Do Thái các thầy dạy gọi các môn đệ của mình là “các con” (StB, II, 559).[9] Đây chính là danh xưng người cha trong dụ ngôn “người cha nhân hậu” (Lc 15,11-32) dùng để gọi người cả khi anh ta giận hờn, trách móc và không chịu vào nhà: “Con bé bổng à! Con luô n ở với ta, những gì của ta đều là của con mà” (Lc 15,31). Như thế, đây cũng là ngôn từ trong tương quan gia đình.

4.     Thầy còn ở với các con ít lâu: Tính từ “ít lâu” là một tính từ đặc trưng của Tin Mừng thứ tư. Đức Giêsu dùng rất nhiều lần tính từ này để diễn tả khoảng thời gian ngắn ngủi Người còn ở với cách môn đệ cách thể lý. Trước đó, Đức Giêsu đã đề cập đến khoảng thời gian này khi nói cùng những vệ binh, thuộc hạ của những người Pharisêu, đến để bắt Người: “Tôi còn ở lại với các ông một ít lâu nữa, rồi tôi sẽ đi về cùng Đấng đã sai tôi” (Ga 7,33). Khi ví mình như ánh sáng Đức Giêsu nói cùng dân chúng rằng: “Ánh sáng còn ở giữa các ông ít lâu nữa thôi. Các ông hãy bước đi bao lâu còn trông thấy ánh sáng, kẻo bóng tối bắt chợt các ông” (Ga 12,35). “Ít lâu nữa” cũng là khoảng thời gian mà sau đó, các môn đệ được thấy Chúa, vì Người sống và các môn đệ cũng sống (Ga 14,19). Thực tế là các môn đệ đã gặp lại Đức Giêsu sau Phục Sinh. Tuy nhiên, cách nói “Thầy sống và anh em cũng sống” diễn tả một sự gặp gỡ lâu dài hơn trong đời sống các môn đệ hoặc là ám chỉ các môn đệ sẽ được sống mãi với Chúa trên quê trời. Trong Ga 16,16, Đức Giêsu ghép hai khoảng thời gian “môt ít lâu” lại với nhau: “Một ít lâu nữa, anh em sẽ không thấy Thầy nữa, rồi một ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy”. Các môn đệ đã lấy làm khó hiểu về khoảng thời gian “ít lâu”: “Ít lâu có nghĩa là gì? Chúng ta không biết điều Người đang nói” (Ga 16,18). Để đáp trả, Đức Giêsu đã cho các ông biết là trong hai khoảng thời gian đó, họ sẽ có hai thái độ trái ngược nhau: “Anh em sẽ khóc lóc và than van còn thế gian sẽ vui mừng; Anh em sẽ đau buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ thành niềm vui” (Ga 16,20). Cách gián tiếp Đức Giêsu nói về cái chết và sự phục sinh của Người. Thực tế, cái chết của Người đã làm cho các ông đau khổ, nhưng sự phục sinh của Người đã làm cho các ông vui mừng. Khoảng thời gian “ít lâu” trong bối cảnh này là khoảng thời gian, Đức Giêsu còn hiện diện với các môn đệ trước khi bước vào cuộc khổ nạn. “Ít lâu” ở đây diễn tả sự tiếc nuối, vì giờ chia tay sắp đến. “Ít lâu” trong câu “ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy” diễn tả sự tích cực, nghĩa là, không bao lâu nữa, các môn đệ sẽ lại được gặp Chúa.

5.     Các con sẽ tìm Thầy… “Nơi tôi đi, các ông không thể đến”: Khi Đức Giêsu đi rồi, nghĩa là bước vào cuộc khổ nạn,[10] các môn đệ sẽ tìm Người trong sự tuyệt vọng. Tuy nhiên, họ sẽ không thể đến được với Người, bởi họ chưa hiểu và chưa sẵn sàng cho mầu nhiệm tử nạn. Trong đêm Tiệc Ly, sau đoạn văn này, khi ông Phêrô hỏi Đức Giêsu “Thầy đi đâu vậy, Đức Giêsu đã trả lời rằng “nơi Thầy đi, bây giờ con không thể đi theo được, nhưng sau này con sẽ đi theo” (Ga 13,36). Câu trả lời này đánh động lòng tự ái của ông Phêrô và ông đã khẳng định rằng “thưa Thầy! sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được? Con sẽ thí mạng con vì Thầy” (Ga 13,37). Trước tuyên bố mạnh mẽ của ông Phêrô, Đức Giêsu đã công bố một sự thật bẽ bàng: “Amen, Amen, Thầy bảo con, gà chưa gáy, con đã chối Thầy ba lần” (Ga 13,38). Quả thực, các môn đệ không thể cùng Đức Giêsu bước vào cuộc khổ nạn, nhưng sau khi Đức Giêsu phục sinh, họ cũng sẽ đi theo con đường khổ giá và chịu chết như Người.

6.     Điều răn mới, có gì mới?

Trong Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giêsu đã nói đến điều răn quan trọng nhất, khi nhà thông luật hỏi Người: “Trong Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?” (Mt 22,36). Đức Giêsu đã kết hợp giữa một đoạn trong sách Đệ Nhị Luật và một đoạn trong sách Lêvi để đưa ra một điều răn “hai trong một” (Mt 22,37-39): (i) Phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết linh hồn, và hết trí khôn ngươi (Đnl 6,4-5); (ii) Phải yêu mến người thân cận như chính mình (Lv 19,18). Và khái niệm “người thân cận” được Đức Giêsu mở rộng ra là tất cả mọi người, đặc biệt là những người đau khổ (Lc 10,29-37). Đây là điều cốt lõi, là trung tâm của đời sống luân lý của Do Thái giáo.

