Thursday, 10 November 2022

"HÃY CỨU LẤY LINH HỒN ANH EM!" Chú Giải Tin Mừng CN XXXIII TN C (Lc 21,5-19); Lm. Jos. Ph.D. Thạch, SVD

 Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

5 Καί τινων λεγόντων περὶ τοῦ ἱεροῦ ὅτι λίθοις καλοῖς καὶ ἀναθήμασιν κεκόσμηται εἶπεν·

 6 ταῦτα ἃ θεωρεῖτε ἐλεύσονται ἡμέραι ἐν αἷς οὐκ ἀφεθήσεται λίθος ἐπὶ λίθῳ ὃς οὐ καταλυθήσεται.

 7  Ἐπηρώτησαν δὲ αὐτὸν λέγοντες· διδάσκαλε, πότε οὖν ταῦτα ἔσται καὶ τί τὸ σημεῖον ὅταν μέλλῃ ταῦτα γίνεσθαι;

 8 ὁ δὲ εἶπεν· βλέπετε μὴ πλανηθῆτε· πολλοὶ γὰρ ἐλεύσονται ἐπὶ τῷ ὀνόματί μου λέγοντες· ἐγώ εἰμι, καί· ὁ καιρὸς ἤγγικεν. μὴ πορευθῆτε ὀπίσω αὐτῶν.

 9 ὅταν δὲ ἀκούσητε πολέμους καὶ ἀκαταστασίας, μὴ πτοηθῆτε· δεῖ γὰρ ταῦτα γενέσθαι πρῶτον, ἀλλ᾽ οὐκ εὐθέως τὸ τέλος.

 10  Τότε ἔλεγεν αὐτοῖς· ἐγερθήσεται ἔθνος ἐπ᾽ ἔθνος καὶ βασιλεία ἐπὶ βασιλείαν,

 11 σεισμοί τε μεγάλοι καὶ κατὰ τόπους λιμοὶ καὶ λοιμοὶ ἔσονται, φόβητρά τε καὶ ἀπ᾽ οὐρανοῦ σημεῖα μεγάλα ἔσται.

 12 Πρὸ δὲ τούτων πάντων ἐπιβαλοῦσιν ἐφ᾽ ὑμᾶς τὰς χεῖρας αὐτῶν καὶ διώξουσιν, παραδιδόντες εἰς τὰς συναγωγὰς καὶ φυλακάς, ἀπαγομένους ἐπὶ βασιλεῖς καὶ ἡγεμόνας ἕνεκεν τοῦ ὀνόματός μου·

 13 ἀποβήσεται ὑμῖν εἰς μαρτύριον.

 14  θέτε οὖν ἐν ταῖς καρδίαις ὑμῶν μὴ προμελετᾶν ἀπολογηθῆναι·

 15 ἐγὼ γὰρ δώσω ὑμῖν στόμα καὶ σοφίαν ᾗ οὐ δυνήσονται ἀντιστῆναι ἢ ἀντειπεῖν ἅπαντες οἱ ἀντικείμενοι ὑμῖν.

 16 παραδοθήσεσθε δὲ καὶ ὑπὸ γονέων καὶ ἀδελφῶν καὶ συγγενῶν καὶ φίλων, καὶ θανατώσουσιν ἐξ ὑμῶν,

 17 καὶ ἔσεσθε μισούμενοι ὑπὸ πάντων διὰ τὸ ὄνομά μου.

 18 καὶ θρὶξ ἐκ τῆς κεφαλῆς ὑμῶν οὐ μὴ ἀπόληται.

 19 ἐν τῇ ὑπομονῇ ὑμῶν κτήσασθε τὰς ψυχὰς ὑμῶν. (Lk. 21:5-19 BGT)

5 Nhân dịp có một vài người đang nói về đền thờ rằng nó được trang hoàng bằng những viên đá tốt và các lễ vật, Đức Giêsu nói:

6 “Những điều mà anh em đang thấy, sẽ đến những ngày mà khi ấy sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, mà không bị phá hủy.”

7 Họ mới hỏi Người: “Thưa Thầy, vậy thì, khi nào chuyện này sẽ đến? Có dấu hiệu nào khi những điều này xảy ra?”

8 Người nói rằng: “Hãy coi chừng, đừng để bị dẫn đi lạc, vì nhiều người sẽ đến nhân danh Thầy, nói rằng: “Chính ta đây” và “thời điểm đã gần kề”. Anh em đừng đi theo họ.

9 Khi nghe những cuộc chiến và những sự hỗn loạn, thì anh em đừng sợ, vì những điều này phải xảy ra trước nhưng sự kết thúc chưa xảy ra ngay đâu.”

10 Rồi Người nói tiếp:  “Nước này sẽ nổi lên chống nước kia.

11 Sẽ có nhiều trận động đất và nhiều nơi có nạn đói và dịch bệnh. Và sẽ có nhiều dấu hiệu vĩ đại và sự kinh hoàng từ trời.

12 Nhưng trước tất cả những điều này, họ sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, trao nộp anh em cho các hội đường và ngục tù. Anh em sẽ bị điệu đến trước vua chúa và quan chức vì danh Thầy.

13 Nó dẫn anh em vào việc làm chứng.

14 Hãy yên chí, anh em không cần chuẩn bị trước để bào chữa như thế nào.

15 Bởi vì chính Thầy sẽ ban cho anh em cái miệng và sự khôn ngoan mà nhờ đó tất cả đối thủ của anh em không thể cưỡng lại hay tranh biện lại nỗi.

16 Anh em sẽ bị cha mẹ, anh em, những người bà con, và bạn hữu, trao nộp và họ sẽ giết chết vài người trong anh em

17 Anh em sẽ trở thành những người bị tất cả ghét bỏ vì danh Thầy.

18 Nhưng một cọng tóc từ đầu anh em cũng không bị mất đâu.

19 Hãy cứu linh hồn anh em bằng sự kiên trì.

Bối cảnh

Lc 21,5-19 là đoạn văn thuộc những bài giảng của Đức Giêsu tại Jêrusalem (Lc 19,28 – 21,38). Sự kiện Đức Giêsu vào thành Jêrusalem cách long trọng được tường thuật lại ở 19,28-46. Đây là một trong những bài giảng mang chủ đề cánh chung: Những sự cuối cùng trong thời cuối cùng, chủ đề trọng yếu trong suốt chương 21 của Tin Mừng thứ ba. Bài giảng này cũng mang âm hưởng văn chương khải huyền, trong đó có thực tế bách hại và những lời cổ vũ, động viên, hứa hẹn, đảm bảo về một điều tốt hơn. Không gian của bài giảng là Jêrusalem và đền thờ, nơi mà Đức Giêsu nhất quyết định đi lên để chịu khổ nạn và chịu chết. Không gian ấy phù hợp để Đức Giêsu báo trước về cuộc bách hại, bách hại cho chính Người và bách hại cho các môn đệ trong tương lai. Mặc khải “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào” của đoạn văn này nối kết chặt chẽ với sự kiện thành Jêrusalem bị bao vây trong đoạn ngay sau đó (Lc 21,20-23) và nhất là với sự khóc thương Đức Giêsu dành cho Jêrusalem khi mới bước đến gần thành (19,41-44). Động từ “tra tay bắt”, “nộp” và “giết” là những động từ nối kết với cuộc Thương Khó của Đức Giêsu. Trước đó, các Kinh Sư và Thượng Tế đã tìm cách tra tay bắt Đức Giêsu nhưng lại sợ dân chúng (Lc 20,19). Chủ đề làm chứng có mối liên hệ chặt chẽ đến lời căn dặn của Đức Giêsu vào cuối Tin Mừng Luca (24,48), đầu sách Công Vụ (Cv 1,8), và sau khi lãnh nhận Thánh Linh, các Tông Đồ đã thi hành sứ vụ ấy cách nhiệt thành. Lời hứa rằng “chính Thầy sẽ ban cho anh em cái miệng và sự khôn ngoan” gợi nhớ đến hoạt động trợ giúp của Thánh Linh trên cuộc đời sứ giả Tin Meng, đặc biệt trong khoảng khắc họ bị thẩm vấn.

Cấu trúc

Bối cảnh (5): Lời khen dành cho đền thờ

SỐ PHẬN ĐỀN THỜ VÀ XUẤT HIỆN NGÔN SỨ GIẢ (6-8)

Báo hiệu:  Sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào

Dấu hiệu: Có nhiều người đến giả danh Thầy

Mệnh lệnh: Hãy coi chừng, đừng để bị dẫn đi lạc, đừng đi theo

NHỮNG TAI ƯƠNG (9-11)

Dấu hiệu: Dưới đất: Những cuộc chiến, thảm họa thiên nhiên và dịch bệnh

Trên trời: Dấu chỉ vĩ đại và kinh hoàng

Động viên: Đừng sợ

NHỮNG BÁCH HẠI (12-17)

Bách hại của người ngoài (12-15)

Tra tay bắt, ngược đãi, trao nộp, dẫn đến … vì danh Thầy

cơ hội làm chứng

Động viên: Cứ yên tâm, đừng lo chuẩn bị phải bào chữa ra sao

Bách hại của người thân (16-17):

