Bản văn và bản dịch sát nghĩa
Hy Lạp |
Việt |
10 Καὶ ἐπηρώτων αὐτὸν οἱ ὄχλοι λέγοντες· τί οὖν
ποιήσωμεν; 11 ἀποκριθεὶς δὲ ἔλεγεν αὐτοῖς· ὁ ἔχων
δύο χιτῶνας μεταδότω τῷ μὴ ἔχοντι, καὶ ὁ ἔχων
βρώματα ὁμοίως ποιείτω. 12 ἦλθον δὲ καὶ τελῶναι βαπτισθῆναι καὶ εἶπαν πρὸς αὐτόν· διδάσκαλε,
τί ποιήσωμεν; 13 ὁ δὲ εἶπεν πρὸς αὐτούς· μηδὲν πλέον παρὰ τὸ διατεταγμένον ὑμῖν πράσσετε. 14ἐπηρώτων δὲ αὐτὸν καὶ στρατευόμενοι λέγοντες· τί
ποιήσωμεν καὶ ἡμεῖς; καὶ εἶπεν αὐτοῖς· μηδένα
διασείσητε μηδὲ συκοφαντήσητε καὶ ἀρκεῖσθε τοῖς ὀψωνίοις ὑμῶν. 15 Προσδοκῶντος δὲ τοῦ λαοῦ καὶ διαλογιζομένων πάντων
ἐν ταῖς καρδίαις αὐτῶν περὶ τοῦ Ἰωάννου, μήποτε αὐτὸς
εἴη ὁ χριστός, 16 ἀπεκρίνατο λέγων πᾶσιν ὁ Ἰωάννης· ἐγὼ μὲν ὕδατι
βαπτίζω ὑμᾶς· ἔρχεται δὲ ὁ ἰσχυρότερός μου,
οὗ οὐκ εἰμὶ ἱκανὸς λῦσαι τὸν ἱμάντα τῶν ὑποδημάτων αὐτοῦ· αὐτὸς ὑμᾶς βαπτίσει ἐν πνεύματι ἁγίῳ καὶ πυρί· 17 οὗ τὸ πτύον ἐν τῇ χειρὶ αὐτοῦ διακαθᾶραι τὴν ἅλωνα αὐτοῦ καὶ συναγαγεῖν τὸν σῖτον εἰς τὴν ἀποθήκην αὐτοῦ, τὸ δὲ ἄχυρον κατακαύσει πυρὶ ἀσβέστῳ. 18Πολλὰ μὲν οὖν καὶ ἕτερα παρακαλῶν εὐηγγελίζετο τὸν λαόν. (Lk 3:10-18 BGT) |
10
Và đám đông hỏi ông, nói rằng: “Còn chúng tôi phải làm gì? 11
Để trả lời, ông nói cùng họ: “Ai có hai áo, hãy chia
sẻ cho người không có, và ai có thức ăn cũng hãy làm tương tự. 12
Và những người thu thuế đến để chịu Phép Rửa và họ nói cùng ông: “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?” 13
Ông nói cùng họ: “Đừng thu cho mình nhiều hơn những
gì đã được ấn định”. 14
Những quân nhân cũng hỏi ông và nói rằng: “Còn
chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?” Và ông ta
nói cùng họ: “Đừng tống tiền ai cũng đừng lừa gạt ai, hãy bằng
lòng với đồng lương của mình. 15
Khi dân đang trông chờ và tất cả tự hỏi về ông
Gioan, liệu có phải ông là Đấng Kitô? 16
Để trả lời, Gioan nói cùng tất cả: “Tôi rửa anh chị
em bằng nước, nhưng Đấng quyền năng hơn tôi đang
đến, tôi không xứng cởi quai dép của người, Người sẽ
rửa anh chị em trong Thánh Linh và lửa 17
Cái nia trong tay Người để rê lúa đã tuốt của
Người và để thu gom lúa vào kho của Người, còn
trấu Người đốt đi với
lửa không hề tắt. 18
Ông còn khuyến khích nhiều điều khác, và cứ rao giảng tin mừng cho dân. |
Bối Cảnh:
Đoạn Lc 3,10-18
như là một minh họa cụ thể cho sứ vụ rao giảng Phép Rửa của sự hoán cải được giới
thiệu trong Lc 3,1-6. Trong Lc 3,3-5, tác giả đã giới thiệu Gioan như là một vị
ngôn sứ thời cánh chung. Ông được Chúa mời gọi với sứ mạng là rao giảng và làm
Phép Rửa của lòng hoán cải. Ơn gọi của ông đã được tiền báo trong sách ngôn sứ
Isaiah (Is 40,3-5) như là một tiếng người hô vang, kêu gọi người ta chuẩn bị một
con đường cho Chúa và làm thẳng thắn lối đi của Người. Đoạn Lc 3,10-18 kể về cảnh
ông đang làm Phép Rửa ở sông Giorđan và những phản ứng cụ thể của những nhóm
người cụ thể. Đây là những nhóm người muốn khởi đầu tiến trình hoán cải bằng những
hành động cụ thể. Gioan chỉ cho từng nhóm người, tầng môi trường làm việc một
chỉ dẫn cụ thể. Đoạn văn này cũng giải đáp thắc mắc trong lòng dân chúng về căn
tính của chính Gioan. Qua đó, ông giới thiệu cho mọi người Đấng Kitô và sứ vụ của
Người. Chủ đề Phép Rửa nối kết chặt chẽ với đoạn trước Lc 3,3-5, nói về Phép Rửa
của lòng hoán cải để được ơn tha thứ. Nhân vật những người thu thuế đến với
Gioan, báo trước những người thu thuế gần gũi với Đức Giêsu trong Tin Mừng Luca
(Lc 5,27.29.30; 7,29.34; 15,1; 18,13; 19,2) và Tin Mừng khác (Mt 21,31-32).
Phép Rửa trong Thánh Linh nhắc nhớ đến biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống trong
ngày Lễ Ngũ Tuần (Cv 2,1-4), đồng thời cũng nhắc đến tác động của Thánh Linh
trên cuộc đời của Đức Kitô và các môn đệ. Hình ảnh “lửa không hề tắt” như hình
phạt chung cuộc được lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng Nhất Lãm. Hình ảnh “lửa”
trong phép rửa bằng “lửa” liên tưởng đến việc Đức Giêsu ném lửa vào mặt đất (Lc
12,49). Cuối cùng, hành động “rao giảng tin mừng” của Gioan phản ánh sứ vụ của
Đức Giêsu và các môn đệ.