Tác giả Tin Mừng thứ tư không ghi lại câu chuyện tương tự, liên quan đến điều răn yêu thương trong Tin Mừng Nhất Lãm, nhưng ông lại nói đến việc Đức Giêsu ban cho các môn đệ một điều răn mới mà Tin Mừng Nhất Lãm không nói đến. Đâu là cái mới ở điều răn này? Cái mới thứ nhất là người ban điều răn. Nếu như điều răn yêu thương trong Cựu Ước được Chúa ban qua ông Môsê, thì điều răn mới được Đức Giêsu trực tiếp trao ban. Động từ được Đức Giêsu dùng là động từ “δίδωμι= điđômi”, có nghĩa là ban tặng, ban cho, chứ không phải là ban hành. Đây là món quả Đức Giêsu trao tặng các môn đệ chứ không phải là ban hành Lề Luật. Danh từ “điều răn” đôi khi làm người ta hiểu lầm là Đức Giêsu su ban hành một mệnh lệnh, luật lệ. Tuy nhiên, động từ “điđômi” cho chúng ta thấy đây là món quà tốt nhất mà Đức Giêsu trao tặng cho các môn đệ trước lúc chia tay. Món quà này chính là linh hồn của Đức Giêsu và của Chúa Chúa sẽ giúp cho cộng đoàn các môn đệ cũng như các tín hữu sống và sống dồi dào, thậm chí trong những lúc khủng hoảng, khó khăn. Người nhận điều răn này là các môn đệ, cụ thể là Nhóm Mười Hai, trong khi điều răn yêu thương trong Cựu Ước được ban cho toàn dân. Thực ra, “Nhóm Mười Hai” chính là nhóm hạt nhân, và đại diện cho dân Giao Ước mới. Cũng nên nhớ rằng, điều răn yêu thương được Đức Giêsu ban sau khi Người lập Giao Ước mới và vĩnh cửu bằng máu của Người. Chính vì vậy, ban điều răn mới cho Nhóm Mười Hai cũng là bàn cho dân Giao Ước mới, nghĩa là tất cả những ai tin vào Đức Giêsu. Điều răn “mới” không đề cập gì đến khía cạnh “yêu kính Chúa”. Đức Giêsu nhấn mạnh đến tình yêu dành cho Thiên Chúa chỉ vì đó là điều hiển nhiên. Hay nói như tác giả của thư thứ nhất thánh Gioan: “Nếu ai nói tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét người anh em của mình, người ấy lả kẻ nói dối, vì ai không thể yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20). Đối tượng mà các môn đệ phải yêu thương theo điều răn mới là “lẫn nhau” chứ không phải là “người thân cận”. Điểm quy chiếu, hay mức độ yêu thương mà các môn đệ phải dành cho nhau là “như Thầy đã yêu thương”. Nghĩa là, yêu đến hy sinh thân mình vì người khác.[11] Đây là tình yêu ở mức cao nhất, hoàn hảo nhất, vì đó là tình yêu chính Đức Giêsu dành cho nhân loại. Tình yêu ấy được thể hiện cách cụ thể trước đó bằng việc Người cúi xuống rửa chân cho từng người trong Nhóm Mười Hai, kể cả ông Giuđa kẻ nộp Người, hay ông Phêrô, kẻ chối Người.[12] Nhất là, tình yêu được thể hiện ở mức độ cao nhất qua cái chết trên thập giá. Mức độ cao nhất của tình yêu mà Đức Giêsu dành cho các môn đệ đã được tác giả giới thiệu ngay từ đầu chương 13: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Đức Giêsu đã ban “điều răn mới” cho các môn đệ, để bảo đảm rằng tinh thần của Người vẫn tiếp tục tồn tại giữa họ, dẫu cho bao khó khăn, thất vọng phía trước.[13] Điểm quy chiếu tình yêu không dừng lại ở tình yêu của Đức Giêsu dành cho các môn đệ, mà sau đó Đức Giêsu còn cho thấy rằng nó vươn tới tận tình yêu mà Chúa Cha dành cho Đức Giêsu: “Như Chúa Cha đã yêu Thầy, Thầy cũng đã yêu các con” (Ga 15,9). Tình yêu của Đức Giêsu dành cho các môn đệ cũng là tình yêu của Chúa Cha.[14]

Ngữ động từ “yêu thương nhau” (ἀγαπᾶτε ἀλλήλους) được lặp lại với mật độ dày đặc trong trong hai câu 34-35, cho thấy mức độ quan trọng của lệnh truyền này. Trong chương Ga 15,12-17, ngữ động từ này được lặp lại hai lần nữa. Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu mời gọi các môn đệ “ở lại trong tình yêu của” Người bằng cách giữ điều răn của Người. Người nhắc lại điều răn của Người là: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (ἀγαπᾶτε ἀλλήλους καθὼς ἠγάπησα ὑμᾶς) (Ga 15,12). Đức Giêsu đã yêu thương các môn đệ như thế nào? Thưa, Người yêu thương họ đến mức chết cho họ. Đó là tình yêu ở mức độ cao nhất: “Không ai có tình yêu vĩ đại hơn tình yêu này là ai đó hy sinh mạng sống của anh ta vì người yêu của mình” (μείζονα ταύτης ἀγάπην οὐδεὶς ἔχει, ἵνα τις τὴν ψυχὴν αὐτοῦ θῇ ὑπὲρ τῶν φίλων αὐτοῦ) (Ga 15,13). Cuối cùng, Đức Giêsu chốt lại một lần nữa về điều răn của Người: “Điều Thầy truyền cho các con là các con phải yêu thương nhau” (Ga 15,17). Tác giả thư thứ nhất của thánh Gioan cũng nhiều lần lặp lại “điều răn mới”, nhưng ông cũng nói là “đây không phải là một điều răn mới… nhưng là điều răn cũ mà anh em đã có ngay từ lúc đầu … nhưng đó cũng là một điều răn mới … đó là: Chúng ta phải yêu thương nhau” (1 Ga 2,5.7.8).

Thầy ban … một điều răn mới (Ἐντολὴν καινὴν)

rằng các con phải yêu thương nhau (ἀγαπᾶτε ἀλλήλους),

như Thầy đã yêu thương các con (καθὼς ἠγάπησα ὑμᾶς),

các con cũng phải yêu thương nhau,

tất cả sẽ biết rằng các con là môn đệ của Thầy,

nếu các con có lòng yêu thương nhau.

7.     Tất cả sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy”: “Yêu thương lẫn nhau” chính là căn tính, là nhãn hiệu của cộng đoàn các môn đệ, vì qua hành vi yêu thương mà tất cả mọi người nhận ra họ chính là môn đệ của Đức Giêsu, không lẫn vào đâu được. Dĩ nhiên, vị ngữ “lẫn nhau” của động từ yêu thương không có ý giới hạn tình yêu của các môn đệ chỉ dành cho nhau mà thôi. “Lẫn nhau” là những đối tượng khởi đầu và căn bản của tình yêu mà các môn đệ sẽ mở rộng ra cho cộng đoàn lớn hơn và cho cả nhân loại theo hành sứ vụ của họ. Cũng nên nhớ rằng, điều răn mới được ban trong bối cảnh giao ước mới, được lập bằng máu Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly. Chính vì thế, điều răn mới có thể được xem như luật lệ dành cho dân giao ước mới đáp lại với hành vi cứu độ của Chúa và sự yêu thương chọn lựa của Người, để họ thành dân mới của Người.[15] Thực tế, một tình yêu thương huynh đệ, hiệp nhất, chia sẻ, không có ai thiếu thốn thứ gì đã được triển nở trong cộng đoàn Kitô hữu sơ khai (Cv 4,32-35). Thánh Phaolô đã chuyển tải tình yêu này cho cả cộng đoàn tín hữu Rôma: “Anh chị em đừng mắc nợ ai điều gì, ngoại trừ tình yêu thương lẫn nhau; (τὸ ἀλλήλους ἀγαπᾶν) vì ai yêu thương người khác là hoàn tất Lề Luật” (Rm 13,8). Ông cũng khuyên các tín hữu Galát là “hãy phục vụ nhau vì tình yêu” (διὰ τῆς ἀγάπης) (Gl 5,13) hay khẳng định với cộng đoàn Côlôxê rằng “trên hết tất cả, tình yêu là mối dây liên kết hoàn hảo” (Cl 3,14). Thánh Phêrô cũng căn dặn các tín hữu là “hãy có tình huynh đệ” (1 Pr 3,8); “trên hết mọi sự, hãy yêu thương nhau cách nồng nhiệt, vì tình yêu che phủ muôn vàn tội lỗi” (1 Pr 4,8).