Trao nộp và giết chết

Trở thành những người bị tất cả ghét bỏ vì danh Thầy

Động viên: Không mất một cọng tóc

MỆNH LỆNH (19): Hãy cứu lấy linh hồn

Những điểm chú giải

1.      Đền thờ:  Đền thờ Giêrusalem[1] là thánh địa quốc gia, là trung tâm của toàn bộ những sinh hoạt của dân Israel, đặc biệt là những sinh hoạt tôn giáo. Cuộc cải cách của vua Giôsiah (639-609 tCN) đã biến Giêrusalem thành một trung tâm thờ cúng duy nhất, với đền thờ là tâm điểm của nơi Chúa hiện diện.[2] Lịch sử Israel ghi nhận hai thời kỳ biến động và gắn liền với hai đền thờ cùng xây trên một địa điểm duy nhất: Thời kỳ đệ nhất đền thờ và thời kỳ đệ nhị đền thờ. Địa điểm ấy ngày nay chính là nơi tọa lạc của một đền thờ Hồi Giáo, thường được gọi là “Dome of the Rock”. Đền thờ thứ nhất được vua Salomon xây dựng vào năm thứ tư triều đại của ông và hoàn tất bảy năm sau đó. Đền thờ này đã bị đế quốc Babylon phá hủy cùng với thành phố Giêrusalem vào năm 586/7 tCN, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của vương quốc miền Nam (Giuđa), và kéo theo thời kỳ lưu đày nổi tiếng, thường được gọi là “cuộc lưu đày Babylon”. Hoàng đế Cyrus của Ba Tư, cho phép nhóm người lưu đày trở về xây dựng lại đền thờ thứ hai (khoảng năm 520-515 tCN). Đền thờ thứ hai này thường được gọi là Đền Thờ Dơrúbbabel (Er 2,2), vì ông là lãnh đạo chính trị cấp cao khi đền thờ được xây lại. Miền đất Giuđêa lúc bấy giờ chỉ còn là một tỉnh chư hầu của đế quốc Ba Tư. Đền thờ này được vua Hêrôđê cả tái thiết và mở rộng dưới triều đại của ông (37 tCN – 4 sCN), nên cũng được gọi là “đền thờ của vua Hêrôđê”.[3] Đền thờ là một nơi chốn rất được để ý trong Tin Mừng Luca. Có thể nói rằng Tin Mừng mở và kết trong đền thờ. Tin Mừng được khởi đầu bằng cảnh ông Zacaria được truyền tin trong đền thờ (Lc 1,5-25), và kết bằng việc các Tông Đồ tụ họp cầu nguyện trong đền thờ (Lc 24,52-53). Trong suốt trình thuật Giáng Sinh và Thời Thơ Ấu, cũng như thời kỳ rao giảng công khai, tác giả Luca nhiều lần nhắc đến đền thờ.[4] Trong bối cảnh này, một vài môn đệ ngưỡng mộ đền thờ vì vẻ đẹp bề ngoài của nó, cụ thể là những hòn đá đẹp và những lễ vật.[5] Đền thờ được xây bằng đá cẩm thạch trắng và được trang trí bằng vàng. Những chiếc bàn đá cẩm thạch được bố trí để chuẩn bị những con vật hiến tế. Sách 2 Mcb nói đến việc “các vua tôn kính nơi thánh và trọng đãi đền thờ với những đồ dâng cúng rất hậu hĩ” (2 Mcb 3,2). Ngược với lòng ngưỡng mộ của một vài môn đệ, Đức Giêsu công bố ngày tàn của nó.

2.      Không còn hòn đá nào trên hòn đá nào: Đền thờ Jêrusalem bị người Rôma bao vây và Titô cùng lữ đoàn của ông đã phóng hỏa đốt đền thờ vào năm 70 CE. Đây là biến cố lớn làm thay đổi hình thức thờ phượng của Do Thái giáo. Điều Đức Giêsu tiền báo ở đây chắc chắn ám chỉ đến biến cố này. Trong 21,20 nói cụ thể đến biến cố thành Jêrusalem bị quân thù vây hãm và bị phá hủy tan tành. Đây chính là một trong những dấu hiệu rõ nét để các chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng Tin Mừng Luca có thể được soạn thảo sau năm 70 CE. Những “hòn đá đẹp” mà người ta trầm trồ sẽ trở thành đống đổ nát, không còn xếp lên nhau để thành bức tường hay là cột đá nữa. Đó là hình ảnh của sự sụp đổ hoang tàn của đền thờ nguy nga lộng lẫy. Đức Giêsu dùng danh từ “hòn đá” ở số ít “một hòn đá ở trên một hòn đá” (λίθος ἐπὶ λίθῳ) để diễn tả tính tuyệt đối của sự tàn phá. Đây cũng là cụm từ Đức Giêsu dùng để Thương Khóc cho sự sụp đổ của thành Jêrusalem, khi Người mới bước lại gần thành: “Sẽ tới những ngày quân thù đặt những chướng ngại vật quanh ngươi, và bao vây ngươi các phía, san thành bình địa, ngươi và con cái ngươi. Họ sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào” (19,44a). Lý do mà Đức Giêsu đưa ra sự trừng phạt này là vì “ngươi đã không nhận biết thời điểm của cuộc viếng thăm ngươi” (19,44b). Sau khi Thương Khóc thành Jêrusalem, Đức Giêsu bước vào và thanh tẩy đền thờ, vì nó đã bị biến thành “sào huyệt của những tên trộm cướp” (x. 19,45-46).

3.      “Hãy coi chừng, dừng để bị dẫn đi lạc … nhiều người sẽ đến nhân danh Thầy”: Các môn đệ quan tâm đến “thời điểm” (khi nào? “πότε”) và “dấu hiệu” (τὸ σημεῖο) để biết sự việc ấy sẽ xảy ra, nhưng Đức Giêsu lại đưa ra lời cảnh báo: “Hãy coi chừng, đừng để bị dẫn đi lạc”. Có nhiều người sẽ đến nhân danh Người và nói “Tôi là” (ἐγώ εἰμι, ego eimi). “Ego eimi” là mệnh đề đặc biệt để diễn tả căn tính của Thiên Chúa (Xh 3,14; Lc 22,70; 24,39; Mc 6,50; 14,62; Mt 14,27). Có thể đây là cách thức Đức Giêsu gián tiếp từ chối trả lời câu hỏi về thời điểm và dấu hiệu như Người nói rõ trong Cv 1,7: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn, Chúa Cha đã hoàn toàn xếp đặt”. Hơn nữa, Người muốn các môn đệ tập trung vào vấn đề quan trọng hơn: Vấn đề bị người khác dẫn đi lạc. “Nhiều người đến nhân danh” Đức Giêsu có thể là “các ngôn sứ giả” mà Đức Giêsu đã nói đến trong Mt 24,11; hay “Kitô giả và ngôn sứ giả” (Mt 24,24; Mc 13,22). Đức Giêsu cảnh báo các môn đệ “hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến, nhưng bên trong là sói dữ tham mồi” (Mt 7,15). Tác giả thư thứ nhất Gioan nói đến nhân vật “Phản Kitô” vào giờ cuối cùng (1 Ga 2,18) và các “ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4,1-5). Tác giả thư thứ hai Phêrô cũng nói đến sự xuất hiện những ngôn sứ giả trong dân và “những thầy dạy giả hiệu” trong anh em (2 Pr 2,1). Như vậy, các ngôn sứ giả, những người giả hiệu đến nhân danh Đức Giêsu là một vấn nạn lớn cho các môn đệ thời Đức Giêsu và cả các tín hữu sau đó, và có thể cho đến ngày nay.

4.     “Những cuộc chiến …sự hỗn loạn … Nước này sẽ nổi lên chống nước kia”: Đức Giêsu tiền báo về những xung đột giữa con người và các quốc gia trên trái đất này. Cuộc xung đột gần nhất có lẽ là cuộc xung đột giữa đế quốc Rôma và những người Do Thái nổi dậy, dẫn đến việc thành Jêrusalem bị san thành bình địa.[6] Đức Giêsu cho biết đây là những điều phải xảy ra trước. Động từ không ngôi “dei” được đặt trước động từ “xảy đến” nhấn mạnh sự chắc chắn xảy ra của những sự xung đột giữa con người với con người. Sự xuất hiện của ngôn sứ giả, những sự kiện chiến tranh, cùng với những hiện tượng tai ương thiên nhiên sau đó, có thể đóng vai trò như là câu trả lời cho câu hỏi “có dấu hiệu nào khi sự việc sắp xảy đến?” Mệnh đề “nhưng sự kết thúc chưa đến ngay đâu” có thể là câu trả lời cho câu hỏi “khi nào?” của các môn đệ. Nghĩa là chiến tranh, hoảng loạn là những dấu chỉ cho biết là gần đến “những ngày ấy” nhưng  thời điểm của “sự kết thúc”[7] là một dữ liệu bỏ ngõ.

5.     Động đất … nạn đói … dịch bệnh: Sau hàng loạt những sự kiện chiến tranh do chính con người trực tiếp tạo ra là hàng oạt những hiện tượng tạm gọi là “thiên tai” như động đất, đói kém, dịch bệnh. Những hiện tượng này vào thời nào cũng có. Tuy nhiên, ở đây Đức Giêsu lại mặc cho chúng một giá trị cảnh báo về sự xuất hiện của “những ngày ấy”. Không biết Đức Giêsu muốn nhắm đến những hiện tượng cụ thể, hay là Người nói cách chung những hiện tượng thiên nhiên này có thể được xem như là dấu hiệu của “những ngày ấy”, những ngày sau hết. Động đất là hiện tượng được tiền báo sẽ xảy ra trước “Ngày của Chúa” trong sách ngôn sứ Dacaria (Dcr 14,5) và như là một phương tiện trừng phạt của Chúa trong Is 29,6 và Ed 38,19. Nạn đói là biểu tượng thường xuyên diễn tả sự trừng phạt của Chúa (Am 8,11; Is 14,30 51,19; Ed 36,29-30).[8]

6.     Và sẽ có nhiều dấu hiệu vĩ đại và sự kinh hoàng từ trời: Cùng với những thiên tai xảy ra dưới đất là những dấu hiệu trên trời. Sách Macabê, quyển 2, ghi lại những dấu hiệu lạ xuất hiện trên bầu trời Jêrusalem thời vua Antiôkhô chuẩn bị chinh phạt Aicập lần thứ hai: “Suốt bốn mươi ngày thấy xuất hiện những kỵ binh dát vàng chảy trên không trung, những đoàn quân võ trang xếp thành hàng ngũ” (2 Mcb 5,2). Sử gia Josephus mô tả những những điềm báo trên trời trong suốt cuộc bao vây Jêrusalem trong cuộc chiến với Rôma (Jewish War 6:288-300). Ông diễn tả ngôi sao và sao chổi xuất hiện vào lúc đền thờ bị đốt cháy.[9] Có lẽ tác giả Luca có những hình ảnh này trong đầu. Tác giả sẽ giới thiệu những điềm lạ này cách cụ thể hơn vào thời điểm Con Người xuất hiện: “Những điềm lạ trên mặt trời và mặt trăng và các vì sao … quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển” (Lc 21,25-26).