Cấu Trúc
(I) Lộ trình hoán cải: Đám đông; những người thu thuế;
quân nhân (3,10-14) Đám đông:
Chia cơm & sẻ áo (3,10-11) Những người thu thuế: Đừng thu nhiều hơn
số đã được ấn định (3,12-13) Những quân nhân: “Đừng tống tiền, đừng lừa
gạt ai, bằng lòng với đồng lương (3,14) (II) Phân biệt giữa Gioan và Đấng Kitô (3,15-18) Gioan: Rửa bằng nước Đấng Kitô: Quyền năng hơn Gioan: Không xứng cởi quai dép của Đấng Kitô Đấng Kitô: Rửa trong Thánh Linh và lửa Đấng Kitô:Rê lúa Thu gom lúa vào kho Đốt trấu bằng lửa không hề tắt Kết:
Ông còn khuyến khích nhiều điều khác, và cứ rao giảng tin mừng cho dân (3,18). |
Một số điểm chú giải
1. Đám
đông (οἱ ὄχλοι): Từ ngữ “đám đông” (số nhiều) được nhắc dến
trước đó: “Những đám đông đến với ông để được ông làm phép dìm” (3,7). Ông đã
nói cùng những đám đông này là “hãy sinh trái đi kèm với lòng hoán cải, và đừng
bắt đầu nói rằng chúng tôi có cha chúng tôi là Áp-ra-ham”. Sự liên hệ giữa
Áp-ra-ham và những đám đông này cho thấy họ là những người Do Thái. Từ ngữ “những
đám đông” hỏi Gioan: “Vậy thì, chúng tôi phải làm gì?” (3,10) có mạo từ xác định
dường như muốn lặp lại đám đông trước đó. Có thể hiểu đám đông trước đó được mời
gọi “sinh hoa trái đi kèm với lòng hoán cải” giờ đây họ muốn biết cụ thể hoa
trái mà họ phải sinh là những gì. Câu hỏi “chúng tôi phải làm gì?” được lặp lại 3 lần cho bởi cả ba nhóm người,
biểu hiện một ý muốn bắt đầu những hành động hoán cải thật sự kéo theo hành động
dìm trong nước. Điều này là biểu hiện cụ thể của hình ảnh tượng trưng, trong lời
mời gọi tiên khởi trích từ sách ngôn sứ Isaiah: “Hãy chuẩn bị con đường cho
Chúa, làm cho thẳng lối đi của Người; Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy và mọi đồi núi sẽ được san bằng, những điều
quanh co trở nên thẳng tắp, những điều gồ ghề thành đường trơn tru” (Is
40,3-5; Lc 3,3-5). Đó là hành trình hoán cải, thay đổi trí lòng theo lời mời gọi
của Gioan.
2. Hai
áo … thức ăn: “Cơm ăn và áo mặc” là hai nhu cầu căn bản của con người.
Gioan mời gọi những đám đông quan tâm đến nhu cầu căn bản của những người khác.
Đây là hai hình ảnh tượng trưng cho tất cả những nhu cầu căn bản của con người.
3. Hãy
chia sẻ … hãy làm tương tự: Những hành động cần thiết nhất trong tiến trình
“hoán cải” là “chia sẻ”. Chia sẻ là một biểu hiện cụ thể của một người có tình
yêu, sự quan tâm, nhạy cảm với nhu cầu của anh chị em bên cạnh mình và quảng đại
cho đi. “Ai có hai áo thì chia sẻ cho người không có.” “Người hoán cải” được mời
gọi nhìn thấy, nhận biết ai không có áo để chia sẻ cho họ. Họ cũng được mời gọi
nhìn thấy cảm thương với những ai không có thức ăn, đang đói kém để rồi quảng đại
chia sẻ với họ những gì mình có. Thật ngạc nhiên khi Gioan không mời gọi dâng lễ
vật đền tội hay một thực hành khổ hạnh như mặc áo nhặm, rắc tro lên đầu, hay đi
vào sa mạc như chính lối sống của ông. Điều Gioan muốn nhấn mạnh ở đây là thay
đổi về luân lý và quan tâm đến nhu cầu của người khác.[1] Điều này phù hợp với lời dạy
của Đức Giêsu về điều răn tối cao trong toàn bộ Lề Luật: “Yêu thương người thân
cận như chính mình” (Lv 19,18; Mt 22,39; Mc 12,31.33).[2] Điều này cũng phù hợp với
giáo huấn của Đức Giêsu được Luca ghi lại: “Ai đoạt áo ngoài của anh thì cũng đừng
cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh thì đừng ngoảnh
mặt đi” (Lc 6,29b-30). Đức Giêsu cũng quan tâm đến cái đói của những đám đông
theo Người và đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để cho họ ăn no nê (Lc 9,10-17;
Mt 14,13-21; Mc 6,34-44). Đức Giêsu khuyên một thủ lãnh giàu có “hãy đi bán tất
cả những gì anh có mà phân phát cho người nghèo, và ông sẽ được một kho tàng
trên trời” (Lc 18,22). Đức Giêsu của Luca cũng dạy “hãy bán tài sản của mình đi
mà làm phúc bố thí” (Lc 12,33). Luca cũng là tác giả duy nhất ghi lại tiến
trình hoán cải tuyệt vời của Giakêu, thủ lãnh những người thu thuế, trong đó
Giakêu đã dâng phân nửa tài sản của mình cho người nghèo (Lc 19,1-10). Hơn nữa,
sách Công Vụ (tác giả Luca) ghi lại một cộng đoàn huynh đệ chia sẻ với nhau,
để rồi không ai trong cộng đoàn thiếu thốn điều gì vì tất cả những người có ruộng
đất, nhà cửa đều bán đi, lấy tiền và đem đặt dưới chân các Tông Đồ, tiền ấy được
phân phát cho mỗi người” (Cv 4,34-35). Đó quả là một lý tưởng tuyệt vời về sự
hoán cải, một sự hoán cải bằng tình yêu và quan tâm dành cho nhau, để làm nên một
cộng đồng hoán cải chứ không phải một mình ai. Lời mời gọi chia cơm sẻ áo nào
là tiêu chuẩn chính yếu mà vua Giêsu sẽ áp dụng để quyết định cấp visa cho công
dân Nước Trời vĩnh viễn: “Khi ta đói các ngươi cho ăn, khi Ta khát các ngươi đã
cho uống; Ta trần truồng các ngươi đã cho mặc…” (x. Mt 25,31-46).