Bình luận tổng quát

Khi môn đệ Giuđa bước ra khỏi phòng Tiệc Ly để bước vào trong bóng đêm, Đức Giêsu bắt đầu nói về giờ Người được tôn vinh. Sự kiện tông đồ Giuđa ra đi tự nó không làm cho Đức Giêsu được tôn vinh. Điều khiến Người được tôn vinh là hành trình tự hiến của Người đã bắt đầu và trong mầu nhiệm tự hiến ấy, môn đệ Giuđa tham gia cách tiêu cực không nhỏ. Đức Giêsu đã chấp nhận chịu nộp bởi người môn đệ thân tín, Giuđa, người được chọn làm quản lý. Hơn nữa, Người cũng sẵn sàng đón nhận sự chối từ ba lần của một môn đệ thân tín khác, ông Phêrô, người được chọn làm thủ lãnh các Tông Đồ. Sự bạc bẽo và sự phũ phàng của lòng người không ngăn cản tình yêu của Thiên Chúa được tỏ bày và tiếp diễn trong cộng đoàn các môn đệ. Xen kẽ giữa hai tin buồn về sự phản bội và về sự chối từ của các môn đệ, là tình yêu cao đẹp Đức Giêsu dành cho họ và lời mời gọi các môn đệ kéo dài thiên tình (tình yêu Thiên Chúa) trong cộng đoàn của họ. Tình yêu đến cùng mà Đức Giêsu dành cho các môn đệ được thể hiện bằng cách cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ. Sự hạ mình để phục vụ cho các môn đệ cũng là dấu hiệu báo trước cho sự hạ mình cho đến chết và chết trên thập giá ít lâu nữa. Tình yêu vâng phục Chúa Cha và chết cho người mình yêu chính là căn nguyên cho vinh quang của Đức Giêsu và của Thiên Chúa. Tình yêu ấy cũng chính là nền tảng vững chắc và là điểm quy chiếu cho tình yêu của những thành viên cộng đoàn các môn đệ dành cho nhau. Đây là đặc tính mới mẻ trong điều răn mới mà Đức Giêsu ban cho các môn đệ. Tình yêu của con người dành cho nhau dù cao sâu đến mấy đi nữa cũng mang tính tương đối. Tình yêu của Đức Giêsu, được đặt nền tảng trên tình yêu của Chúa Cha dành cho Người, mới là tuyệt đối, hoàn hảo nhất. Một khi các môn đệ biết yêu thương nhau với tình yêu mà Đức Giêsu dành cho họ, tất cả mọi người sẽ nhận ra họ là môn đệ của Đức Giêsu. Điều răn yêu thương được ban trong bối cảnh của giao ước mới với dân mới, được lập trong đêm Tiệc Ly, cũng là điều răn dành cho cộng đoàn các Kitô hữu sơ khai và cộng đoàn các tín hữu qua mọi thời đại.

Trong xã hội con người, xưa nay luôn tồn tại hai loại tình yêu rõ rệt. Loại tình yêu thứ nhất được gọi là “tình yêu vị kỷ”. Nghĩa là, người ta yêu người khác vì chính mình. Rất nhiều người trên trần gian này có khuynh hướng yêu vị kỷ. Khuynh hướng này được thể hiện khi một người yêu một ai đó vì người này mang lại cho mình lợi ích nhất định nào đó, hoặc tiền bạc, hoặc danh vọng, địa vị xã hội, hoặc niềm vui, hạnh phúc. Một cô gái yêu chọn một chàng trai làm chồng bởi vì anh này có thể bảo đảm cho cô một sự ổn định, sung túc về vật chất, “bằng chị bằng em” trong xã hội. Một người đàn ông chọn yêu một người phụ nữ vì cô này xinh đẹp, có “nhà ở phố, bố làm to”. Sắc đẹp của cô gái làm cho anh ta hãnh diện mỗi khi đi bên cạnh. Tiền bạc và quyền lực của bố cô gái có thể mang lại cho anh ta địa vị và cơ hội tiến thân. Một vị linh mục chọn yêu Chúa vì Chúa mang lại cho ông một địa vị xã hội đáng kể trong lòng giáo dân, cùng với những lợi lộc trần thế đi kèm với chức linh mục. Tình yêu như thế, cách nào đó, chỉ là một sự trao đổi qua lại, không hơn không kém. Loại tình yêu thứ hai được gọi là “tình yêu vị tha”. Nghĩa là, người ta yêu người khác vì chính đối phương. Thánh Phaolô đã xác tín về tình yêu của Đức Kitô như thế này: “Khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo kỳ hạn Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta. Rất hiếm khi có một ai đó chết vì người công chính, có thể có một ai đó chết vì một người tốt. Vậy mà, Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,6-8). Tình yêu của Thiên Chúa chính là nền tảng và căn bản cho “tình yêu vị tha”. Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi trao ban chính Con Một. Đức Giêsu yêu nhân loại đến nỗi trao ban chính thân mình để cho nhân loại được sống. Người yêu nhân loại không phải vì nhân loại đẹp, thánh thiện, dễ thương, hay nhân loại mang lại cho Người bất cứ lợi lộc gì. Người trao ban tất cả cho nhân loại bởi vì bản chất của Người là tình yêu và bản chất của tình yêu đích thực là sự trao ban vô vị lợi. Người ta có thể tìm thấy phần nào tình yêu của Thiên Chúa nơi tình yêu của người cha, người mẹ, hay của các thánh nhân. Người cha, người mẹ đúng nghĩa phải yêu thương những người con của mình hết lòng, sẵn sàng hy sinh thân mình vì con, mà không đòi hỏi bất kỳ một lợi ích nào từ người con. Các thánh nhân luôn thi hành việc bác ái cách vô vị lợi. Các đôi tình nhân cũng có thể vươn đến tình yêu vị tha khi cả hai người đều biết nghĩ đến người yêu của mình, biết hy sinh cho người yêu của mình hơn là chỉ nghĩ cho bản thân mình và đòi hỏi đối phương phải hy sinh cho mình. Là những môn đệ của Đức Kitô, mỗi kitô hữu đều được mời gọi làm cho tình yêu tuyệt hảo, vô vị lợi, của Đức Giêsu tiếp tục lan tỏa mọi lúc, mọi nơi, trên thế gian này.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] Tin Mừng thứ tư được chia thành bốn phần chính; (1) Lồi Tựa (1,1-18); (2) Sách các dấu (1,19 – 12,50); (3) Sách của sự vinh quang (13,1 – 20,29); (4) Phần kết (21,1-25 [F.J. Moloney, “John”, The Paulist Biblical Commentary (ed. J.E.A. Chiu e al.) (New York, 2008) 1110-1111].

[2] “This glorification involves his return to his Father and therefore, his departure from his disciples” [R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 29A, 609].

[3] “The love of God, which involves the sacrifice of self, is most visible and at its apex on the cross and not on Easter morning” [E. Haenchen – R.W. Funk – U. Busse, John. A commentary on the Gospel of John (Hermeneia; Philadelphia 1984) 117.].

[4] “Bultmann himself recognizes, the theme of glory that dominates the second half of the Gospel (The Book of Glory) is past, present, and future, since the whole process is viewed from an eternal viewpoint (perhaps produced by mixing the viewpoint of the night before Jesus died and the viewpoint of the later period of Gospel composition)” (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes, 610).

[5]The passion, death, resurrection, and ascension are looked on as one brief action” (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes, 606).