7.     Bắt bớ… ngược đãi … trao nộp … bị điệu đến … vì danh Thầy…làm chứng: Những lời cảnh báo này được đặt trong bối cảnh Đức Giêsu bước vào cuộc Thương Khó. Chính Người sẽ trải qua tất cả những đau khổ như “bị tra tay bắt”; “bị ngược đãi”; “bị trao nộp trong các hội đường và nhà tù”, “bị dẫn đến trước mặt vua chúa và quan quyền”. Cặp danh từ chỉ nơi chốn “các hội đường và nhà tù”, được đặt song đối với cặp nhân vật “các vua chúa và quan quyền” tượng trưng cho sự bách hại đến từ cả dân Do Thái và dân ngoại.[10] Trong thời đại vùng đất bị ngoại bang thống trị, bản án cuối cùng lúc nào cũng do chính quyền ngoại bang quyết định. Trong trường hợp của Đức Giêsu, sau khi Hội Đồng Do Thái xét xử, tổng trấn Rôma (ông Philatô), quyết định bản án. Trong trường hợp của ông Phaolô, sau khi Hội Đồng Do Thái xét hỏi, ông được mang đến cho hai kiểm sát viên Rôma (ông Felix và ông Festus), vua Hêrôđê Agrippa, rồi cuối cùng, vì ông kháng cáo lên hoàng đế, nên ông được dẫn đến hoàng đế Xêda, ổ thủ đô Rôma. Số phận bách hại của các môn đệ đã được Đức Giêsu báo trước. Bất cứ ai bỏ mọi sự để theo Đức Giêsu sẽ “được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con, hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi và sự sống vĩnh cửu đời sau. Lời mời gọi “từ bỏ chính mình và vác thập giá mình hằng ngày mà đi theo” (Lc 9,23; 14,27; Mc 8,34; Mt 16,24) bao hàm tất cả những đau khổ mà Đức Giêsu chịu trên hành trình Thương Khó, trong đó có quãng đường vác thập giá. Những điều Đức Giêsu dự báo đều xảy ra cho các Tông Đồ trong sách Công Vụ. Ông Phêrô và Gioan bị bắt, bị tống ngục và đưa ra trước Hội Đồng Do Thái (x. Cv 4,1-22); Các Tông Đồ bị bắt, bị nhốt tù, bị điệu ra trước Hội Đồng và bị đánh đòn (x. Cv 5,17-42). Ông Stephano bị bắt, thẩm vấn và bị ném đá chết (x. Cv 6,8 – 7,60). Ông Phaolô cũng bị bắt (x. Cv 21,27-36), bị đánh đập (Cv 23,2-3), bị cầm tù (x. Cv 24,22-27), bị điệu ra trước Hội Đồng Do Thái (x. Cv 23,1-10), trước các Kiểm Sát Viên Rôma (Cv 24,10-21), trước vua Hêrôđê Agrippa và hoàng hậu (x. Cv 26,1-23), rồi được dẫn đến Rôma để được xử án trước hoàng đế Xêda (x. Cv 25,11-12; 27 – 28). “Làm chứng” là mệnh lệnh Đức Giêsu trao cho các môn đệ trước khi về trời (Lc 24,48; Cv 1,8). Khi ra trước Hội Đồng và quan quyền, các môn đệ luôn giảng thuyết và làm chứng về Đức Giêsu như là Đấng Mêsiah.  

8.     Bị cha mẹ, anh em, người thân, bạn hữu trao nộp … giết chết một vài người …những người bị tất cả ghét bỏ vì danh Thầy: Những cảnh báo nghiệt ngã này đã được Đức Giêsu nói thẳng trong lời mời gọi từ bỏ cả người thân khi muốn làm môn đệ của Người: “Ai đến với tôi mà không ghét (yêu ít hơn) cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26; Cf. Lc 18,29). Những người thân nộp nhau cũng được Đức Giêsu nói rất chi tiết: “Anh em sẽ nộp nhau cho người ta giết; Cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết” (Mc 13,12; Mt 10,21). Đức Giêsu của tác giả Luca còn nói đến sự chia rẽ giữa những người thân trong gia đình: “Cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; Mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; Mẹ chồng chống lại con dâu, con dâu chống lại mẹ chồng” (Lc 12,53). Có lẽ, cảm giác bị trở thành “trở thành những người bị tất cả ghét bỏ” là cảm giác đáng sợ nhất. Nó được nhắc đến cuối cùng như là đỉnh điểm của sự bách hại đến từ phía người thân, ruột thịt. Tính từ “tất cả” (πάντων) diễn tả mức tuyệt đối của sự ghét bỏ, của những người thân yêu của mình. “Một vài người bị giết chết” như như ông Giacôbê, con ông Dêbêđê (Cv 12,1-2) hay như ông Stephano (7,54-60).[11] Chính Đức Giêsu đã nói trước là Người sẽ bị nộp (Mt 20,18.19; Lc 9,44; 18,32) và kẻ nộp Người lại là một môn đệ thân tín (Mt 10,4; 26,15.16). Các Kỳ Lão và Kinh Sư cũng nộp Người cho quan Philatô (Mc 15,1). Trong khoảnh khắc xét xử, Người đã cảm nếm cảm giác bị “trở thành người bị tất cả mọi người ghét bỏ”, khi tất cả các môn đệ bỏ Người chạy trốn hết (Mc 14,50; Mt 26,56). Có một người môn đệ thân tín đi theo xa xa nhưng lại chối từ Người đến ba lần (Lc 22,54-62; Mt 26,69-75; Mc 14,66-72).  Những người đồng hương thì khạc nhổ vào mặt Người (Mc 10,34; 14,65; 15,19; Mt 26,67; 27,30; Lc 18,32), xem Người như là đồ ghê tởm. Và đỉnh điểm của cảm giác đau khổ này chính là cảm giác bị chính Chúa Cha bỏ rơi trên thập giá: “Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Eloi, Eloi, lema xabakhthani!”, Nghĩa là, ‘Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! Sao Ngài bỏ rơi con’” (Mc 15,34; Mt 27,46). Có thể nói rằng, trong toàn bộ tác phẩm hai tập, Luca – Công Vụ, lời tiên đoán của Đức Giêsu về sự bách hại, mang tính ngôn sứ về kinh nghiệm đau khổ của Đức Giêsu và các môn đệ trong những ngày hay những năm sắp đến.[12]

9.     Đừng sợ, … Hãy yên chí, … Một cọng tóc không bị mất: Đây là ba lời động viên, khích lệ, bảo đảm mang đậm chất văn chương khải huyền. Những lời khích lệ động viên thường đi theo những tình huống đau khổ nghiệt ngã trong hiện tại. Chúng rất cần thiết để cho các tin hữu vững tin, kiên trì, giữ vững niềm tin của mình mặc cho bao nhiêu khó khăn, sóng gió, thậm chí mất mạng.

§  “Đừng sợ”: Mệnh lệnh “đừng sợ” (μὴ πτοηθῆτε) được xen vào giữa thực tiễn của những “cuộc chiến” gây ra sự “hỗn loạn” và nước này chống nước nọ, vua này chống vua kia. Đừng sợ trước những xung đột chiến tranh.  

§  Hãy yên lòng”: Mệnh lệnh thứ hai “hãy yên lòng” (θέτε οὖν ἐν ταῖς καρδίαις ὑμῶν) được đặt trong bối cảnh các tín hữu bị bách hại nặng nề từ những người khác. Mệnh lệnh này đi kèm với mệnh lệnh mở rộng, có tính giải thích, “đừng chuẩn bị trước để bào chữa thế nào”. Lý do là chính Đức Giêsu hứa là sẽ ban cho họ “cái miệng và sự khôn ngoan”. Cụm từ “cái miệng và sự khôn ngoan” có lẽ ngụ ý là “tài ăn nói” đến từ “đầu óc khôn ngoan”, để đối đáp trước tất cả những vua chúa quan quyền. “Sự khôn ngoan” và “tài ăn nói” chính là sự khôn ngoan của Thần Khí: “Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước những người lãnh đạo và quan quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa như thế nào, hay phải nói gì, vì ngay trong giờ đó Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói” (Lc 12,11-12); “Không phải anh em nói mà chính là Thần Khí của Cha sẽ nói trong anh em” (Mt 10,20; cf. Mc 13,11). Lời hứa này sẽ được hiện thực hóa trong sứ vụ rao giảng của các môn đệ: “Ai nấy đều được đầy Thánh Linh và bắt đầu mạnh dạn nói Lời” (Cv 4,31). Ông Phêrô được đầy Thánh Linh, bào chữa trước Hội Đồng Do Thái gồm các Kỳ Lão, Kinh Sư và các Thượng Tế (Cv 4,5-12). Không đối thủ nào có thể tranh luận với ông Stephano, vì ông nói với Thần Khí và sự khôn ngoan (Cv 6,10). Trong vụ xử án, ông đầy Thánh Linh, đăm đăm nhìn trời và mạnh dạn nói về thị kiến dù có phải chết (Cv 7,55-60). Ông Phaolô, được đầy Thánh Linh, rao giảng đối lại thầy phù thủy Bar-Giêsu (Cv 13,6-12).

§  Một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất”: Đây là câu thành ngữ quen thuộc được dùng nhiều lần trong truyền thống Thánh Kinh (Cv 27,34; 1 Sm 14,45; 2 Sm 14,1; 1 V 1,52). Lời khích lệ thứ ba có tính bảo đảm rất mạnh và có phần cường điệu hóa. Chất cường điệu trong lời động viên này thể hiện sự bảo đảm ở mức cao nhất. Lời cổ vũ này được đưa ra trong bối cảnh bách hại gay gắt hơn, đỉnh cao của mọi sự bách hại. Đó là sự bách hại của chính người thân, ruột thịt trong gia đình: “Cha mẹ và anh em và những người bà con, và bạn hữu”. Bảo đảm “một sợi tóc trên đầu cũng không bị mất”, nếu đọc với lời cảnh báo “họ sẽ giết chết một số người trong anh em” (21,16), xem ra không mấy hợp lý. Trong một số trường hợp, Chúa vẫn cứu họ thoát chết tạm thời (x. Cv 5,19-26; 12,6-11; 14,19-20), nhưng rồi cuối cùng họ cũng đón nhận phúc tử đạo (x. Cv 7,55-60; 12,1-2). Như thế, bảo đảm này có lẽ là bảo đảm về tinh thần, về sự bảo toàn mạng sống đời đời hơn là sự sống đời này vì Đức Giêsu cũng đã từng cảnh báo rằng: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24; Mc 8,35; Mt 16,25). Sự bảo đảm này nên được đọc cùng với mệnh lệnh cuối ngay sau đó: “Hãy cứu lấy linh hồn anh em” (21,19).