Trong bối cảnh của dụ ngôn nói vê ngày phán xét của Mátthêu vừa đề cập, một khía cạnh nữa mà chúng ta có thể nói trong lời khuyên này của Gioan Tẩy Giả. Đó là khía cạnh tội lỗi thiếu xót. Tội lỗi thiếu xót là khi một người biết điều tốt mà không làm. Trong “Kinh Thú Nhận” hối nhân thú nhận cả “những điều thiếu xót” (“tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng lời nói, việc làm, và những điều thiếu xót”). Thánh Giacôbê nói rằng: “Kẻ nào biết làm điều tốt mà không làm thì mắc tội” (Gc 4,17). ). Giacôbê cũng nói thêm rằng: “Nếu ai trong anh em nói với những người anh chi em không có cơm ăn áo mặc là hãy đi bình an, ăn cho no, mặc cho ấm mà chẳng cho họ những thứ thân xác họ đang cần thì chẳng có ích gì” (Gc 2,16). Thánh Gioan thì nói rằng: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu mà chẳng động lòng thương thì làm sao tình thương Thiên Chúa ở lại trong người ấy được” (1 Ga 3,17). Thiếu vắng tình yêu với tha nhân, thể hiện bằng việc thiếu sẻ chia, là thiếu vắng tình yêu Thiên Chúa. Theo như vị quan tòa trong du ngôn ngày phán xét của Mátthêu 25,31-46, sự thiếu vắng ấy khiến người ta bị loại ra khỏi Nước Thiên Chúa và chịu cực hình muôn kiếp.
4. Những người thu thuế:[3] Nhóm người thứ hai có lòng háo hức bắt đầu tiến trình hoán cải là những người thu thuế. Đây là nhóm người làm việc cho đế quốc Rôma thời bấy giờ.[4] Họ không được lòng dân chúng nói chung và đặc biệt là những người lãnh đạo Do Thái.[5] Chính vì thế, không ngạc nhiên khi họ thường được xếp chung với những người tội lỗi: “Có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến cùng ăn với Người và các môn đệ” (Mt 9,10.11; Mc 2,15.16); “Đây là tên ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Mt 11,19; Lc 7,34); “Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi” (Lc 5,30); “Những người thu thuế và những người tội lỗi đều lui tới nghe Đức Giêsu giảng” (Lc 15,1). Đức Giêsu cũng không đánh giá cao nhân đức của những người thu thuế. Trong bài giảng về sửa lỗi huynh đệ, Đức Giêsu đã nói: “Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế” (Mt 18,17). Đức Giêsu ví những người chỉ yêu thương kẻ yêu thương anh ta thì chẳng hơn gì những người thu thuế, vì những người thu thuế cũng làm thế (Mt 5,46). Tuy nhiên, Đức Giêsu lại rất quan tâm đến những người thu thuế. Người xem họ như bạn hữu, thường lui tới ăn uống qua lạ với họ (Mt 9,10-11). Người không ngần ngại gọi Mátthêu, một người thu thuế làm môn đệ (M 9,9; 10,3; Mc 2,14). Người tuyên bố khả năng vào Nước Trời của họ còn cao hơn cả các Thượng Tế và các kỳ mục: “Tôi bảo thật các ông: Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21,31-32). Như đã nói, trên Luca là tác giả duy nhất đã ghi lại câu chuyện hoán cải của vị thủ lãnh của những người thu thuế Gia-kêu (Lc 19,1-10). Ông cũng kể lại cho độc giả nghe dụ ngôn nổi tiếng về sự tha thứ của người cha (15,11-32) nhân dịp người ta phàn nàn về việc những người tội lỗi và thu thuế thường đến với Người. Trong Luca, Đức Giêsu cũng xác nhận rằng khi nghe ông Gioan rao giảng, những người thu thuế đã nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Công Chính và đã chịu Phép Rửa của ông (Lc 7,29). Xác nhận này phù hợp với câu chuyện về những người thu thuế đến chịu phép rửa và hỏi Gioan xem họ phải làm gì (Lc 3,12). Tương tự, Giêsu của Mátthêu chứng nhận rằng “những người thu thuế và những cô gái điếm” tin vào đường công chính mà Gioan chỉ cho họ (Mt 21,32). Luca là tác giả duy nhất đưa sự kiện những người thu thuế đến với Gioan Tẩy giả ngay từ lúc đầu. Đây được xem là cái nhìn xa hơn về viễn ảnh những người tội lỗi, thu thuế đón nhận Tin Mừng của Chúa. Những người thu thuế gọi ông Gioan là “Thầy” (didaskalos). Trong các sách Tin Mừng, danh xưng này chỉ được dùng cho một mình Đức Giêsu mà thôi. Đây là lần duy nhất nó được dùng để gọi Gioan. Dĩ nhiên, đối với những người thu thuế, hay nhiều người Gioan vẫn là một thầy dạy. Thực tế, Gioan cũng có những môn đệ theo mình. Một trong những môn đệ ấy là Tông Đồ Anrê, sau này đã trở thành môn đệ của Đức Giêsu (Ga 1,40).
5. Hơn
những gì đã được ấn định: Đòi hỏi này giả định rằng những người thu thuế
thường thu thêm và bỏ túi riêng cho mình cả những điều không được ấn định. Trên
thực tế, họ có thể thu những khoản thuế thêm để tạo lợi nhuận cho mình.[6] Tránh được điều này những
người thu thuế sẽ biến đổi đời mình theo hai giá trị Tin Mừng mà Đức Giêsu rao
giảng. Thứ nhất, họ có thể thanh thoát với của cải trần thế, không bị tiền bạc
lòng tham làm mờ đi nhân cách. Thứ hai, họ có thể quân bình mối tương quan với
những người đồng hương, thay đổi thái độ cái nhìn của mình với những người dân
cùng khổ. Đó cũng có thể là cách thế tỏ lòng nhân đối với những người đau khổ.