[6] M.L. Coloe, “Johannine Literature”, The Jerome Biblical Commentary for the Twenty-First Century (ed. J.J. Collins e al.) (London – New York – Oxford – New Delhi – Sydney 2020) 1426; “the association of jesus death with glorification d, a ref1ectinn of the final stages in the Johannine community's theological development” [F.J. Moloney, The Gospel of John (SP4; Collegeville 1997) 389].

[7] F.X.V.P. Long, Các Bài Tin Mừng Gioan Dùng trong Phụng Vụ (Biên Hòa 2021) 317.

[8] “My little children,” gives the verse a tone of tenderness; and certainly Jesus’ words in 36 interpret the statement of 33 as a promise of ultimate happiness (“you will follow me later”)” (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes, 612).

[10] Trước đó Đức Giêsu đã mặc khải rằng Người sẽ ra đi và, những lãnh đạo Do Thái sẽ tìm Người nhưng họ không thể đến được (7,32-36). Bây giờ Đức Giêsu lặp lại với các môn đệ. Trong cả hai trường hợp, Đức Giêsu đều tiền báo về cái chết của Người (M.L. Coloe, “Johannine Literature”, 1427).

[11]In the context of “the hour,” Jesus’ demonstrable love included the laying down of his life and taking it up again” … “Yet because the generosity of God’s love could not be fully known until He had given His own Son, in another way the Christian concept of love stemming from Jesus is new”(R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes, 607, 614); “Its “newness” would appear to consist in its being the Law of the new order, brought about by the redemption of God in and through Christ, intimated in vv 31–32 (G.R. Beasley-Murray, John, 247).”

[12] “The love with which Jesus has loved them and has just exemplified in the footwashing” (E. Haenchen – R.W. Funk – U. Busse, John,117).

[13] “The command to love (34–35) is Jesus’ way of ensuring the continuance of his spirit among his disciples” (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes, 609).

[14] “Yet love is more than a commandment; it is a gift, and like the other gifts of the Christian dispensation it comes from the Father through Jesus to those who believe in him” (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI), 612).

[15] G.R. Beasley-Murray, John, 247.

Thursday, 5 May 2022

NGHE TIẾNG VÀ ĐI THEO. Chú giải Tin Mừng CN IV Phục Sinh năm C (Ga 10,27-30)

Bản Văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

22Ἐγένετο τότε τὰ ἐγκαίνια ἐν τοῖς Ἱεροσολύμοις, χειμὼν ἦν,

 23 καὶ περιεπάτει ὁ Ἰησοῦς ἐν τῷ ἱερῷ ἐν τῇ στοᾷ τοῦ Σολομῶνος.

 24 ἐκύκλωσαν οὖν αὐτὸν οἱ Ἰουδαῖοι καὶ ἔλεγον αὐτῷ· ἕως πότε τὴν ψυχὴν ἡμῶν αἴρεις; εἰ σὺ εἶ ὁ χριστός, εἰπὲ ἡμῖν παρρησίᾳ.

 25 ἀπεκρίθη αὐτοῖς ὁ Ἰησοῦς· εἶπον ὑμῖν καὶ οὐ πιστεύετε· τὰ ἔργα ἃ ἐγὼ ποιῶ ἐν τῷ ὀνόματι τοῦ πατρός μου ταῦτα μαρτυρεῖ περὶ ἐμοῦ·

 26 ἀλλ᾽ ὑμεῖς οὐ πιστεύετε, ὅτι οὐκ ἐστὲ ἐκ τῶν προβάτων τῶν ἐμῶν.

27 τὰ πρόβατα τὰ ἐμὰ τῆς φωνῆς μου ἀκούουσιν, κἀγὼ γινώσκω αὐτὰ καὶ ἀκολουθοῦσίν μοι,

 28 κἀγὼ δίδωμι αὐτοῖς ζωὴν αἰώνιον καὶ οὐ μὴ ἀπόλωνται εἰς τὸν αἰῶνα καὶ οὐχ ἁρπάσει τις αὐτὰ ἐκ τῆς χειρός μου.

 29 ὁ πατήρ μου ὃ δέδωκέν μοι πάντων μεῖζόν ἐστιν, καὶ οὐδεὶς δύναται ἁρπάζειν ἐκ τῆς χειρὸς τοῦ πατρός.

 30 ἐγὼ καὶ ὁ πατὴρ ἕν ἐσμεν.

31 Ἐβάστασαν πάλιν λίθους οἱ Ἰουδαῖοι ἵνα λιθάσωσιν αὐτόν.

22 Khi ấy, tại Giêrusalem diễn ra Lễ Cung Hiến Đền Thờ, vào mùa đông.

23 Đức Giêsu cứ đi tới đi lui trong đền thờ, tại hành lang Salomon.

24 Những người Do Thái bao quanh Người và nói cùng Người: “Ông còn để cho tâm hồn của chúng tôi bối rối đến bao giờ? (nghĩa đen: lấy mất hồn của chúng tôi) Nếu ông là Đấng Kitô thì hãy nói công khai cho chúng tôi đi.”

25 Đức Giêsu trả lời cùng họ: “Tôi đã nói cùng các ông nhưng các ông không tin tôi. Những công việc tôi làm nhân danh Cha của tôi, những việc ấy làm chứng về tôi”.

26 Nhưng các ông vẫn không tin tôi, bởi vì các ông không phải từ những con chiên của tôi.

27 Những con chiên của tôi thì nghe tiếng của tôi và tôi biết chúng và chúng theo tôi.

28 Và tôi trao ban cho chúng sự sống đời đời và chúng sẽ không bao giờ hư mất. Không ai có thể cướp chúng khỏi tay tôi.

29 Cha của tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi thì lớn hơn tất cả và không ai có thể lấy khỏi tay Cha.

30 Tôi và Cha là một.

31 Những người Do Thái lại nhặt đá để ném Người.


Bối cảnh

Trong bối cảnh trực tiếp Ga 10,27-30 nằm trong trình thuật liên quan đến căn tính “Đấng Kitô” của Đức Giêsu (Ga 10,22-31). Người Do Thái muốn Đức Giêsu phải bộc lộ căn tính của Người cách tỏ tường (Ga 10,24). Trong khi trả lời Đức Giêsu nói về sự cứng lòng của những người Do Thái và mô tả những đặc tính của những con chiên của Người. Hình ảnh những con chiên của Đức Giêsu gợi nhớ đến bài giảng về “người mục tử nhân lành” (Ga 10,1-18), trong đó Đức Giêsu đã diễn tả những đặc tính của những con chiên. Những con chiên nói chung luôn nghe tiếng của mục tử và đi theo mục tử của chúng, chúng không nhận biết tiếng của những người lạ (Ga 10,3-5). Những con chiên của mục tử Giêsu luôn “biết” Người, như Người “biết” chúng (Ga 10,14). Những con chiên của Đức Giêsu, phải nghe tiếng của Người và được quy tụ thành một đàn chiên và một vị mục tử (Ga 10,16). Trong bối cảnh rộng hơn, bối cảnh thời gian – Lễ Cung Hiến Đền Thờ - liên hệ cách chặt chẽ với các Lễ khác được nói đến trong Tin Mừng thứ tư. Lễ Cung Hiến Đền Thờ là Lễ cuối cùng trong loạt những Lễ bắt đầu từ chương 5: Ngày Sabát (Ga 5,9-10), Lễ Vượt Qua (Ga 6,4), Lễ Lều (Ga 7,2), và Lễ Cung Hiến Đền Thờ (Ga 10,22). Không gian đền thờ, nơi mà Đức Giêsu giảng dạy, đã được đề cập trong Ga 7,14.28. Câu hỏi về Đấng Kitô đã bắt đầu trong chương 7 (7,26.31.41-42; 9,22) và được lặp lại trong đoạn này (Ga 10,24). Căn tính “Đấng Mêsia” hay “Đấng Kitô” đã được ông Anrê nhận dạng ngay từ đầu Tin Mừng, và giới thiệu với ông Phêrô: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia (nghĩa là Đấng Kitô)” (Ga 1,41). Người phụ nữ Samari cũng đã nhận ra Người là “Đấng Kitô” khi Người nói cho chị biết tất cả những điều chị đã từng làm (Ga 4,29). Mục đích của toàn bộ những điều được ghi lại trong Tin Mừng thứ tư là để anh chị em “tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa và để nhờ tin mà được sự sống đời đời nhờ danh Người” (Ga 20,31). Tiếp theo đoạn văn này là đoạn tranh luận về căn tính “Con Thiên Chúa” của Đức Giêsu (Ga 10,32-39).