10.  Hãy cứu linh hồn bằng sự kiên trì:[13]

Sau khi bảo đảm rằng “một cọng tóc trên đầu của anh em sẽ không bị mất”, Đức Giêsu tiếp tục khích lệ bằng mệnh lệnh: “Hãy cứu lấy linh hồn anh em bằng sự kiên trì”. Mệnh lệnh này thường được chuyển ngữ theo khuynh hướng nhấn mạnh đến “sự kiên trì”: “Có sự kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” (CGKPV); “Chính bởi kiên nhẫn mà các ngươi giữ được mạng sống các ngươi” (NTT); “by your endurance you will gain your lives” (ESV). Hình như, các dịch giả bỏ quên động từ “đạt được”, “cứu lấy” được dùng ở mệnh lệnh cách: “Hãy cứu” (κτήσασθε: “hãy giành”, “hãy đạt”). Như vậy, mệnh lệnh này mới là ý chính trong câu này, còn cụm giới từ “với lòng kiên nhẫn” hay “với sự kiên trì” (ἐν τῇ ὑπομονῇ ὑμῶν) là một cụm trạng từ diễn tả cách thức bổ nghĩa cho động từ “giành”. Người ta sẽ thực hiện mệnh lệnh “hãy cứu lấy linh hồn” bằng phương cách kiên nhẫn, với lòng “kiên trì”. Mệnh lệnh khẳng định này được nối tiếp và hoàn tất hai mệnh lệnh phủ định trước đó: “Đừng hoảng sợ” (μὴ πτοηθῆτε, 21,9) và “cứ yên lòng, đừng chuẩn bị trước phải bào chữa ra sao” (θέτε οὖν ἐν ταῖς καρδίαις ὑμῶν μὴ προμελετᾶν ἀπολογηθῆναι, 21,14). Cách tổng quát, các mệnh lệnh: “Coi chừng, đừng bị dẫn đi lạc”; “Đừng đi theo” (những người ngôn sứ giả); “Đừng sợ”, “cứ yên tâm, đừng chuẩn bị phải bào chữa ra sao” và “hãy cứu lấy linh hồn” là những mệnh lệnh giúp các tín hữu trải qua và vượt qua được những tình huống khốn khổ tư bề trong cuộc đời người tín hữu: Sự dụ dỗ của các ngôn sứ giả, các cuộc chiến, những thiên tai, những cuộc bách hại từ những người khác, nhất là sự loại bỏ và giết chết đến từ những người thân yêu ruột thịt. “Sự kiên trì” là yếu tố hết sức cần thiết để các tín hữu không sa ngã, tiếp tục tin tưởng vào Chúa, và cứu được mạng sống mình.[14] Cụm giới từ “với lòng kiên nhẫn” (ἐν ὑπομονῇ) cũng là phương cách mà những hạt giống rơi vào đất tốt đã dùng để sinh hoa kết quả (Lc 8,15). Như vậy, “kiên trì” không chỉ là chịu đựng cách thụ đồng mà còn phải sinh hoa trái tốt lành cách chủ động. Trong các lá thư của mình, ông Phaolô nhiều lần nhắc đến lòng kiên trì: Các tín hữu chịu đựng đau khổ với lòng “lòng kiên nhẫn” để được an ủi và ơn cứu độ (2 Cr 1,6); “Chúng tôi vui mừng trong những thử thách, vì biết rằng thử thách sinh kiên nhẫn, kiên nhẫn sinh ra nghị lực và nghị lực sinh ra hy vọng” (Rm 5,4). Ông Giacôbê cũng nói rằng: “Anh em biết rằng, thử thách đức tin sinh ra lòng kiên nhẫn. Hãy để lòng kiên nhẫn có hiệu quả toàn vẹn, để anh em có thể nên hoàn hảo và hoàn tất, không thiếu điều gì nữa” (Gc 1,3-4). Ông nhắc đến hình ảnh ông Gióp như một mẫu gương về lòng kiên trì (Gc 1,12).

Bình luận tổng quát

Trong bối cảnh có một vài môn đệ ngưỡng mộ, trầm trồ về vẻ bề ngoài nguy nga, tráng lệ của đền thờ Jêrusalem, với những viên đá cẩm thạch bóng loáng và những lễ vật tưởng niệm dát vàng óng ánh, Đức Giêsu tiền báo về số phận bi thảm của đền thờ. Thực ra, khi bước đến gần thành Jêrusalem, cảm giác đầu tiên mà Người có về đền thờ là cảm giác đau xót. Người Thương Khóc thành Jêrusalem: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp lũy chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,42-44). Hành động đầu tiên khi Người bước vào trong đền thờ là “thanh tẩy đền thờ” vì nó đã trở thành ô uế, thành sào huyệt của những người trộm cướp (Lc 19,45-46). Như vậy, cảm thức của Đức Giêsu về đền thờ hoàn toàn trái ngược nhau. Trong khi Đức Giêsu nhìn thấy bên trong đền thờ đầy “sào huyệt của những tên trộm cướp”, các môn đệ chỉ trầm trồ, ngưỡng mộ về những vẻ hào nhoáng bên ngoài. Đức Giêsu đã không ngần ngại mặc khải cho các ông một biến cố bi thảm “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào”. Sự thanh tẩy đền thờ không tránh cho nó bị phá hủy, bởi một thói quen thờ phượng bị tục hóa, nặng hình thức, “thừa lễ tế”, mà thiếu hồn của “lòng nhân từ”. Các môn đệ chắc chắn đã chứng kiến sự kiện này, khi quân đội Rôma thiêu hủy đền thờ vào năm 70 CE. Nhân dịp các môn đệ đặt câu hỏi về “những dấu hiệu” và “thời điểm” cho biến cố hủy diệt thành Jêrusalem, Đức Giêsu tiền báo rất nhiều dấu hiệu nhằm nối kết đến không những biến cố hủy diệt thành Jêrusalem mà còn là biến cố ngày cánh chung.[15] Đó là sự xuất hiện của những “ngôn sứ giả”, những người tự xưng mình là chính Chúa: “ego eimi” (Tôi là). Đó là tất cả những tai họa khủng khiếp từ chiến tranh giữa các nước, loạn lạc, thảm họa thiên nhiên (động đất, đói kém, ôn dịch) đến những điềm lạ khủng khiếp trên trời. Từ nền tảng của cuộc Thương Khó sắp xảy ra cho chính Người, Đức Giêsu mặc khải những cuộc bách hại khốc liệt trong tương lai từ tất cả mọi người. Các tín hữu có thể đối diện với những hình thức bách hại như: “Bị tra tay bắt, ngược đãi, trao nộp cho các hội đường và tống ngục, điệu ra trước mặt vua chúa và quan quyền”. Đây chính là dịp thuận tiện để các tín hữu làm chứng cho Đức Giêsu. Cuộc bách hại khốc liệt và gây đau đớn nhất là cuộc bách hại của chính “cha mẹ, anh chị em, những người bà con ruột thịt, và các bạn hữu”. Những người thân ruột thịt có thể trao nộp các tín hữu, và giết chết một số người. Mức tuyệt đối của sự loại trừ là họ sẽ trở thành “những người bị tất cả mọi người ghét bỏ”. Trong tình huống khó khăn đau khổ muôn trùng, các tín hữu được chỉ dẫn, động viên, khích lệ bằng những mệnh lệnh cụ thể: “Đừng để bị dẫn đi lạc”; “Đừng đi theo” những ngôn sứ giả; “Đừng hoảng sợ”; “Hãy làm chứng”; “Cứ yên tâm, đừng lo chuẩn bị phải phản kháng ra sao” vì Chúa sẽ ban cho “cái miệng và sự khôn ngoan”, tức là tài ăn nói và sự khôn ngoan của Thánh Linh; “Một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất”; Cuối cùng, “Hãy giành lấy sự sống của mình bằng sự kiên trì”. Sự kiên trì bao gồm cả sự tín thác, hy vọng vào Chúa, sự chịu đựng đau khổ liên lỉ mà không sa ngã và sinh hoa kết quả từ sự tha thứ, khiêm nhu, và tình thương yêu đối với kẻ thù. Thiên Chúa vẫn đồng hành, hỗ trợ, nhưng các tín hữu cũng được mời gọi chủ động, cộng tác với Chúa để giành lấy linh hồn cho mình. Những lời tiền báo của Đức Giêsu, đều được hiện thực hóa trong cuộc Thương Khó của Người và trong đời sống Hội Thánh sơ khai, được ghi lại trong sách Công Vụ. Các môn đệ luôn bị bách hại từ phía những người đồng hương và vua chúa quan quyền. Dầu vậy, họ không ngừng làm chứng về Đức Giêsu là Đấng Kitô, về sự sống lại của Người và họ kiên trì cho đến chết, vì sứ mạng loan báo Tin Vui mà Chúa đã truyền cho họ. Các tín hữu qua mọi thời đại vẫn đã và đang trải qua chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, bách hại khốc liệt. Họ cũng được mời gọi luôn tín thác vào Chúa, trung thành với đức tin, trong mọi hoàn cảnh và giành lấy sự sống vĩnh cửu của mình.

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD



[2] W. von Meding, “The Temple”, The New International Dictionary of New Testament Theology, vol 3: Pri-Z (ed. C. Brown) (Grand Rapids 1978) 783-784.

[3] W. von Meding, “The Temple”, 787-788; C.L. Meyers, “The Temple”, The Harpercollins Bible Dictionary (ed. P.J. Achtemeier) (New York 1996) 1096-1104; “The Jerusalem temple admired by those with Jesus was the project of Herod the Great, who in 20/19 b.c.e” [J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids 1997) 733].

[4] X. N. Perrin, “The Temple”, Dictionary of Jesus and the Gospels (ed J.B. Green) 939-946.

[5] “The term anathema means "what is set up," and it refers to votive offerings ("memorials") made by the wealthy devout for the adornment of the Temple; see e.g., the pledge made by Antiochus in 2 Macc 9:16” [L.T. Johnson, The Gospel of Luke (SP3; Collegeville 1997) 320].

[6]The translation emphasizes the anarthous nouns, which enables the reader to understand, not a gnomic utterance, but a prediction of the Jewish revolt against Rome. The language of the prophecy is similar to that in 2 Chr 15:6, although the verb "will rise up" echoes as well a similar prediction in Isa 19:2” (L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 321).

[7] In this Lucan context the “end” refers only to that of Jerusalem and its Temple, of which Jesus spoke in v. 6. To understand it of the end of the world is to import a Marcan and Matthean nuance into the Lucan context” [J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV. Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 28A, 1336].

[8] L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 321.

[10] J.B. Green, The Gospel of Luke, 736.

[12] “Within the narrative of Luke-Acts, Jesus’ eschatological discourse functions in part as a proleptic announcement of the experience of both Jesus himself and his followers in the days and years ahead” [J.B. Green, The Gospel of Luke, 732; Cf. Korn, Geschichte Jesu, 201–3; Carroll, End of History, 117–19; Chance, Jerusalem, 120–21; Rapske, Roman Custody, 398–401].

[13] “by their “endurance” (or “consistency, persistence”) they will possess their lives, i.e. through their endurance they will show that they have been the seed sowed in good soil, those who have listened to the word, held on to it with noble and generous minds, and through such persistence they will yield a crop” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1339).

[14] “‘Endurance’ should not be mistaken for passive waiting or the placid exercise of patience; after all, Jesus has just noted that persecution provides the occasion for witness, and he earlier collocates “endurance” with the faithful bearing of fruit (8:15; cf. 18:1–8). As in the LXX, the endurance Jesus counsels is intertwined with a hope that has God as its object and as its expected outcome divine intervention” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 738); “Endurance” or “patience” is frequently connectedin the NT to the experience of persecution (cf. Rom 5:3-4: 8:25: 2 Cor 1:6; Col 1:11; 1 Thess 1:3; 2 Thess 1:4; Heb 10:36; 12:1; jas 1:3-4; Rev 13:10)” (L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 323).

[15] “Does Jesus speak of the destruction of the temple or of the End? In fact, Jesus speaks of both, but not in a way that marks the fall of the temple as the onset of the consummation of God’s purpose in history. Jesus does interpret the fall of Jerusalem as an eschatological event, but not in immediate relation to the coming of the eschaton” [J.B. Green, The Gospel of Luke, 731].