Quả vậy, Đức Giêsu rao giảng một lối sống nghèo giản dị, biết phó thác vào
Thiên Chúa hơn là những của cải trần gian. Kho tàng mà người ta phải vun đắp và
tích trữ là kho tàng trên trời (Mt 6,20; Lc 18,22). Tiên vàn, hãy tìm kiếm Nước
Thiên Chúa trước đã rồi những thứ khác Người sẽ thêm cho (x. Mt 6,33). “Nghèo
khó trong tinh thần” là một mối phúc vì Nước Trời của những ai chấp nhận sự
nghèo khó như thế (Mt 5,3; Lc 6,20). Thật ngạc nhiên là Gioan không khuyên họ bỏ
nghề thu thuế mà chỉ khuyên họ thu đúng số mức đã ấn định. Điều này ngụ ý rằng,
Gioan không khinh chê nghề nghiệp họ đang làm cho bằng khuyên họ trong công việc
mưu sinh ấy, hãy mưu cầu sự công bình và cả bác ái nữa, khi họ không tham lam
và biết nghĩ cho những người mà họ thu thuế.
6. Những
quân nhân: Thật ngạc nhiên là cả những quân nhân cũng đến để được Gioan dìm
trong nước và họ cũng ao ước được hoán cải bằng hành động cụ thể. Theo J.
Fitzmyer đây không phải là lính Rôma, vì vào thời ấy không có quân đoàn nào
đóng ở đất Palestine. Họ có thể được hiểu như là những người đàn ông nhập ngũ
phục vụ tiểu vương Êrodes Antipas.[7] Những đạo quân này được sử gia Josephus ghi nhận
trong Ant. 18.5,1 § 113. Những người Do Thái được miễn quân dịch trong quân đội
Rôma từ thời Julia Kaisar (Josephus Ant.14.10,6 § 204). Tuy nhiên, một vài người
đã phục vụ như lính đánh thuê.[8] Việc quân nhân được liệt
kê vào danh sách những người đến cùng Gioan để chịu Phép Rửa hoán cải, cho thấy
sự đa dạng và rộng rãi trong các thành phần được thông điệp của ông tác động.
7. Tống
tiền … lừa gạt ai …bằng lòng với đồng lương: Trong ba lời khuyên này,
xem ra lời khuyên thứ ba chính là nền tảng cho hai lời khuyên đầu tiên. Một khi
những người lính cảm thấy thỏa mãn, cảm thấy vui với đồng lương của mình, họ sẽ
không tìm cách để làm tiền người khác nữa. Cả hai hành động đầu tiên đều liên
quan đến tiền bạc. Động từ “διασείω[9]”
(diaxeio) có nghĩa là hăm dọa để làm tiền (tống tiền). Động từ thứ hai “συκοφαντέω”[10]
(synkaphanteo) vừa có nghĩa là kết
án sai lầm, vừa có nghĩa là lừa gạt, tống tiền. Động từ này được chính Gia-kêu
sử dụng khi nói rằng: “Nếu tôi có lừa gạt ai thì tôi xin đền gấp bốn” (Lc
19,8). Có lẽ, cám dỗ của những người lính là hay làm tiền người khác để có thêm
thu nhập cho mình. Tuy hai lời khuyên có vẻ khác nhau nhưng cũng hướng đến cùng
một mục đích cho cả những người lính và những người thu thuế. Đó là lòng tham
và gây đau khổ bất công cho người khác. Cả hai động từ đầu tiên dành cho những
quân nhân đều liên quan đến lòng tham, sự bất công và gây đau khổ cho người
khác. F. Bovon – H. Koester cho rằng Luca nhấn mạnh đến lòng tham. Đối với
Luca, gốc gác của tội là lòng tham.[11]
8. Đang
trông chờ: Hình ảnh dân đang trông chờ đưa trình thuật vào trong
dòng lịch sử của dân Ítrael. Qua bao nhiêu thăng trầm bị xâm chiếm bởi nhiều đế
quốc. Họ đã được trở về từ Babylon từ 538. Tuy nhiên, họ vẫn ở dưới sự cai trị
của đế quốc Ba Tư, rồi sau đó đến đế chế Hy Lạp. Thời điểm hiện tại của trình
thuật họ lại đang ở dưới ách đô hộ của đế quốc Rôma. Bối cảnh lịch sử mà Luca
giới thiệu từ đầu chương ba, nhắc nhở độc giả về hoàn cảnh không mấy sáng sủa của
dân. Trong phần trả lời cho câu hỏi “chúng tôi phải làm gì?” của ba thành phần
tiêu biểu của dân, đặc biệt là cho nhóm những người thu thuế và những quân nhân,
cũng có thấy phần nào bức tranh xã hội ảm đạm, nơi đó thiếu sự chia sẻ cơm áo.
Trong xã hội đó còn những thành phần tham lam, gây đau khổ cho chính đồng bào
mình để tìm lợi ích kinh tế cho mình. Trong hoàn cảnh ấy, người ta càng mong mỏi
hơn về một Đấng Mêsiah thời cánh chung, Đấng mang lại cho họ một cuộc sống bình
an, thịnh vượng, hạnh phúc, ấm no thật sự.