Cấu trúc

Bối cảnh (22-23)

(A)Nghi vấn của những Người Do Thái: Có phải là Đấng Kitô? (24)

(B) Đáp trả của Đức Giêsu:

-      Những người Do Thái không tin (25)

-      Vì không phải chiên của Người (26)

-      Chiên của Người thì nghe và theo Người (27)

-      Người ban cho chiên sự sống đời đời (28)

-      Mặc khải về Cha: Đấng trao ban, lớn hơn tất cả, gìn giữ tất cả (29)

-      Tương quan Cha và Đức Giêsu: Là một (30)

(A’) Phản ứng những người Do Thái: Ném đá Đức Giêsu (31)

Một số điểm chú giải

1.     Lễ Cung Hiến Đền Thờ: Đền thờ Giêrusalem là thánh địa quốc gia, là trung tâm của toàn bộ những sinh hoạt của dân IsraEL, đặc biệt là nhưng sinh hoạt tôn giáo. Cuộc cải cách của vua Giôsiah (639-609 tCN) đã biến Giêrusalem thành một trung tâm thờ phượng duy nhất với đền thờ là tâm điểm của nơi Chúa hiện diện.[1] Lịch sử IsraEL ghi nhận hai thời kỳ biến động và gắn liền với hai đền thờ cùng xây trên một địa điểm duy nhất: Thời kỳ đệ nhất đền thờ và thời kỳ đệ nhị đền thờ. Địa điểm ấy ngày nay chính là nơi tọa lạc của một đền thờ Hồi Giáo, thường được gọi là “Dome of the Rock” (Vòm Đá). Đền thờ thứ nhất được vua Salomon xây dựng vào năm thứ tư triều đại của ông và hoàn tất bảy năm sau đó. Đền thờ này đã bị đế quốc Babylon phá hủy cùng với thành phố Giêrusalem vào năm 586/7 tCN, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của vương quốc miền Nam (Giuđa), và kéo theo thời kỳ lưu đày nổi tiếng, thường được gọi là “cuộc lưu đày Babylon”. Hoàng đế Cyrus của Ba Tư, cho phép nhóm người lưu đày trở về xây dựng lại đền thờ thứ hai (khoảng năm 520-515 tCN). Đền thờ thứ hai này thường được gọi là Đền Thờ Dêrúbbabel, vì ông là lãnh đạo chính trị cấp cao khi đền thờ được xây lại. Đất Giuđa lúc bấy giờ chỉ còn là một tỉnh chư hầu của đế quốc Ba Tư. Đền thờ này được vua Hêrôđê cả tái thiết và mở rộng dưới triều đại của ông (37 tCN – 4 sCN), nên cũng được gọi là “đền thờ của vua Hêrôđê”.[2] Công việc tái thiết của vua Hêrôđê cả bắt đầu từ năm 19/20 tCN. Sau khi vua Hêrôđê cả qua đời công trình này kéo dài mãi cho đến năm 27/28 sCN. Chính vì vậy, những người Do Thái nói đến khoảng thời gian đền thờ được xây dựng là 46 năm (Ga 2,20).[3] Đền thờ này bị vua Syria, tên là Antiôkhô IV (175-164 tCN) làm cho ra ô uế từ năm 167-164, bằng cách xây một bàn thờ thần ngoại (thần Zeus), cho dựng tượng “đồ ghê tởm hoang tàn” trên bàn thờ dâng lễ toàn thiêu vào ngày 15 tháng Kítlêu, năm 145 tCN (= tháng 12 năm 167).[4] Ngày 25 tháng chín, năm 148 (=14 tháng 12 năm 164 tCN), anh em nhà Macabê đã phản kháng đế chế Hy Lạp, chiếm lại đền thờ. Ngay lập tức, họ tiến hành thanh tẩy và tái cung hiến Đền Thờ (1 Mcb 4,41-46). Lễ Cung Hiến Đền Thờ là Lễ kỷ niệm biến cố này. Lễ này trong tiếng Do Thái gọi là Hanukkah, nghĩa là “sự cung hiến”. Lễ Cung Hiến Đền Thờ diễn ra khoảng ba tháng sau Lễ Lều, vào khoảng giữa mùa đông (tháng Mười Hai).

2.     Hành lang Salomon: Khuôn viên đền thờ Giêrusalem thời Đức Giêsu được bao quanh bởi bốn hành lang. Hành lang Salomon là một hành lang nổi tiếng được nhắc đến ba lần trong Tân Ước. Ngoài Tin Mừng thứ tư, nó còn được sách Công Vụ nói đến hai lần nữa. Lần thứ nhất, nó gắn liền với buổi giảng dạy của ông Phêrô và ông Gioan. Khi người bại liệt được chữa lành cứ dính chặt với hai ông, thì toàn dân kinh ngạc và chạy đến với hai ông tại hành lang gọi là “hành lang Salomon (Cv 3,11). Lần thứ hai, hành lang này được nhắc đến như là nơi các tín hữu thời sơ khai thường tụ họp với nhau với sự đồng tâm, nhất trí (Cv 5,12). Hành lang Salomon, được xem là hành lang cổ nhất, nằm ở phía Tây của khuôn viên Đền Thờ. Nó được gắn liền với tên của vua Salomon, có lẽ vì nó là phần còn lại của Đền Thờ do vua Salomon xây dựng.[5] Trong bối cảnh này, hành lang Salomon trở thành nơi mà Đức Giêsu mặc khải Người là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa. Mặc khải quan trọng này diễn ra trên hành lang Salomon có liên hệ với điều Đức Giêsu đã nói trong Tin Mừng Nhất Lãm: “Mà đây thì còn hơn Salomon nữa” (Mt 12,42; Lc 11,31). Người vượt trội hơn Salomon về vị thế vì Người là Đấng Mêsia và là Thiên Chúa.      