Thursday, 3 November 2022

SỰ SỐNG ĐỜI SAU CÓ HAY KHÔNG? Chú Giải Tin Mừng CN XXXII TN C (Lc 20,27-40); Lm. Jos. Ph.D. Thạch, SVD

 Ban văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

27 Προσελθόντες δέ τινες τῶν Σαδδουκαίων, οἱ [ἀντι]λέγοντες ἀνάστασιν μὴ εἶναι, ἐπηρώτησαν αὐτὸν

 28 λέγοντες· διδάσκαλε, Μωϋσῆς ἔγραψεν ἡμῖν, ἐάν τινος ἀδελφὸς ἀποθάνῃ ἔχων γυναῖκα, καὶ οὗτος ἄτεκνος ᾖ, ἵνα λάβῃ ὁ ἀδελφὸς αὐτοῦ τὴν γυναῖκα καὶ ἐξαναστήσῃ σπέρμα τῷ ἀδελφῷ αὐτοῦ.

 29 ἑπτὰ οὖν ἀδελφοὶ ἦσαν· καὶ ὁ πρῶτος λαβὼν γυναῖκα ἀπέθανεν ἄτεκνος·

 30 καὶ ὁ δεύτερος

 31 καὶ ὁ τρίτος ἔλαβεν αὐτήν, ὡσαύτως δὲ καὶ οἱ ἑπτὰ οὐ κατέλιπον τέκνα καὶ ἀπέθανον.

 32 ὕστερον καὶ ἡ γυνὴ ἀπέθανεν.

 33 ἡ γυνὴ οὖν ἐν τῇ ἀναστάσει τίνος αὐτῶν γίνεται γυνή; οἱ γὰρ ἑπτὰ ἔσχον αὐτὴν γυναῖκα.

 34 καὶ εἶπεν αὐτοῖς ὁ Ἰησοῦς· οἱ υἱοὶ τοῦ αἰῶνος τούτου γαμοῦσιν καὶ γαμίσκονται,

 35 οἱ δὲ καταξιωθέντες τοῦ αἰῶνος ἐκείνου τυχεῖν καὶ τῆς ἀναστάσεως τῆς ἐκ νεκρῶν οὔτε γαμοῦσιν οὔτε γαμίζονται·

 36 οὐδὲ γὰρ ἀποθανεῖν ἔτι δύνανται, ἰσάγγελοι γάρ εἰσιν καὶ υἱοί εἰσιν θεοῦ τῆς ἀναστάσεως υἱοὶ ὄντες.

 37 ὅτι δὲ ἐγείρονται οἱ νεκροί, καὶ Μωϋσῆς ἐμήνυσεν ἐπὶ τῆς βάτου, ὡς λέγει κύριον τὸν θεὸν Ἀβραὰμ καὶ θεὸν Ἰσαὰκ καὶ θεὸν Ἰακώβ.

 38 θεὸς δὲ οὐκ ἔστιν νεκρῶν ἀλλὰ ζώντων, πάντες γὰρ αὐτῷ ζῶσιν.

39 Ἀποκριθέντες δέ τινες τῶν γραμματέων εἶπαν· διδάσκαλε, καλῶς εἶπας.

 40 οὐκέτι γὰρ ἐτόλμων ἐπερωτᾶν αὐτὸν οὐδέν (Lk. 20:27-40 BGT)

27 Khi một vài người Xađốc, những người nói rằng không có sự sống lại, đến, họ hỏi Người [Đức Giêsu] rằng:

28 “ThưaThầy! Ông Môsê đã viết cho chúng tôi để mà lỡ như có một người anh em có vợ, chết mà không có con, thì người anh em của người này, có thể lấy người phụ nữ ấy và sinh con cho người anh em của mình.

29 Vậy, có bảy anh em, người thứ nhất lấy vợ, chết, không con cái.

30 Rồi người thứ hai,

31 Rồi người tứ ba đã lấy cô ấy, tương tự như thế, cả bảy người đều chết mà không để lại đứa con nào.

32 Sau đó, người phụ nữ này cũng chết.

33 Vậy thì, trong ngày sống lại người phụ nữ này là vợ của ai trong số họ, vì cả bảy người đều đã lấy cô ấy làm vợ.”

34 Đức Giêsu mới nói cùng họ rằng: “Con cái đời này cưới vợ và lấy chồng,

35 chứ những người được xét là xứng đáng đạt được đời ấy và đạt được sự sống lại từ cõi chết sẽ không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng.

36 Bởi lẽ, họ không thể chết nữa, vì họ như các thiên sứ và là con cái Thiên Chúa, con cái của sự sống lại.

37 Vì rằng những người chết được làm cho trỗi dậy, ông Môsê đã tỏ cho biết về sự kiện bụi gai, khi ông nói rằng ChúaThiên Chúa của ông Ápraham, Thiên Chúa của ông Ixaác, và Thiên Chúa của ông Giacóp.

38 Thiên Chúa không phải là của những người chết nhưng là của những người sống, vì đối với Người, tất cả đều sống.”

39 Rồi, một vài Kinh Sư trả lời rằng: “Thưa Thầy! Thầy nói tốt quá

40 Thực sự, họ không còn dám hỏi Người điều gì nữa.

 

Bối cảnh

Đây là câu chuyện được cả ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại (Lc 20,27-40; Mt 22,23-33; Mc 12,18-27). Trong bối cảnh gần, Lc 20,27-40 nằm trong bối cảnh trình thuật bài giảng tại Jêrusalem (Lc 19,28 – 21,38). Các nhân vật như “vài người Xađốc” được nhắc đến ở đầu và “vài Kinh Sư” ở cuối câu chuyện này, giới thiệu những nhân vật có vị trí lãnh đạo ở Jêrusalem đang tranh luận với Đức Giêsu nhiều vấn đề. Trong đoạn văn này, những người Xađốc tranh luận với Đức Giêsu về “sự sống lại”, đầu chương 20 (20,1-8), các Kinh Sư, Thượng Tế và Kỳ Lão chất vấn Người về “quyền thanh tẩy đền thờ” (19,45-46). Ngay trước câu chuyện này, những người “giả bộ công chính”, rình rập, bắt lý Người, đặt ra câu hỏi có được phép nộp thuế cho hoàng đế Xêda không (20,20-26). Trong bối cảnh rộng hơn, chủ đề “sự sống lại” là chủ đề quan trọng trong toàn bộ giáo huấn của Đức Giêsu. Trong ba lần tiền báo về mầu nhiệm Khổ Nạn, Đức Giêsu đều nhắc đến sự sống lại của Người (Mc 8,31; 9,31; 10,34). Phần cuối cùng của cả bốn sách Tin Mừng đều có nhiều câu chuyện sống động về sự phục sinh của Đức Giêsu. Trong các bài giảng, Đức Giêsu nhiều lần nói về sự sống lại (Lc 14,14; Mt 11,5; 10,8). Hơn nữa, có ít nhất ba lần Đức Giêsu làm phép lạ cho người chết sống lại (Lc 7,11-17; Ga 11,1-44; Lc 8,40-42.49-56 [Mc 5,21-24.35-43; Mt 9,18-19.23-26]). Câu chuyện này nối kết xa hơn nữa đến những quy định trong sách thánh Cựu Ước (Đnl 25,5-10) và trình thuật về cuộc thần hiện với ông Môsê (Xh 3,1-6.13-15).

Cấu trúc

Đoạn văn Lc 20,27-40 có thể được chia làm hai phần. Phần A gồm hai phần nhỏ, nói về vấn nạn của những người Xađốc (A’.28-33) và giải pháp của Đức Giêsu (A’’.34-36). Phần B (37-38) là lời khẳng định về sự sống lại bằng luận chứng Thánh Kinh của Đức Giêsu.

Mở đầu: Giới thiệu nhân vật (27)

A. Quan điểm của những người Xađốc: Không thể có sự sống lại

A’.Vấn nạn: Luật nối hôn để đảm bảo duy trì nói giống (28)

Bảy anh em cưới cùng một người phụ nữ (29-32)

Người phụ nữ này sẽ là vợ của ai? (33)

A’’. Giải quyết vấn nạn: Không là vợ của ai cả (34-36)

Con cái đời này cưới vợ và lấy chồng

Con cái đời ấy không cưới vợ, cũng chẳng lấy chồng

họ không thể chết nữa:

họ như các thiên sứ

con cái Thiên Chúa

con cái của sự sống lại

B. Quan điểm của Đức Giêsu: Có sự sống lại (37-38)

Ông Môsê đã tỏ lộ khi ông nói: “Kurios là Thiên Chúa …”

Không là Thiên Chúa của những người chết

Là Thiên Chúa của những người sống

Đối với Người, tất cả đều sống

Kết luận: Thừa nhận, không còn chất vấn (39-40)

Một vài điểm chú giải

1.     Người Xađốc[1]: Đây là lần duy nhất tác giả Luca đề cập đến nhóm Xađốc trong Tin Mừng thứ ba, dẫu rằng nhóm này xuất hiện nhiều lần trong sách Công Vụ (4,1;5,17; 23,6-8). Đây là danh xưng của một trong những nhóm, (hay phái) tiêu biểu trong Do Thái giáo ở vùng đất Palestine thời bấy giờ. Đa số họ là những người thuộc giới quý tộc và giàu có. Nhóm này nối kết chặt chẽ với những mối quan tâm và những cơ chế ngoại tại thời Jêrusalem có đền thờ làm trung tâm. Sau khi đền thờ bị phá hủy năm 70 CE, nhóm này dần biến mất.[2] Tên gọi Xađốc được truy nguồn về đến tên riêng ông Xađốc, một tư tế thời vua Đavíd (2 Sm 8,17; 15,24 tt.; 1 Sbn15,11; 19,11). Ông và gia quyến của ông nắm hệ thống các tư tế và đền thờ cho đến dưới thời vua Salomon (1 V 2,32; 1 Sbn 29,22). Những người tư tế Lêvi, những người con của Xađốc, phục vụ thánh địa trong thị kiến của ngôn sứ Êdêkiel về tái thiết đền thờ (Ed 44,14). Sau thời kỳ lưu đày, hậu duệ của nhà Xađốc được trao cho đặc quyền hành quyền như những tư tế trong đền thờ. Những người Xađốc này trở thành hạt nhân của dòng tư tế điều hành các hoạt động trong đền thờ.[3] Tuy nhiên, cũng phải nói rằng việc đồng hóa các thành viên phái Xađốc thời Đức Giêsu với những người thuộc gia đình Xađốc thời các vua cũng không hoàn toàn chắc chắn. Những người Xađốc thế kỳ thứ nhất có liện hệ với dòng tư tế Xađốc, không còn là nhóm đặc chất hoàn toàn tư tế như trước nữa. Nhóm Xađốc thường được sử gia Josephus nhắc đến như là “một trong những trường phái triết học” trong Do Thái giáo. Họ được cho là những người quý tộc giàu có và nắm giữ Sách Thánh viết, từ chối truyền thống truyền miệng của những người Pharisêu (Ant. 13:297-298; 18,17). Họ thuộc trường phái bảo thủ, từ chối sự hiện hữu của các thiên sứ cũng như sự sống lại của người chat Ant 18:16; Jewish War 2:165).[4] Trong Tin Mừng Mátthêu, hai nhóm này thường đi cùng nhau như những lãnh đạo của những người Do Thái. Họ đến chịu phép rửa của ông Gioan Tẩy Giả và bị ông khiển trách nặng nề: “Hỡi con cái của những con rắn độc!” [γεννήματα ἐχιδνῶν]: Mt 3,7-9). Đức Giêsu cũng cảnh báo các môn đệ về men Pharisêu và men Xađốc, ngụ ý là coi chừng giáo huấn của họ (Mt 16,5-12). Họ đến cùng nhau để thử Đức Giêsu bằng cách xin một dấu lạ từ trời (Mt 16,1-4). Trong câu chuyện này, họ được nhắc đến như những người nói rằng “không có sự sống lại” (Lc 20,27; Mc 12,18; Mt 22,23). Trong bài thuyết trình biện hộ của mình, ông Phaolô đã tận dụng sự khác biệt trong niềm tin vào sự sống lại giữa hai phái Pharisêu và Xađốc để chi rẽ họ và giải thoát cho mình (Cv 23,6-10).