9. Đấng
Kitô: Khởi đầu Gioan được giới thiệu như là một ngôn sứ thời cánh chung, một
tiếng người hô trong hoang địa (3,3-5). Sau đó, những người thu thuế xem ông
như là một thầy dạy (3,12). Trong lòng dân chúng tự hỏi biết đâu ông cũng chính
là Đấng Kitô mà họ đang mong đợi. Đấng Kitô (Khristos) trong tiếng Hy Lạp, có gốc
trong tiếng Do Thái là (Masiah), có nghĩa là “người được xức dầu”. Trong truyền
thống Cựu Ước, danh xưng này không có một nghĩa duy nhất, nhưng nó dùng để diễn
tả nhiều loại người khác nhau được Chúa xức dầu. Nó thường được dùng cho vua Ítrael
(Saul, Đavid, hậu duệ của Đavid), nhưng thỉnh thoảng nó cũng được dùng cho những
người khác (Thượng Tế, thậm chí Cyrus, vua Ba Tư). Tuy nhiên, trong những thế kỷ
cuối cùng tiền Kitô giáo của Do Thái Giáo, đã xuất hiện một niềm mong chờ Đấng
Mêsiah, một vị vua thuộc dòng Đavid, hay là một Đấng được xức dầu do Chúa gửi đến
nhằm phục hồi vương quốc Ítrael. Vào thời Đức Giêsu, danh xưng Mêsiah có thể diễn
tả một Đấng được xức dầu, được mong đợi do Chúa gửi đến trong truyền thống Đavid, vua hay chính trị nhằm phục hồi Ítrael
hay bày tỏ vinh quang và triều đại Thiên Chúa.[12]
10. Bằng
nước … trong Thánh Linh và lửa: Thắc mắc trong lòng dân chúng chính là cơ hội
để cho Gioan bày tỏ căn tính của mình và giới thiệu về Đấng Kitô. Có hai hình
thức Gioan phân biệt giữa ông và Đấng Kitô. Thứ nhất, về vị thế. Đấng Kitô dù đến
sau, nhưng quyền năng hơn ông. Khoảng cách giữa vị thế của ông và của Đấng Kitô
được ông mô tả bằng hình ảnh “không xứng đáng cởi quai dép cho”. Cởi quai dép
là hành động của một người nô lệ, tôi tớ dành cho ông chủ của mình.[13] Gioan ngụ ý rằng, Gioan
không xứng đáng làm tôi tớ của của Đấng Kitô. Dân chúng nghĩ ông là Đấng Kitô,
nhưng người mà dân chúng thấy vẫn chưa xứng đáng là tôi tớ của Đấng Kitô. Điều
Gioan cảm nghiệm có thể là sự thật nếu so sánh giữa ông và Đức Giêsu. Tuy vậy,
nó vẫn cho thấy một sự khiêm hạ đúng mực của vị ngôn sứ tiền hô của Chúa. Đức Giêsu
cũng dành cho Gioan một sự tôn trọng không kém khi nói rằng: “Trong số những
người phàm đã lọt lòng mẹ, không hề có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả” (Lc
7,28; Mt 11,11). Ngoài ra, Đức Giêsu còn nhìn nhận Gioan là một vị ngôn sứ, mà
còn hơn cả ngôn sứ nữa (x. Lc 7,26).
Thứ hai, điểm
phân biệt chính yếu giữa Gioan và Đấng Kitô là Phép Rửa. Trong khi Gioan rửa bằng
nước, hay dìm người ta trong nước, Đấng Kitô rửa người ta trong Thánh Linh và lửa.
Máccô chỉ nói đến Phép Rửa trong Thánh Linh, trong khi cả Mátthêu và Luca thêm
vào “lửa” (x. Mt 3,11; Mc 1,8). Cả hai hình ảnh lửa và Thánh Linh đều bao hàm một
cuộc thanh tẩy cánh chung mà những hối nhân phải trải qua bởi lối sống vô luân
và thiếu vắng Chúa.[14] Phép Rửa bằng cách dìm
trong nước của ông Gioan tại sông Giorđan có rất nhiều gia trị biểu tượng. Trước
hết, dòng sông Giorđan là nơi mà dân Ítrael đã băng qua để tiến vào đất Canaan.
Trước khi băng quan sông Giorđan, họ cũng đã băng qua nước Biển Sậy ráo chân
(Xh 14). Nước cũng chính là hình ảnh thanh tẩy và hủy diệt những con người tội
lỗi và cứu sống gia đình công chính của ông Nô-ê trong câu chuyện Lụt Hồng Thủy
(St 6 – 9). Gioan đang chuẩn bị cho một dân mới băng qua sông Giorđan đi về miền
đất hứa mới. Tuy nhiên, Phép Rửa trong nước phải dẫn đến phép rửa trong Thánh
Linh và lửa. Hình ảnh lửa được nhắc đến cả phía trước và phía sau đoạn này như
là một phương tiện trừng phạt. Trước đó, Gioan nói rằng “cây rìu đã đặt sát gốc
cây, cây nào không sinh trái tốt sẽ bị chặt đi và quăng vào lửa” (3,9). Sau đó,
Gioan nói rằng Đấng Kitô sẽ đốt vỏ trấu với lửa không hề tắt (3,17). Xem ra,
“Phép Rửa trong lửa” không tránh khỏi cách hiểu như là một sự phán xét và trừng
phạt.[15] Trong các tác giả Tin Mừng
Nhất Lãm, Mátthêu nhiều lần dùng hình ảnh “lửa” để diễn tả hình phạt cánh chung
(“Ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì sẽ bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” [5,22];
“Cây nào không sinh quả tốt thì bị chặt đi và quăng vào lửa” [7,19]). Tuy
nhiên, lửa cũng có ý nghĩa thanh luyện và thanh tẩy con người. Ngôn sứ Malakhi
nói đến Chúa đến trong thời cánh chung. Người như lửa luyện kim và như thuốc tẩy
của thợ giặt (Ml 3,2). Ngôn sứ Dacaria nói đến việc Chúa cho một phần ba dân
qua lửa, luyện họ như người ta luyện bạc và thử chúng như thử vàng” (Dc 13,9).
Đức Giêsu của Luca cũng nhắc đến lửa thanh luyện và thử thách khi Người nói “Thầy
đã đến ném lửa vào mặt đất và Thầy ước chi lửa ấy đã bùng lên. Thầy còn một Phép
Rửa nữa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”
(Lc 12,49).[16]
J. Fitzmyer cho rằng đây là Phép Rửa bằng lửa mà Đức Giêsu không chỉ tiến hành
cho người khác nhưng chính Người cũng phải trải qua. Đấng là phép rửa với lửa
phải đối diện với thử thách và khủng hoảng mà hình ảnh ấy diễn tả.[17] Phép rửa trong Thánh Linh
đặc biệt được nhấn mạnh trong tác phẩm của Luca. Trong truyền thống Luca – Công
Vụ, Phép Rửa trong Thánh Linh và lửa chắc chắn nhắc nhớ đến biến cố trong ngày
Lễ Ngũ Tuần, trong đó Thánh Linh đã xuất hiện như hình lưỡi lửa đậu trên từng
người (Cv 2,3.19). Ngay sau biến cố Ngũ Tuần, ông Phêrô đã rao giảng và kêu gọi:
“Anh chị em hãy hoán cải, và mỗi người chịu Phép Rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô,
để được ơn tha tội và anh chị em sẽ nhận được ân sủng là Thánh Linh” (Cv 2,38).