3.     Những người Do Thái: Nhân vật “những người Do Thái” xuất hiện từ rất sớm (Ga 1,19) và thường đóng vai là những đối thủ của Đức Giêsu, những người “chống đối và tìm giết Người (x. 5,16-18).[6] Họ thường xuất hiện trong vị thế đối lập với Đức Giêsu. Họ phàn nàn không cho người bại liệt được chữa lànhvác chõngvì hôm đó là ngày Sabát (Ga 5,10). Họbắt bớ” Đức Giêsu (Ga 5,16), rồitìm mọi cách để giết Người” (5,18; 7,1; 10,31; 19,7.12). Họ sẵn sàng trục xuất bất kỳ ai tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Mê-si-a ra khỏi Hội Đường (Ga 9,22).[7] Trong trình thuật về Thương Khó, nhóm nhân vật này đã “điệu Đức Giêsu lên dinh quan Tổng Trấn” (Ga 18,28); Họ xin tha cho Baraba mà lên án xử tử Đức Giêsu (Ga 18,40; 19,7). Trong bối cảnh của Ga 10,22-31, nhân vật “những người Do Thái” xuất hiện hai lần. Lúc đầu họ đặt câu hỏi và mong muốn Đức Giêsu bộc lộ căn tính “Kitô” của Người (Ga 10,24), nhưng cuối cùng họ đã lượm đá để ném Đức Giêsu (Ga 10,31). Họ thuộc nhóm “những người Do thái” thù ghét và muốn giết Đức Giêsu. Tin Mừng thứ tư, còn nói đến hai nhóm Người Do Thái khác nữa. Đó là những “Người Do Thái” chung chung, thuộc dân tộc Do Thái: “Lễ Vượt Qua của những người Do Thái” (Ga 2,13); “Việc thanh tẩy theo phong tục của những người Do Thái” (Ga 2,6); “ông Nicôđêmô, một thủ lãnh của những người Do Thái” (Ga 3,1)… Nhóm “những người Do Thái” còn lại là những người đã tin vào Đức Giêsu: “Đức Giêsu nói với những người Do Thái đã tin vào Người” (Ga 8,30-31); “Trong số những người Do Thái đến thăm cô Maria và được chứng kiến việc Đức Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người” (Ga 11,45; 12,11).

4.     Đấng Kitô: Tất cả các tác giả sách Tin Mừng đều cố gắng chứng minh Đức Giêsu Nadarét chính là Đấng Mêsia (Đấng Kitô) mà dân IsraEL hằng mong đợi. Tác giả Máccô đã giới thiệu Đức Giêsu là Đấng Kitô ngay câu đầu tiên của Tin Mừng: “Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô [Con Thiên Chúa]” (Mc 1,1). Tác giả Mátthêu cũng cho biết Đức Giêsu chính là Đấng Kitô (Mt 1,16). Tác giả Luca cũng không ngoại lệ: “Ngày hôm nay một Đấng Cứu Độ đã được sinh ra cho anh em trong thành của vua Đavít, Người là Đấng Kitô, Đức Chúa” (Lc 2,11). Tin Mừng thứ tư dẫu khởi đầu bằng “Lời Tựa”, giới thiệu Đức Giêsu là “Ngôi Lời” và là “Thiên Chúa” (Ga 1,1), tác giả cũng không quên gọi Đức Giêsu là “Giêsu Kitô” như tác giả Máccô: “Lề Luật được Thiên Chúa ban qua ông Môsê nhưng ân sủng và sự thật thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có” (Ga 1,17). Hơn nữa, ngay từ đầu, ông Anrê đã dễ dàng nhận ra Đức Giêsu là Đấng Mêsia (nghĩa là Đấng Kitô) và giới thiệu với em mình là ông Phêrô (Ga 1,41). Người phụ nữ Samari cũng đã nhận ra căn tính “Kitô” nơi Đức Giêsu: “Đến mà xem, có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” (Ga 4,29), bởi vì chính Đức Giêsu đã thừa nhận “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga 4,26). Vào cuối Tin Mừng, tác giả cho biết mục đích của những gì ông viết ra là để “anh chị em tin Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà có sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31). Tuy có nhiều người nhận ra căn tính Mêsia nơi Đức Giêsu, kiến thức ấy vẫn là một thách đố đối với nhóm những lãnh đạo Do Thái, đại diện là nhân vật “những người Do Thái”. Họ nài nỉ Đức Giêsu: “Nếu ông là Đấng Kitô, hãy nói công khai cho chúng tôi biết” (Ga 10,24). Trước đó, họ đã tranh luận gay gắt về nguồn gốc Kitô của Đức Giêsu: “Ông ấy, chúng ta đã biết ông xuất thân từ đâu rồi, còn Đấng Kitô, khi Người đến, không ai biết Người xuất thân từ đâu cả” (Ga 7,27); “Đấng Kitô mà lại xuất thân từ Galilê ư? Nào Thánh Kinh đã chẳng nói là Đấng Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Đavít và từ Bếtlehem làng của vua Đavít sao?” (Ga 7,42). Nguồn gốc trần thế bình thường của Đức Giêsu, là một cản trở không nhỏ cho việc họ nhìn nhận Người là Đấng Mêsia họ đang mong chờ. Yêu cầu của “những người Do Thái” trong bối cảnh này rất giống với yêu cầu của Thượng Hội Đồng Do Thái trong cuộc xét xử Đức Giêsu: “Ông có phải là Đấng Mêsia thì nói cho chúng tôi biết” (Lc 22,67). Theo tác giả R. Brown, sở dĩ họ đòi Đức Giêsu nói công khai rằng Người là Đấng Kitô, vì trước đó Đức Giêsu đã dùng ngôn ngữ biểu tượng khi nói rằng Người là một “mục tử nhân lành” (10,11.14). Trong truyền thống Cựu Ước, mục tử là biểu tượng quen thuộc cho một vị vua thuộc dòng dõi Đavít (x. Ed 34,23). Những ám chỉ về thân phận Kitô xuất hiện trong đầu những “người Do Thái” khi Người giới thiệu mình là một mục tử.[8]

5.     Những công việc Đức Giêsu nói và làm: Để trả lời cho câu hỏi có phần yêu cầu và nài nỉ của nhóm “những người Do Thái”, Đức Giêsu đã cho họ biết là Người đã nói rồi, và những công việc Người làm nhân danh Cha Người minh chứng về Người. Vậy, Người đã nói gì? Xác nhận này có thể có nghĩa là “lời dạy của tôi đã trả lời đủ rõ ràng cho những ai có mắt để xem và có tai để nghe”.[9] Những điều Đức Giêsu nói trước đó liên quan đến căn tính của Người như là “trước khi có ông Ápraham thì tôi, Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,58); “Tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến” (Ga 8,42); “Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. Phần tôi, tôi biết Người vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi” (Ga 7,28-29). Những việc Đức Giêsu làm nhân danh Cha Người có thể là những phép lạ. Phép lạ gần nhất là phép lạ mở mắt cho người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-41). Phép lạ này mang lại cả ánh sáng thể lý và ánh sáng đức tin cho người mù từ thuở mới sinh, nhưng người Pharisêu vẫn đui mù (Ga 9,40-41). Làm cho người mù nhìn thấy là một trong những đặc tính về Đấng Mêsia, mà Đức Giêsu trả lời cho các môn đệ của ông Gioan Tẩy Giả, khi họ được sai đến để hỏi “Người có phải là Đấng phải đến không?” (x. Mt 11,2-6). Những việc Đức Giêsu làm và những điều Người đã nói có thể là phép lạ hóa bánh ra nhiều cho năm ngàn người ăn (Ga 6,5-15) và Diễn Từ Bánh Hằng Sống tiếp theo sau đó (Ga 6,22-59). Phép lạ đã làm cho dân chúng tuyên xưng rằng: “Hẳn ông này là một ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian” (Ga 6,14). Trong Diễn Từ Bánh Hằng Sống, Đức Giêsu đã giới thiệu Người là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai đến với Người không hề phải đói và ai tin vào Người, chẳng khát bao giờ” (Ga 6,35). Sau Diễn Từ, nhiều môn đệ đã cảm thấy chướng tai (6,60) và rút lui (6,66), nhưng Nhóm Mười Hai càng xác tín hơn: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).