2.     Luật nối hôn (thế huynh) Đnl (25,5-10): “Thưa Thầy! Ông Môsê đã viết cho chúng tôi”

Trước khi đặt vấn đề với Đức Giêsu, những người Xađốc gọi Người là “thưa Thầy!” Khi gọi Đức Giêsu là Thầy (διδάσκαλε), những người thuộc nhóm Xađốc đặt Đức Giêsu trong vị thế một người dạy về Luật, đối lại với ông Môsê. Vì là Thầy dạy, nên Đức Giêsu có tư cách và phải giải thích cho họ về Luật một cách hợp lý. Hợp lý theo suy nghĩ của người Xađốc là phải hợp với điều mà ông Môsê dạy.[5] Bởi lẽ, nếu nói về tư cách thầy dạy, không ai trong các bậc thầy trong suốt truyền thống Do Thái có thể sánh với ông Môsê: “Trong Ítrael không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Môsê, người mà Chúa biết rõ mặt giáp mặt” (Đnl 34,10). Trong con mắt của những người Xađốc, dĩ nhiên, Đức Giêsu, một thầy dạy trẻ mới nổi, không thể sánh bằng ông Môsê. Nội dung cụ thể về lời dạy của Thầy Giêsu mà họ đặt vấn đề là “sự sống lại” của những người đã chết.

Khi nhắc đến điều ông Môsê viết, họ muốn nhắc nhở Đức Giêsu về một nền tảng vững chắc về Luật trong truyền thống của Do Thái. Ông Môsê quả thực đã viết về chỉ dẫn rất chi ly về việc “nối hôn”, trong đó quy định những điều cụ thể sau (Đnl 25,5-10):

“Nếu những anh em ở chung với nhau, và một trong những người đó chết mà không có con trai, thì vợ của người chết không được lấy một người xa lạ, ngoài gia đình; Một người anh em chồng sẽ đến với nàng, lấy nàng làm vợ và chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với nàng. Đứa con đầu lòng nàng sinh ra sẽ duy trì tên của người anh em đã chết; Như vậy tên của người chết sẽ không bị xóa khỏi Ítrael. Nhưng nếu người đàn ông ấy không thích lấy chị dâu hay em dâu mình, thì người vợ sẽ lên cổng thành, gặp các Kỳ Lão và thưa: “Người anh em chồng tôi từ chối không chịu lưu truyền tên tuổi của anh em mình ở Ítrael, người ấy không muốn chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với tôi.” Các Kỳ Lão trong thành sẽ gọi người đàn ông ấy đến và nói cùng ông. Nếu ông ta phản đối mà nói: “Tôi không thích lấy cô ấy” thì người chị dâu hay em dâu sẽ đến gần người ấy trước mặt các Kỳ Lão, rút một chiếc dép người ấy ra khỏi chân ông ta, nhổ vào mặt người ấy và lên tiếng nói: “Kẻ không xây nhà cho người anh em mình thì phải xử như thế đó!” Trong Ítrael, người ta sẽ gọi tên người ấy là “nhà của kẻ bị lột dép” (xem thêm câu chuyện ông Bôát, một người bà con của người chồng quá cố của cô Rúth, đã cưới cô làm vợ đề duy trì nòi giống cho Máclôn, R 4,1-11).

Sáng thế 38 là một minh họa rõ nét cho tục “nối hôn” trong Do Thái giáo. Cả hai anh em trai (E và Ônan), con của ông Giuđa đều đã lấy bà Tama làm vợ, nhưng đều chết và không để lại đứa con nào. Lẽ ra, người con trai thứ ba (Sêla) cũng phải lấy bà làm vợ nhưng ông Giuđa sợ cậu cũng chết như hai anh của mình, nên ông không muốn cho cậu lấy bà. Ông khuyên bà về nhà cha ruột ở Timna mà ở. Chính vì vậy, mới xảy ra chuyện bà Tama phải giả làm gái điếm để ăn nằm với ông Giuđa, cha chồng của mình, để sinh ra ông Perét (St 38,1-29). Ở đây, nhóm Xađốc liệt kê đến “bảy người”, một con số rất quen thuộc với những người Do Thái[6] (cf. Lc 17,4; Mt 18,21.22). Đó là một con số tròn đầy, lý tưởng, đủ để tăng thêm độ hóc búa, ở mức cao nhất cho vấn nạn họ đặt ra cho Người. Đây là một luận chứng hùng hồn, chặt chẽ, chắc chắn có khả năng bảo vệ cho luận điểm rằng “không thể có sự sống lại” và vạch ra những sai lạc, bất hợp lý trong giáo huấn của Đức Giêsu.[7]

3.     Sự sống lại (ἀνάστασις): Sự sống lại là một trong những thông điệp Tin Mừng nền tảng nhất trong giáo huấn của Đức Giêsu. Sự sống lại của Đức Giêsu chính là nền tảng cho niềm tin của các Tông Đồ và của các tín hữu thời sơ khai và cho các tín hữu qua mọi thời đại. Các tác giả Sách Tin Mừng đều cho thấy đỉnh cao của những năng lực phi thường của Đấng Kitô là quyền trên sự chết. Người có thể phục hồi sự sống cho con gái ông trưởng hội đường (Lc 8,40-42.49-56; Mc 5,21-24.35-43; Mt 9,18-19.23-26); Con trai bà góa thành Nain (Lc 7,11-17) và đặc biệt là làm cho ông Ladarô chết chôn bốn ngày được sống lại (Ga 11,1-44). Như đã nhắc đến trong phần “bối cảnh”. Trong thời kỳ rao giảng, Đức Giêsu nhiều lần nói đến “sự sống lại”: Người truyền cho các môn đệ làm cho người chết sống lại (Mt 10,8); Người loan báo ngày “kẻ lành sống lại” (Lc 14,14; Cf. Ga 5,29). Mặc khải về “sự sống lại trong ngày cuối cùng”, được Đức Giêsu lặp đi lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng Gioan (Ga 6,39.40.44.54). Cả ba lần Đức Giêsu tiền báo về mầu nhiệm khổ nạn đều được kết thúc bằng thông điệp quan trọng: “Sau ba ngày, Người sẽ trỗi dậy” (Mc 8,31 [Lc 9,22; Mt 16,21]; 9,31 [Mt 17,23]; 10,34 [Lc 18,33; Mt 20,19]; cf. Mt 27,64; Lc 24,7.46; Cv 10,40; 1 Cr 15,4). Chính các môn đệ lúc đầu đã không thể hiểu và không muốn đón nhận thông điệp mặc khải về cuộc khổ nạn (Mc 8,32-33; 9,32; 10,35-40; Lc 9,45), và có lẽ vì thế, đã có lúc nghi ngờ về sự phục sinh của Người (Lc 24,8-11; Mc 16,13), nhưng rồi họ đã có kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Kitô Phục Sinh (Lc 24,13-35.36-43; Mc 16,14-18) và chứng kiến Người được đưa lên trời (Mc 16,19-20; Lc 24,50-53; Cv 1,9-11). Nhờ vậy, họ mới có thể mạnh dạn làm chứng về Đức Giêsu như là Đấng chịu khổ nạn, chịu chết, và Phục Sinh: “Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại. Chính tất cả chúng tôi là chứng nhân của điều này” (Cv 2,32; Cf. 3,15; 5,32). Đây chính là thông điệp nền tảng trong những bài giáo lý của các tông đồ. Chính ông Phaolô, sau khi hoán cải, cũng rao giảng điểm nòng cốt này cho những người Do Thái (Cv 13,30.33; 17,3) và đặc biệt là cho dân ngoại (Hy Lạp) nữa (Cv 17,31). Nghe về mầu nhiệm “người chết sống lại”, có người cười nhạo, có người nói rằng: “Để lần khác chúng tôi sẽ nghe ông nói về điều này”, nhưng cũng có một số người tin (ông Dyonisio và bà Damari, Cv 17,32-33). Trong các lá thư của mình, ông Phaolô cũng rất nhiều lần giải thích về mầu nhiệm Phục Sinh, đặc biệt là trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, trong đó, ông đã chứng minh về sự phục sinh của Đức Giêsu và bàn về vấn nạn “người chết sống lại” (1 Cr 15,1-58). Ông đã khẳng định rằng: “Nếu Đức Kitô không sống lại thì niềm tin của anh em thật hão huyền … Nếu chúng ta hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những người đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15,17.19). Sách Macabê cũng đã đề cập đến sự sống lại và hưởng sự sống đời đời (x. 2 Mcb 7,9.14; 12,43).