Kế đến, trong câu chuyện ông Phêrô làm phép rửa cho gia đình ông Cornêlio,
Thánh Linh đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe ông Phêrô rao giảng
trong nhà ông Cornelio. Cuối cùng, ông đã thốt lên “Những người này đã nhận được
Thánh Linh cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm Phép
Rửa cho họ? Rồi ông truyền làm Phép Rửa cho họ nhân danh Đức Giêsu Kitô.” (Cv
10,47-48). Thêm vào đó, Công Vụ ghi lại sự phân biệt giữa Phép Rửa của Gioan Tẩy
Giả và Phép Rửa nhân danh Đức Giêsu có sự ngự xuống của Thánh Linh (x. Cv
19,1-7). Trong cả hai trường hợp, họ đều chịu Phép Rửa nhân danh Đức Giêsu,
nhưng điều có Thánh Linh ngự xuống trên họ. Khi Đức Giêsu chịu Phép Rửa tại
sông Giorđan, Thánh Linh cũng ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu
(Lc 3,22). Theo lời của Gioan, Đấng đã sai ông đi làm Phép Rửa trong nước đã bảo
ông rằng “ngươi thấy Thánh Linh đi xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là
Đấng làm Phép Rửa trong Thánh Linh” (Ga 1,33). Rửa trong Thánh Linh hẳn là được
Thánh Linh ngự xuống, ở lại, thánh hóa, biến đổi, và hướng dẫn mọi hành vi của
người được thanh tẩy. Chính Đức Giêsu sau khi chịu Phép Rửa, được đầy tràn
Thánh Linh từ sông Giorđan trở về, đã được Thánh Linh dẫn đi trong sa mạc, chịu
quỷ cám dỗ (Lc 4,1-2). Dường như Đức Giêsu cũng trải qua sự thanh tẩy của dân Ítrael
trong hoang địa và của Ađam trong vườn Êđen. Cuộc thanh luyện, sự thử thách về
lòng trung thành và vâng phục của Đức Giêsu lên đến cao điểm và hoàn tất trong
cuộc Thương Khó của Người. Theo thánh Phaolô, các tín hữu được “tẩy rửa, được
thánh hóa, được nên công chính, nhờ danh Đức Giêsu Kitô và nhờ Thánh Linh của
Thiên Chúa chúng ta” (1 Cr 6,11). Sứ vụ làm Phép Rửa trong Thánh Linh được Đức Giêsu
hứa trao cho các môn đệ trước biến cố Ngũ Tuần: “Gioan làm Phép Rửa với nước,
nhưng trong vài ngày nữa anh em sẽ chịu Phép Rửa trong Thánh Linh” (Cv 1,5;
11,16).
11. Rê
lúa đã tuốt … để thu gom lúa … đốt đi với lửa không hề tắt: Đây là những
hình ảnh diễn tả những hành động của Đấng Mêsiah trong thời cánh chung.[18] Hình ảnh này liên hệ chặt
chẽ với hình ảnh “cây rìu đã kề sát gốc cây, bất kỳ cây nào không sinh hoa trái
tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Lc 3,9). Mátthêu có nhiều dụ ngôn diễn tả
hình ảnh cuộc phán xét tương tự. Trong dụ ngôn cỏ lùng và lúa, đến ngày mùa ông
chủ sẽ cho gom cỏ lùng lại bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì thu vào kho (x.
Mt 13,30). Đức Giêsu giải thích dụ ngôn cỏ lùng và kết luận “người ta nhặt lấy
cỏ lùng và lấy lửa đốt đi thế nào, thì ngày tận thế cũng xảy ra như vậy” (Mt 13,40).
Trong dụ ngôn chiếc lưới thả xuống biển. Sau khi lưới kéo lên được cả cá xấu lẫn
cá tốt, người ta nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Đức Giêsu
kết luận rằng “ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện
và tách biệt người xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính rồi quăng chúng vào lửa”
(x. Mt 13,49-50). Dĩ nhiên, điểm tập trung là ở lúa tốt được thu vào chứ không
phải là “lúa lép” bị đốt đi. Thiên Chúa luôn mong ước tất cả đều là lúa tốt và
được đưa vào “kho”.[19] Tuy nhiên, thực tế, vẫn
có những vỏ trấu bị thải ra và đốt đi. Đó là chọn lựa tự do của mỗi người.
12. Cứ
rao giảng tin mừng: Động từ rao giảng tin mừng (tin vui) (euangelizesthai)
được dùng ở thì chưa hoàn thành, diễn tả một hành động lặp lại liên tục hoặc
kéo dài. Tuy nhiên, vì nội dung tin vui thì không được đề cập đến nên có nhiều
cách hiểu khác nhau. M.D. Hamm cho rằng Luca kết với câu tóm tắt về việc Gioan
rao giảng Tin Mừng nghe có vẻ kỳ quặc. Ông đề nghị cách hiểu Tin Mừng trong bối
cảnh này là sau khi đã đốn hạ những cây không có trái tốt và đốt đi những vỏ trấu
vô ích, sau tất cả, những hình ảnh của công lý Thiên Chúa, Tin Mừng của Chúa
làm cho thời kỳ lưu đày kết thúc, cuộc trở về đất hứa mới, tất cả xác phàm thấy
ơn cứu độ của Chúa. Tuy nhiên, tiến trình giải thoát này vẫn cần sinh những hoa
trái của lòng hoán cải, đáp ứng nhu cầu của cơ bản (cơm ăn áo mặc) của con người,
xóa sạch những bất công, lạm dụng quyền lực trong xã hội.[20] L. Johnson đơn giản cho rằng
vì Gioan là một vị ngôn sứ trong dân nên thông điệp của ông có giá trị Tin Mừng.[21] Theo J. Green, động từ
“rao giảng tin vui” là một lối diễn tả Luca dung để mô tả Gioan như là sứ giả
vui được Isaiah nói đến. Nó bao gồm tiếng hô trong sa mạc đã được trích lại
trong Lc 3,3-5. Is 52,7 nói đến nét đẹp của bước chân sứ giả mang tin vui, công
bố sự bình an, loan báo ơn cứu độ, người nói với Sion rằng “Chúa của ngươi hiện
trị”.[22] J. Fitzmyer cho rằng động
từ này chỉ nên hiểu là rao giảng chứ không có nghĩa là “rao giảng tin mừng.”