6.     Các ông vẫn không tin tôi: Động từ “tin với” trạng từ phủ định (οὐ πιστεύετε: Không tin) được dùng hai lần liên tục cho nhóm “những người Do Thái” như một điệp khúc của sự cứng lòng. Hơn nữa, thì hiện tại của động từ, diễn tả một thực tiễn không thay đổi của hành động. Đức Giêsu đã nói nhiều điều nhưng họ không tin. Những công việc Đức Giêsu làm nhân danh Cha của Người, cũng không làm cho họ tin. Lý do là vì họ “không phải là những con chiên của” Đức Giêsu. Lý Do này có thể hiểu theo hai chiều: Không tin vào Người nên họ không trở thành những con chiên của Người; không phải là con chiên của Người thì không thể tin vào Người. Sự “không tin” của những “người Do Thái” trong đoạn này gợi nhớ lại “sự không tin” của những người Pharisêu trước đó: “Thật vậy, nếu các ông không tin là ‘Tôi Hằng Hữu’, thì các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết” (Ga 8,24). Vào cuối cuộc tranh luận này, Đức Giêsu mời gọi những người Do Thái tin vào Người vì những việc Người làm nhân danh Cha của Người: “Nếu tôi không làm những công việc của Cha tôi thì các ông đừng tin tôi, còn nếu tôi làm những công việc đó, thì ít ra các ông cũng hãy tin những việc đó” (Ga 10,37-38). Tuy vậy, họ vẫn không tin vào Người và tìm cách bắt Người (Ga 10,39).

    Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trong Thánh Lễ đầu tiên dưới cương vị Giáo Hoàng tại nhà nguyện Sixtine đã nhấn mạnh: “Sự thiếu vắng đức tin thường đi kèm cách bi thảm với sự đánh mất ý nghĩa cuộc sống, sự lãng quên lòng thương xót, những vi phạm khủng khiếp đến phẩm giá con người, khủng hoảng gia đình và bao vết thương khác đang làm xã hội chúng ta rỉ máu.”

Tôi đã nói cùng các ông

nhưng các ông không tin

Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi làm chứng về tôi,

nhưng các ông không tin,

Vì các ông không thuộc về đàn chiên của tôi.

7.     Những phẩm tính của con chiên (Nghe và theo): Trong khi nói về lý do “không tin” của những “Người Do Thái”, Đức Giêsu đề cập đến những phẩm tính của những con chiên trong tương quan với chủ chiên. Đầu chương 10, Đức Giêsu đã tự bạch rằng Người là một “mục tử nhân lành” (Ga 10,11.14) với những phẩm tính ưu việt, đồng thời Người cũng phác họa những phẩm tính của những con chiên của Người: Chiên của Người phải biết Người (Ga 10,14); “nghe tiếng của Người” (Ga 10,16); “Hiệp nhất” với nhau (một đàn chiên và một vị mục tử” (Ga 10,16). Trong đoạn văn này, Đức Giêsu nhắc lại phẩm tính “nghe” của những con chiên: “Chiên của tôi thì nghe tiếng của tôi” (Ga 10,27a). Hành động “nghe” để đáp lại hành động “nói” của Đức Giêsu. Người đã “nói” nhưng “những người Do Thái” không nghe, không tin Người. Ngoài ra, Người còn thêm một phẩm tính khác, vốn là phẩm tính bình thường của một con chiên. Đó là “đi theo” Người. Động từ “đi theo” diễn tả hoạt động của một người môn đệ. “Đi theo” có nghĩa là đi theo toàn bộ hành trình mà mục tử Giêsu đã đi (con đường thập tự, con đường yêu đến trao ban mạng sống mình vì người khác); làm theo lời dạy của Người và rập khuôn theo lối sống của Người. Hành động “đi theo”, được mô tả bằng một động từ ở thì hiện tại (ἀκολουθοῦσίν), diễn tả một thực tế không thay đổi, kéo dài. Hành động “đi theo” ứng với hành động của Đức Giêsu, “làm những công việc của Cha”. Những con chiên của Chúa, nghe tiếng Chúa, và đi theo Chúa. Đây là những đáp trả của niềm tin, trái ngược với thái độ của “những người Do Thái”, những người không tin vào cả những điều Đức Giêsu nói và những việc Người làm nhân danh Cha Người.

8.     “Ban sự sống đời đời… không hư mất … không ai lấy khỏi tay tôi … từ tay Chúa Cha”: Đức Giêsu hứa ban sự sống đời đời, là món quà quý giá nhất cho cả đời người, cho những con chiên của Người. “Sự sống đời đời” là một chủ đề rất quan trọng trong giáo huấn của Đức Giêsu. Văn chương Do Thái thế kỷ thứ hai tCN, đã bắt đầu suy tư về sự sống đời đời. Sách Macabê quyển thứ hai đã ghi lại: “Chúng tôi chết vì luật pháp của Vua Vũ Trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” (2 Mcb 7,9; Cf. 7,36). Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại câu chuyện người thanh niên giàu có hỏi Đức Giêsu, về bí kíp để có được sự sống đời đời làm gia nghiệp. Đức Giêsu cho biết bí kíp là “giữ các điều răn” và “bán của cải, cho người nghèo, rồi đến theo Đức Giêsu” (Mc 10,23-27; Cf. Mt 19,23-26; Lc 18,24-27). Gioan là tác giả ghi lại nhiều nhất những giáo huấn của Đức Giêsu liên quan đến “sự sống đời đời”: “Ai tin vào Người Con thì có được sự sống đời đời” (Ga 3,36); “Ai nghe tôi và tin vào Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời” (Ga 5,24; Cf. 6,47; 6,47; 17,2-3; ).[10] Vào cuối diễn từ “Bánh Hằng Sống”, ông Phêrô đã lên tiếng khẳng định rằng “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Lời hứa “ban sự sống đời đời” trong bối cảnh này hết sức chắc chắn. Phải nói rằng, cách nói của Đức Giêsu biểu lộ tính bảo đảm ở mức độ cao nhất. Người dùng nhiều “lớp” để gìn giữ quà tặng này: “Trao ban sự sống đời đời” – “chúng sẽ không bao giờ bị hư mất” – “không ai có thể giật chúng khỏi tay tôi” – “không ai có thể giật chúng khỏi tay của Chúa Cha”. Sự sống đời đời được bảo đảm bằng “không bao giờ hư mất”, và họ luôn được cả tay Đức Giêsu và cả tay Chúa Cha gìn giữ.