4.     Con cái đời này (οἱ υἱοὶ τοῦ αἰῶνος) … những người được xem là đạt được đời kia và sự sống lại (οἱ δὲ καταξιωθέντες τοῦ αἰῶνος ἐκείνου τυχεῖν καὶ τῆς ἀναστάσεως τῆς ἐκ νεκρῶν): Đức Giêsu dùng một cặp nhân vật tượng trưng cho hai thời khác nhau. “Con cái thời này” đối lại vớinhững người được xem là xứng đáng hưởng đời sau và sự sống lại từ cõi chết”.[8] Trong Tin Mng thứ ba, Đức Giêsu nhiều lần mô tảcon cái đời nàynhư là những người bất trung và gian ác (Lc 7,31; 9,41; 11,20-32; 16,8-9).[9] Động từxem xét” được dùng ở thì bị động (Được xem là: καταξιωθέντες), với tác nhân rất có thể là Thiên Chúa. Thiên Chúa mới có thẩm quyền quyết định ai là người xứng đáng với lòng thương xót của Người.[10] Động từ “đạt được, tìm được, trải nghiệm, chia sẻ, là những người tham sự vào” (τυχεῖν) có hai túc từ: “Đời ấy” (τοῦ αἰῶνος ἐκείνου) và “sự sống lại từ cõi chết”. “Sự sống lại từ cõi chếtcó thể có chức năng như là bổ nghĩa cho “đời ấy”. Nói cách khác “đạt được đời ấycũng có nghĩa là “được sống lại từ cõi chết”.[11]Sự sống lại từ cõi chếttrong “đời ấy” được Đức Giêsu giải thích thêm nữa là một sự sống vĩnh viễn: “Họ không thể chết nữa”. Trong dụ ngôn, thường được gọi là “dụ ngôn người quản gia bất chính” (Lc 16,1-8), Đức Giêsu so sánhcon cái đời này” (οἱ υἱοὶ τοῦ αἰῶνος τούτου) vớicon cái ánh sáng” (τοὺς υἱοὺς τοῦ φωτὸς): “Con cái đời này khôn ngoan hơn con cái ánh sáng khi đối xử với đồng loại” (Lc 16,8). “Đời ấycũng được Đức Giêsu báo trước như là “thời sẽ đến” (Lc 18,30): Thầy bảo thật anh em, không có ai đã bỏ nhà cửa, mạng sống, anh em, cha mẹ, hay con cái vì Nước Thiên Chúa, sẽ không lãnh nhận được gấp nhiều lần trong thời này và sự sống vĩnh cửu ở thời sẽ đến” (ἐν τῷ αἰῶνι τῷ ἐρχομένῳ). Như thế, “thời sẽ đếngắn liền vớisự sống vĩnh cửu” (ζωὴν αἰώνιον), rất giống với ý tưởnghọ không thể chết nữaở trong câu chuyện này.[12]  

5.     Không lấy vợ - cưới chồng: Đức Giêsu không trả lời trực tiếp cho nghi vấn mà nhóm Xađốc đặt ra, người phụ nữ ấy sẽ là vợ của ai trong số bảy người đã lấy bà? Người cho biết rằng trongthời ấy”, người ta không lấy vợ cũng chẳng lấy chồng”, ngụ ý rằng, người phụ nữ này không còn là vợ của bất cứ ai trong số bảy người anh em ấy. Đây là một khẳng định rõ ràng dứt khoát về sự khác biệt về tình trạng hôn nhân giữa con người thuộc hai “đờikhác nhau. Đức Giêsu của Tin Mừng Máccô còn nhấn mạnh về sự sai lầm của những người Xađốc liên quan khi nhận định về sự sống lại, mặc dù họ dựa trên nền tảng Thánh Kinh: “Điều này không phải vì các ông sai lầm, vì không biết Thánh Kinh cũng không biết quyền năng Thiên Chúa?” (Mc 12,24) … “Các ông hoàn toàn sai lầm” (Mc 12,27)”.

6.     Vì họ cũng không thể chết nữa, vì họ như những thiên sứcon cái Thiên Chúacon cái của sự sống lại: Hai mệnh đ đi kép chỉ lý do đi sau mệnh đkhông cưới vợ cũng chẳng lấy chồng”: (1) “Vì họ cũng không thể chết nữavà (2) “Vì họ như thiên sứ”. Tính từἰσάγγελοςcó thể được hiểu là “như thiên sứhoặc là “ngang bằng với thiên sứ”. Mệnh đề chỉ lý do thứ nhất dường như bổ nghĩa cho mệnh đhọ không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng”: Họ không cưới vợ cũng chng lấy chồng vì họ không thể chết nữa; Trong khi đó, mệnh đề thứ hai bổ nghĩa cho mệnh đề lý do thứ nhất: “Họ không thể chết nữa, vì họ như thiên sứ”. Các thiên sứ không có thể xác và bất tử.[13] Mệnh đề chỉ lý do thứ hai, lại được giải thích thêm bằng hai mệnh đề nữa: (i) Con cái Thiên Chúa; và (ii) Con cái của sự sống lại. Như thế, “thiên sứ”, nghĩa là “con cái Thiên Chúavà cũng là “con cái của sự sống lại”.  “Con cái của Thiên Chúathì cũng được chia sẻ bản chất bất tử của Chúa.[14] Trong câu trả lời của Đức Giêsu có đến ba ý tưởng về sự phục sinh: “Những người được xét là xứng đáng đạt được đời ấy, và đạt được sự sống lại” = “Không thể chết nữa” = “Con cái sự phục sinh”. Cách nói của Đức Giêsu như muốn nhấn mạnh đến mầu nhiệmphục sinhvà sự sống vĩnh cửu ở đời sau. Một số tác giả cho rằng Đức Giêsu liên kết vấn đề lập gia đình với sự chết. Một khi không còn sự chết nữa, thì không còn lập gia đình nữa.[15]

Vấn đ đặt ra là làm sao nối kết lý dovì họ không thể chết nữavới khẳng địnhhọ không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng”. Hay nói cách kháckhông chết nữa” = “không cưới vợ hay lấy chồng”. Điều này có thể giải thích dựa trên lý chứng rằng: Mục đích của hôn nhân thời xưa là sinh con, nối dõi cho một người đàn ông. Đây là mục đích chính yếu của tục lệ nối hôn, mà cả bảy anh em đều phải tuân thủ như những người Xađốc đặt ra.[16] Vậy, nếu như một người không chết nữa, thì sẽ không cần phải có người nối dõi.[17] Họ như các thiên sứ, con cái của sự sống lại và sống mãi thì họ không cần để lại con cái nữa. Chính sự chết mới làm cho người đàn ông hay người phụ nữ phải lấy nhau để sinh con nối dõi.

So với tác giả Luca, Máccô diễn tả đơn giản hơn nhiều: “Khi người ta sống lại từ cõi chết, không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng, nhưng như các thiên sứ trên trời” (Mc 12,25). Tuy nhiên, tác giả Luca bỏ đi phần Đức Giêsu nhấn mạnh về sự sai lầm của những người Xađốc khi đóng và mở phần đáp trả của Người bằng hai câu: “Điều này không phải vì các ông sai lầm vì không biết Thánh Kinh cũng không biết quyền năng Thiên Chúa?” (Mc 12,24) … “Các ông hoàn toàn sai lầm” (Mc 12,27).

Có thể nói rằng, những người Xađốc chỉ chú trọng đến những rắc rối, hóc búa khó giải quyết, giả như có một cuộc sống sau cái chết. Họ không nhìn thấy được nét đẹp như là hạnh phúc viên mãn của cuộc sống sau cái chết. Đức Giêsu không những giải quyết cho họ vấn nạn hóc búa, mà còn mặc khải cho họ một viễn ảnh huy hoàng về tính vĩnh cửu, của người “giống như các thiên sứ”, “con cái Thiên Chúa” và “con cái của sự phục sinh”. Người Xađốc không những thất bại trong việc hiểu sự khác nhau của cuộc sống đời sau, so với cuộc sống đời này mà còn thất bại trong việc hiểu điều gì đảm bảo chắc chắn về một cuộc sống vô tận. Họ hiểu lầm, hay không hiểu rõ về bản chất của Thiên Chúa hằng sống. Thiên Chúa luôn bất tử và con cái Chúa cũng sẽ được sống vĩnh cửu với Người.[18]

7.     Ông MôsêChúa – Thiên Chúa của Ápraham, Ixaác, Jacóp: Sau khi giải đáp vấn nạn mà họ đặt ra, mặc khải về tình trạng con người sau khi sống lại, Đức Giêsu tiếp tục bổ sung chứng cứ nền tảng cho niềm tin về sự sống lại. Đức Giêsu cho rằng ông Môsê nói vềngười chết sống lạikhi ông nói rằngChúa (κύριος) là Thiên Chúa của ông Ápraham, Thiên Chúa của ông Ixaác, và Thiên Chúa của ông Giacóp” (Xh 3,15-16).[19]m sao để nối kết giữa ý tưởngChúa, Thiên Chúa của các tổ phụvới mầu nhiệmngười chết sống lạitrong lý chứng nền tảng của Đức Giêsu”? Sự nối kết có lẽ nằm ở danh của Thiên Chúa: Chúa (κύριος). Tác giả Luca thay đổi khúc đầu trong lời trích dẫn Cựu Ước của Đức Giêsu trong Tin Mừng Máccô. Theo đó, Đức Giêsu của Máccô nói rằng: “Các ông đã không đọc trong sách Môsê đoạn nói về bụi gai sao? Người đã nói với ông ấy thế nào? Người đã nói rằng…” (Mc 12,26), nhưng Đức Giêsu của tác giả Luca nói rằng: “Chính ông Môsê đã tỏ cho biết trong sự kiện bụi gai, khi ông nói rằng …” (Lc 20,37). Trong câu chuyện sách Xuất Hành, chính Chúa xưng mình là “Thiên Chúa của ông Ápraham, Thiên Chúaa của ông Ixaác và Thiên Chúa của Jacóp (Xh 3,6) và Thiên Chúa cũng truyền hai lần cho ông Môsê nói danh xưng ấy cho dân (Xh 3,15.16). Trong hai lần mà Thiên Chúa truyền cho ông Môsê nói có thêm hai điều quan trọng: (1) Danh của Chúa - “κύριοςtrong tiếng Hy Lạp và [יְהוָ֞ה] trong tiếng Do Thái, khác với (אֱלֹהִים). Thường được dịch là “Đức Chúa”, (CGKPV) “Ta có” (NTT) khác vớiThiên Chúa” (trong tiếng Do Thái là [אֱלֹהִים], đọc là Êlohim, trong tiếng Hy Lạp là [θεὸς], đọc là Thêos)[20]; (2) Đây là danh Ta muôn đời và vì thế Ta được nhớ đến qua muôn thế hệ”. [יְהוָ֞ה] là danh mà Thiên Chúa mặc khải cho ông Môsê, và là danh muôn đời theo như Chúa khẳng định. Tuy nhiên, không ai biết danh đó phải phát âm thế nào cho đúng hay là có nghĩa chính xác là gì. Người ta dựa trên bốn chữ cái ấy (Yod, Heh, Waw, and Heh) và đoán cách phát âm là “YahwehhayYehowah” (Yavê, hay Giavê, trong tiếng Việt), nhưng chắc chắn là không ai có thể thẩm định là đúng hay sai. Người Do Thái, khi gặp danh này, họ đọc thànhAdonai” (nghĩa là Chúa tôi, Chủ tôi), vì họ tránh gọi danh Chúa cách trực tiếp. Tiếng Hy Lạp chuyển thànhKurios”, có nghĩa là “Chúa”, “Chủ”, “Ngài”. Đức Giêsu của hai tác giả, khi trích lại ý hướng của sách Xuất Hành, nhấn mạnh đến hai chủ thể khác nhau. Chủ thể tác giả Luca muốn nhấn mạnh là ông Môsê, trong khi chủ thể mà tác giả Máccô muốn nhấn mạnh là Thiên Chúa. Việc Đức Giêsu nhắc đến ông Môsê là rất cần thiết, vì những người Xađốc đã dùng điều mà ông Môsê đã viết, để làm nền tảng cho quan điểm của họ. Tác giả Luca dường như muốn tạo nên sự đối xứng giữa lời ông Môsê đã viết về điều luậtnối hôntrong ví dụ của nhóm Xađốc, và điều ông Môsê tỏ cho biết về Thiên Chúa hằng sống.[21] Câu mà Đức Giêsu của tác giả Máccô dùng là Xh 3,6, nơi là danh của Thiên Chúa chưa được mặc khải, còn câu của Đức Giêsu mà tác giả Luca dùng có thể là Xh 3,15 hay 3,16 vì đã xuất hiện danh Thiên ChúaChúa là Thiên Chúa của…” [  יְהוָ֞ה אֱלֹהֵ֣י]. Điểm mà Đức Giêsu của tác giả Luca muốn nhấn mạnh mà danh của Thiên Chúa, vì danh này biểu lộ tính  “vĩnh cửu, trường sinhcủa Chúa. Danh này có thể hiểu như là “Ta có” (NTT); “Đấng Hiện Hữu” (CGKPV) hay là “Đấng Hằng Hữu”. Như vậy, trong danh xưng này, danh xưng mà Chúa mặc khải cho ông Môsê (Xh 3,142; 3,15.16), người ta có thể khẳng định rằng Chúa Hằng Hữu, bất tử, và là Chúa của những người sống. Danh xưng này rất quan trọng đối với cả ông Môsê và dân Ítrael. Ông Môsê cần một danh xưng đ ý nghĩa để thưa cùng dân Ítrael và Thiên Chúa đã mặc khải cho ông rằng Người là “יְהוָ֞ה” (Kurios, Adonai, Chúa, Chủ, Đấng Hằng Hữu).