Trong bối cảnh này, Gioan được mô tả như người cổ vũ, dùng nhiều lời khích lệ
và giảng cho dân.[23] Nếu đọc Tin Mừng Mátthêu,
độc giả sẽ thấy thông điệp Tin Mừng mà Gioan rao giảng giống y chang như là
thông điệp của Đức Giêsu: “Ông Gioan Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền
Giuđê rằng: “Anh chị em hãy hoán cải vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,1)// “Lúc ấy
Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: ‘Anh chị em hãy hoán cải, vì Nước Trời đã đến
gần’” (Mt 4,17). Trong bối cảnh của Lc 3,1-20, tin mừng mà Gioan rao giảng rất
có thể là những chỉ dẫn cho hành trình hoán cải như ông đã trình bày cho ba
nhóm người (đám đông, những người thu thuế và các quân nhân) và cũng có thể là những
thông tin về Đấng Mêsiah.
Bình luận tổng quát
Sau khi giới
thiệu Gioan như là vị ngôn sứ được mời gọi rao giảng Phép Rửa của lòng hoán cải
để được ơn tha thứ (3,3), Luca giờ đây mô tả những hoạt động và lời giảng cụ thể
trong sứ vụ của Gioan. Nhiều đám đông đến với ông để xin ông làm Phép Rửa. Ông
khuyên những người đồng hương Do Thái phải sinh hoa trái xứng với lòng hoán cải
(3,8). Ông cũng cảnh báo họ về số phận nghiệt ngã của những cây không sinh quả
tốt: “Bị đốn ngã và quăng vào lửa” (3,9). Trong bối cảnh đó cuộc đối thoại giữa
vị Tẩy Giả và những hoán cải nhân được diễn ra. Họ muốn sinh “hoa trái tốt” để
khỏi bị “đốn ngã và quăng vào lửa”. Đây là dữ liệu riêng của Luca. Cả Máccô lẫn
Mátthêu đều không có phần đối thoại đặc biệt này. Luca mô tả ba nhóm người, có
lẽ tượng trưng cho tất cả các thành phần trong xã hội Do Thái thời bấy giờ. Cả
ba nhóm cũng hỏi chung một câu hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?” (3,10.12.14).
Nhóm đầu tiên
là đám đông, có thể là tượng trưng cho bất cứ ai, thuộc lứa tuổi nào trong xã hội.
Điều cần thiết nhất mà họ phải làm để “sinh hoa trái xứng với lòng hoán cải” là
quan tâm và chia sẻ những nhu cầu cần thiết cho những người chung quanh mình.
Hai hình ảnh “áo” và “lương thực” là hai hình ảnh tượng trưng cho tất cả những
nhu cầu thiết yếu nhất của con người. Muốn làm được những điều này, giả định
người ta phải có trái tim nhạy cảm, đôi mắt xót thương để nhìn thấy và cảm được
sự thiếu thốn của người khác. Hơn nữa, họ cũng giả định phải có lòng quảng đại để
dám chia sẻ những gì mình có. Cái Gioan muốn làm là đánh thức con tim bằng thịt
nơi tất cả mọi người, để ai nấy biết quan tâm chia sẻ với nhau. Lời mời gọi của
Gioan gợi nhớ đến điều răn lớn nhất và đứng đầu trong các điều răn: “Yêu mến
người thân cận như chính mình” (Lv 19,18 Lc 10,25-28). Nó cũng nhắc nhớ đến điều
Chúa ưa chuộng: “Chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không
nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt trước người
cốt nhục” (Is 58,7). Ông Tôbít trong truyền thống Cựu Ước cũng dạy con mình: “Đối
với người nghèo khổ con đừng ngoảnh mặt làm ngơ… tùy có bao nhiêu hãy cho bấy
nhiêu, có nhiều thì cho nhiều, có ít đừng ngại cho ít” (Tb 4,7-8); “Hãy chia
cơm sẻ áo cho người đói rách. Phàm là của dư thừa, con hãy lấy mà bố thí, và mắt
con đừng có so đo trong việc bố thí của con” (Tb 4,16). Chia sẻ với người túng
thiếu là điểm quan trọng trong giáo huấn của Đức Giêsu: “Ai xin thì hãy cho, ai
lấy cái gì của anh thì đừng ngoảnh mặt đi” (Lc 6,29b-30).
Nhóm những người
thu thuế tượng trưng cho những người làm tay sai cho đế quốc, có nguy cơ tham
nhũng, tham lam tiền bạc, đè thêm gánh nặng lên dân nghèo. Việc họ cần làm là
không được thu thêm ngoài những khoản đã được ấn định. Làm được như thế họ có
thể chế ngự được lòng tham của mình. Ngoài ra, họ góp phần tạo ra một xã hội
công bằng, xóa bỏ bất công và làm cho người nghèo bớt khổ.
Nhóm lính tráng
tượng trưng cho những quan chức trong xã hội. Cũng như những người thu thuế, họ
có nguy cơ tham lam và dùng quyền lực để tống tiền người khác. Những hành động
của họ bao hàm cả sự đàn áp, hiếp đáp và thu lợi từ dân nghèo. Nguyên nhân của
những hành động ấy là vì họ không thỏa mãn với đồng lương của mình. Họ được mời
gọi thấy vừa, thấy đủ với đồng lương của mình. Cả hai nhóm lính tráng và những
người thu thuế, đều có chung một nguy cơ xa rời Chúa vì ham mê tiền của. Đức Giêsu
lưu ý rằng “không ai có thể làm tôi hai chủ, hoặc sẽ yêu chủ này mà ghét chủ
kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm
tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16,13; Mt 6,24). Những người có của
thì khó vào Nước Thiên Chúa. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu
có vào Nước Thiên Chúa (Lc 18,24-25; Mt 19,23-26; Mc 10,23-27).