9.     “Tôi và Cha là một”: Sự hiệp nhất nên một của Đức Giêsu với Chúa Cha được diễn tả cách dày đặc trong Tin Mừng thứ tư. Lời Tựa của Tin Mừng đã giới thiệu rằng “Ngôi Lời hằng hiện hữu; Ngôi Lời hiện hữu với Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1). Đức Giêsu cũng được giới thiệu là “Con Một, vốn là Thiên Chúa, Đấng hằng ở nơi cung lòng của Chúa Cha” (Ga 1,18). Nhiều lần Đức Giêsu tự bạch về tương quan gần gũi giữa Người với Chúa Cha: “Người Con đến từ Chúa Cha (Ga 8,42); “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha” (Ga 10,38); “Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra, nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong thầy, chính Người làm việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,10-11). Đức Giêsu cũng cầu xin cho các môn đệ “nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta” … “để họ được nên một như chúng ta là một” (Ga 17,21.23). Trong bối cảnh này, Người đồng nhất với Chúa Cha trong công việc: Người làm “những công việc của Cha Người”; Đồng nhất trong việc sở hữu đàn chiên: Chúa Cha ban những con chiên cho Đức Giêsu; Đồng nhất trong việc bảo vệ đàn chiên: Không ai có thể cướp những con chiên khỏi tay của Đức Giêsu và Chúa Cha.

10.  “Lại lấy đá ném Đức Giêsu”: “Những người Do Thái” khởi đầu bằng đòi hỏi Đức Giêsu bộc lộ căn tính, và kết thúc bằng việc “nhặt đá để ném Đức Giêsu” (Ga 10,31). Họ đã không tin vào lời nói cũng như công việc Đức Giêsu đã làm. Hơn nữa, sự thật, Đức Giêsu và Chúa Cha là “một” làm cho họ choáng váng và không thể chấp nhận được. Sở dĩ họ ném đá Đức Giêsu là vì họ nghĩ Người đã nói phạm thượng: “Ông là người phàm mà tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga 10,33; Cf. Ga 11,8). Trạng từ “lại” (πάλιν) được đặt trước ngữ động từ “lượm đá” giả định trước đó “những người Do Thái” đã từng “lượm đá để ném” Đức Giêsu. Trên thực tế, vào cuối chương 8, khi Đức Giêsu nói về sự hiện hữu của Người trước cả ông Ápraham thì “những người Do Thái” liền lượm đá để ném Người, nhưng Người “lánh đi và ra khỏi đền thờ” (Ga 8,59).[11] Lấy đá ném là một cách thức thi hành án tử theo truyền thống Do Thái. Hành động của “những người Do Thái” ngụ ý rằng họ kết án Đức Giêsu tội chết. Thánh Stêphanô, một người trong nhóm Bảy, đầy Thần Khí và khôn ngoan, cũng đã bị những người Do Thái ném đá chết, sau khi ngài đã giảng cho họ nghe về Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô (x. Cv 7,1-60) .

Bình luận tổng quát

Căn tính Kitô (hay Mêsia) là một căn tính quan trọng nơi Đức Giêsu mà “những người Do Thái” đương thời muốn biết. Đây là nghi vấn mà trong tất cả các trình thuật Nhất Lãm liên quan đến cuộc xét xử, Thượng Hội Đồng Do Thái hỏi Đức Giêsu, nhưng câu hỏi trong Lc 22,67 gần với câu hỏi của “những người Do Thái” trong Tin Mừng Gioan hơn. Đức Giêsu chắc chắn cũng muốn làm cho họ hiểu và tin Người là Đấng Kitô, như là các môn đệ và nhiều người khác. Tuy nhiên, dù Người đã cố gắng bằng cả lời nói và hành động, họ vẫn không tin vào Người. Trong đoạn Tin Mừng này (Ga 10,22-31), Đức Giêsu không chỉ nhìn nhận Người chính là Đấng Kitô mà hơn thế nữa Người còn mặc khải Người là Thiên Chúa. Người không chỉ có căn tính “Kitô” mà còn có căn tính “Thiên Chúa”. Việc Đức Giêsu mặc khải căn tính “Thiên Chúa” đã làm cho “những người Do Thái”, những người vốn chưa tin Người là Đấng Kitô, càng thêm tức giận, vì họ cho rằng Người nói phạm thượng. Cuối cùng, họ đã muốn xử Người qua hành vi “lượm đá để ném” Người. “Lượm đá để ném” đồng nghĩa với việc thi hành án tử hình trong luật Do Thái. Lý do Đức Giêsu đưa ra cho sự không tin của họ là “vì họ không thuộc về những con chiên của Người”. Lý do này có thể được hiểu theo hai chiều “vì họ không tin nên không trở thành những con chiên của Người” hay “vì họ không thuộc về những con chiên của Người nên họ không tin vào Người”. “Những con chiên” của Người thì luôn “nghe tiếng” Người và “đi theo” Người. Đây là hai giai đoạn trong một tiến trình làm môn đệ. “Nghe tiếng” để rồi “đi theo”. “Nghe tiếng” là lắng nghe tất cả những điều Người giảng dạy hướng dẫn. “Đi theo” là làm theo những điều Người đã làm, đi theo hành trình Người đã đi; chọn lẽ sống Người đã chọn và và rập khuôn theo lối sống Người đã sống. Đức Giêsu đã mời gọi các môn đệ rằng “ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác lấy thập giá của mình hằng ngày mà theo tôi” (Lc 9,23; Mc 8,34). Hành trình của người môn đệ, hay con chiên của Chúa, là hành trình thập tự, sống và chết cho tình yêu cho Chúa Cha và cho tha nhân. Khi đã “nghe tiếng” và “đi theo” mục tử Giêsu, những con chiên được đảm bảo chắc chắn sự sống đời đời, không bao giờ hư mất. Họ được bàn tay của cả Đức Giêsu và Chúa Cha bảo bọc, nâng đỡ và giữ gìn một cách an toàn. Không một thế lực sự dữ nào có thể cướp họ khỏi bàn tay Chúa Cha, bởi vì Người vĩ đại hơn tất cả mọi loài. Đức Giêsu hiệp nhất với Chúa Cha trong tình yêu thương nhân loại cho đến tận cùng và trao ban sự sống cho họ cho đến vô tận.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD.



[1] W. von Meding, “The Temple”, The New International Dictionary of New Testament Theology, vol 3: Pri-Z (ed. C. Brown) (Grand Rapids 1978) 783-784.

[2] W. von Meding, “The Temple”, 787-788; C.L. Meyers, “The Temple”, The Harpercollins Bible Dictionary (ed. P.J. Achtemeier) (New York 1996) 1096-1104.

[3] R.E. Brown, The Gospel according to John (I–XII). Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) XXIX, 116.

[4] “Ngày mười lăm tháng Kít-lêu, năm một trăm bốn mươi lăm, vua cho dựng Đồ ghê tởm hoang tàn trên bàn thờ dâng lễ toàn thiêu và cho lập các bàn thờ trong các thành miền Giuđa chung quanh Giêrusalem” (1 Mcb 1,54).

[5] F.J. Moloney, The Gospel of John (SP 4; Collegeville 1998) 319.

[6] X. G.L.M. Thông, Chú Giải Tin Mừng Gioan Tập 1. Ga 1,1 – 2,22 (Hà Nội 2021) 101.

[9] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 174.