Cả ba thành phần tượng trưng cho
tất cả mọi loại người trong xã hội. Những gì Gioan đề xuất cho từng nhóm người
vừa cụ thể, gần gũi với đời sống thường ngày của từng nhóm, nhưng cũng vừa phổ
quát cho tất cả mọi người. Một xã hội của Đấng Mêsiah là một xã hội của những
con người biết yêu thương, quan tâm, săn sóc lẫn nhau. Thành viên của vương quốc
Đấng Mêsiah là những người biết sống chừng mực, bằng lòng với đồng lương, thu
nhập của mình, cổ vũ công bình, xóa bỏ mọi bất công trong xã hội. Vương quốc của
Đấng Mêsiah sẽ là là vương quốc hòa bình “công lý, lòng nhân, và thành tín” (Mt
23,23). Tất cả mọi người đều được mời gọi theo đuổi những giá trị ấy, thì mới
chứng tỏ họ đang chuẩn bị con đường cho Chúa và làm ngay thẳng lối đi của Người.
Với Phép Rửa và những thông điệp ấy,
dân chúng bắt đầu phân vân về căn tính Mêsiah nơi Gioan. Thế giá của ông làm
cho người ta nghĩ rằng ông chính là Đấng Mêsiah. Tuy nhiên, chính Gioan đã thừa
nhận rằng Đấng Mêsiah quyền thế hơn ông. Khoảng cách quyền năng lớn đến độ ông
không xứng tầm, để làm một đầy tớ cởi quai dép cho Người. Điểm khác biệt lớn là
Phép Rửa của ông và Phép Rửa của Đấng Mêsiah. Phép Rửa trong nước đối lại với
Phép Rửa trong Thánh Linh và lửa. Phép Rửa trong nước mang đến cho người ta một
ý thức về thân phận tội lỗi và cần thiết phải hoán cải để được ơn tha thứ. Tác
động của Thánh Linh và lửa giúp thanh tẩy, thanh luyện trí lòng con người, giúp
họ bước đi trong sự hướng dẫn của Thánh Linh. Lửa thanh tẩy con người khỏi mọi
thói hư tật xấu của xác thịt, Thánh Linh dẫn con người đi trong sự công chính,
thánh thiện của Chúa. Thánh Phaolô nói rằng Đức Kitô đã “cứu chúng ta nhờ Phép
Rửa ban ơn Thánh Linh để chúng ta được tái sinh và đổi mới” (Tt 3,5). Ông
khuyên các tín hữu “phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải
hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, phải để Thánh Linh đổi mới tâm trí và phải
mặc lấy con người mới, là con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để
thật sự sống thánh thiện và công chính” (Ep 4,22-24; cf. Cl 3,10). Chính Đức
Giêsu cũng được Thánh Linh dẫn di trong hoang địa để trải qua cơn cám dỗ trong
sa mạc của dân thánh và Người cũng chịu Phép Rửa bằng lửa thử thách, thanh tẩy
nơi cuộc Vượt Qua của Người để học được thế nào là vâng phục và trung tín (x.
Dt 5,8; Pl 2,8).
Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
[1] J.A. Fitzmyer, The Gospel
according to Luke I–IX. Introduction, translation, and notes
(AnB; New Haven – London 2008) XXVIII, 469.
[2] F. Bovon – H. Koester,
Luke 1. A commentary
on the Gospel of Luke 1:1–9:50 (Hermeneia; Minneapolis) 125.
[3] “In areas subject to Roman prefects and
procurators (Judea, Samaria, Idumea) the direct taxes (poll tax, land tax) were
taken up by “tax-collectors” (Greek dēmosiōnes
[a word never used in the NT]; Hebrew gabbāʾîm),
directly employed by the Roman occupiers. The collection of other taxes (tolls,
tariffs, imposts, and customs) was auctioned off to the highest bidder, who
became the “chief toll-collector” (architelōnēs,
Luke 19:2) and had agents (Greek telōnai;
Hebrew môkĕsîn), usually employed in
local tollhouses” (Ibid.).
[4] Ibid.
[5] L.T. Johnson, The
Gospel of Luke (SP3; Collegeville 2005) 65.
[6] A.J. Saldarini, “Publicans”,
the HarperCollins Bible Dictionary (ed. P.L. Achtemeier) (New York 1996)
900.
[7] “These will not be gentile
soldiers. They could be Jewish mercenaries, or Jewish men enlisted in the
service of Herod Antipas, but it is perhaps best (with Lagrange, 110) to be
guided by the association with tax collectors and to think in terms of police
assigned to protect tax collectors. These police would then belong in the same
corrupt social context as the tax collectors.” (J. Nolland, Luke 1:1-9:20 (WBC; Dallas 2002)
XXXVA, 150).
[8] J.A. Fitzmyer, The Gospel
according to Luke I–IX, 470.
[9] M.
Zerwick– M. Grosvenor, A grammatical
analysis of the Greek New Testament (Rome 1974) 183.
[10] Ibid.
[11] F. Bovon – H. Koester,
Luke 1. A commentary
on the Gospel of Luke 1:1–9:50 (Hermeneia; Minneapolis) 125.
[12] J.A. Fitzmyer, The Gospel
according to Luke I–IX, 198; xem thêm về “Đấng Kitô” trong J.P.D. Thạch,
“Khởi Đầu Tin Vui của Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa”, [LỜI
BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI ῥήματα ζωῆς αἰωνίου: KHỞI ĐẦU TIN VUI CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ
CON THIÊN CHÚA (josephpham-horizon.blogspot.com)].
[13] J. Nolland, Luke
1:1-9:20, 151.
[14] J. Nolland, Luke
1:1-9:20, 155.
[15] M.D. Hamm, “Luke”, The
Paulist Biblical Commentary (Ed. R.J. Clifford et al.) (New York 2018)
1045.
[16] J. Nolland, Luke
1:1-9:20, 708.
[17] J.A. Fitzmyer, The Gospel
according to Luke I–IX, 995.
[18] “It is used here as an eschatological image of the sorting out of human
beings according to their worth, to be accomplished by him who is the more
powerful one” (J.A. Fitzmyer, The Gospel
according to Luke I–IX, 474).
[19] J. Nolland, Luke
1:1-9:20, 155.
[20] M.D. Hamm, “Luke”, The
Paulist Biblical Commentary, 1046.
[21] L.T. Johnson, The
Gospel of Luke (SP3; Collegeville 2005) 66.
[22] J.B. Green, The Gospel of
Luke (NICNT; Grand Rapids, 1997) 183.
[23] J.A. Fitzmyer, The Gospel
according to Luke I–IX, 475.
No comments:
Post a Comment