8.     Thiên Chúa của những người sống: Khi nối danh ngữThiên Chúa của những người sốngvới danh ngữThiên Chúa của ông Ápraham, Thiên Chúa của ông Ixaác và Thiên Chúa của ông Jacóp”, Đức Giêsu muốn ngụ ý rằng các tổ phụ “Ábraham, Ixaác và Jacópvẫn đang sống với Chúa.[22] Sự sống sau cái chết của các tổ phụ được Đức Giêsu nhắc đến hơn một lần trong các giáo huấn của Người: Hình ảnh ông Ladarô ở trong lòng tổ phụ Ápraham như là một sựan ủisau một cuộc đời đau khổ (Lc 16,19-31); Hình ảnh nhiều người từ Đông, Tây, “đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Jacóp trong Nước Trời” (Mt 8,11). Khi nói như vậy, Đức Giêsu cũng muốn đặt vấn đề với nhóm Xađốc là chẳng lẽ các tổ phụ chúng ta, những người sống công chính, đẹp lòng Chúa lại chết mãi mãi hay sao? Không phải vậy! Vì “đối với Người (trong con mắt của Người, khi Người trông đến)[23], tất cả đều sống” (Lc 20,38). Thiên Chúa Hằng Sống, sẽ đoái trông đến con cái của Người và ban cho họ được chia sẻ sự sống vĩnh cửu với Người. Dĩ nhiên, sự sống mà Đức Giêsu muốn nói là sự sống lại, sống mãi và không bao giờ chết nữa.

9.     Thưa thầy, thầy nói tốt quá: NhómKinh Sư” xuất hiện và đóng lại cuộc tranh luận giữa Đức Giê-su và nhómXađốcvới một xác nhận tích cực. CácKinh Sư” cũng thường xuất hiện như những nhân vật đối nghịch với Đức Giêsu trong nhiều vấn đ (x. Lc 5,21.30; 6,7; 15,2) thậm chí, có nhiều lần, họ tìm cách loại trừ Đức Giêsu (x. Lc 9,22; 11,53;19,47; 20,19; 22,2). Tuy nhiên, trong hoàn cảnh này họ đã bị luận chứng của Đức Giêsu khuất phục. Vì họ là những chuyên gia về Thánh Kinh và sách Luật, nên chứng nhận của họ là cần thiết và có mức đtin cậy cao. Chính vì thế, sau lời khen của họ về cách trả lời của Đức Giêsu, thì không ai bàn đến vấn đề này nữa. Vì  “Kinh Sư” là đối thủa của Đức Giêsu, nên xác nhận của họ càng có giá trị hơn, theo nghĩa là, ngay cả những người không đồng thuận với Đức Giêsu trong nhiều vấn đ, vẫn phải đồng ý với Người về vấn đề này.

Bình luận tổng quát

Cách đặt vấn đề có tính mỉa mai, bài trừ về niềm tin vào “phục sinh của những người chết” và sự sống vĩnh cửu đời sau, mà nhóm Xađốc nhắm đến Đức Giêsu, có thể cũng là thắc mắc chung cho tất cả những người hoài nghi về mầu nhiệm này. Sở dĩ, họ chất vấn, bắt bẻ Đức Giêsu về điều này vì Người là một thầy dạy nổi tiếng trong dân. Một trong những giáo huấn của Người là “sự sống lại của những người chết”. Có lẽ, đây cũng là câu hỏi hóc búa mà họ đã từng nhiều lần tranh luận với nhóm Pharisêu, những người cũng chủ trương có sự sống sau cái chết, có sự sống đời sau. Câu hỏi của họ bắt đầu từ một nền tảng được lấy ra từ những điều mà ông Môsê đã viết về luật “nối hôn” (thế huynh) để sanh con nối dõi. Dựa vào ông Môsê là dựa vào một cột trụ về Lề Luật cách chắc chắn nhất, và không ai có thể làm ngược lại được. Điều mà những người Xađốc nhắm đến là những vấn nạn khó có thể nào giải quyết được nếu như có sự sống lại, cụ thể là: Rất khó có thể xác định một người phụ nữ là vợ của ai nếu như cả bảy anh em đều đã lấy bà làm vợ. Đức Giêsu không đưa một câu trả lời trực tiếp nhưng mở ra một chân trời mới về sự khác biệt giữa tình trạng con người đời này và đời sau. Những con người được Thiên Chúa xem xứng đáng đạt được sự sống đời sau là những con người giống như thiên thần, ngang bằng với thiên thần, là con cái của Thiên Chúa, con cái của sự phục sinh. Họ không thể chết nữa, và cũng không cần ai phải giúp họ duy trì nòi giống nữa. Vì thế, không còn cần phải cưới vợ lấy chồng theo nghĩa truyền sinh và duy trì nòi giống nữa. Giả như người ta sống lại mà vẫn tiếp tục tình trạng giống như trước khi chết thì sống lại chẳng có ý nghĩa gì. Sự sống lại, bao gồm một sự thay đổi tốt hơn về phận người, đạt đến mức độ hạnh phúc viên mãn và vĩnh cửu. Đức Giêsu nhập, nhập thế để giới thiệu cho người ta một sự sống đời đời viên mãn với Chúa và hướng dẫn cho họ con đường để đạt đến sự sống ấy. Để minh chứng cho giáo huấn “người chết sống lại”, Đức Giêsu, trích dẫn lời chứng của ông Môsê, cột trụ vững chắc mà những người Xađốc đã dựa vào. Nếu như ông Môsê đã nói về luật “nối hôn”, thì ông Môsê cũng đã nói đến mặc khải về Thiên Chúa trong đoạn văn “bụi gai”. Đó là một Thiên Chúa tự giới thiệu mình là “Đấng Hằng Hữu”, một Thiên Chúa luôn hiện hữu, không bao giờ thôi hiện hữu. Thiên Chúa ấy muốn giải thoát dân Ítrael khỏi ách nô lệ, ban cho họ sự tự do và sự sống trong đất hứa. Thiên Chúa Hằng Hữu không phải là Thiên Chúa của những người chết, mà là Thiên Chúa của những người sống. Những ai Người ghé mắt nhìn đến đều sống. Các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Jacóp, tuy chết rồi nhưng họ vẫn đang sống. Và dĩ nhiên, những ai được gọi là con Thiên Chúa, đều là con cái sống lại và con cái của sự sống vĩnh cửu. Câu chuyện được những người Xađốc mở ra, nhưng được đóng lại bởi những người Kinh Sư, những người nghiên cứu và am hiểu Thánh Kinh. Và khi chuyên gia Thánh Kinh đã đồng ý với Đức Giêsu cách hoàn toàn, thì không ai còn dám hỏi Người bất cứ điều gì nữa.

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD



[1] X. J.J. Scott, “Sadduccees”, The New International Dictionary of New Testament Theology Vol.3 (ed. C. Brown) (Grand Rapids 1978) 439-441.

[2] “Surprisingly little is known of them, undoubtedly owing to their loss of position following the destruction of the Jerusalem temple” [J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids 1997) 718].

[3] “The descendants of Zadok (bĕnê Ṣādôq) were granted the privilege of officiating as priests in the Temple after the return from the Babylonian Captivity. These “Zadokites” formed the nucleus of the priesthood staffing the Jerusalem Temple. 1 Chr 5:30–35 [6:4–10E] traces the lineage of Zadok back to Eleazar, elder son of Aaron” [J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV. Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 28A, 1302-1303].

[4] L.T. Johnson, the Gospel of Luke (SP3; Collegeville 1997) 312.

[5] “Jesus’ identity as “teacher” is juxtaposed with the authority of Moses (vv 28, 37, 39), and the position of the Sadducees is evidently contrasted with that of the legal experts, who side with Jesus on the question of the resurrection The Sadducees, known for their emphasis on the Torah, attempt to set Jesus up; appealing to Moses, they concoct a scenario that, in essence, requires Jesus to answer the question, Do you follow Moses?” (Ibid.).

[6] “No reason emerges in the story itself; it was, however, a favorite number among the Jews and suits well a storytelling purpose” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1304).

[7] “Within this co-text, however, it can hardly be read as anything but a further attempt to ensnare Jesus by embarrassing him before the people” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 717).

[8] “Of Pharisaic belief in an afterlife, Josephus writes: They hold that “every soul is imperishable, but only the soul of the good passes into another body, whereas the souls of the wicked are punished with eternal penalties” (J.W. 2.8, 14 § 163). He further explains the passage into another body: “Their souls remain spotless and obedient, obtain a very holy place in heaven, from which, at the turn of the ages they will again inhabit bodies” (J.W. 3.8, 5 § 374)” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1032).

[9] J.B. Green, The Gospel of Luke, 720.

[10] “their “worth” is not measured by comparison with others in a perpetual tug-of-war for honor and prestige in the agonistic culture of “this world,” but is granted by God. On what basis? Earlier, “children of God” were understood to be those whose dispositions are marked by mercy, giving without expectation of return, love of enemies (6:35–36); here, people are marked as “children of God” by virtue of their being “children of the resurrection” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 720-721).

[11]To that age and to the resurrection from the dead is basically a hendiadys, the second phrase modifying or explaining the first; hence e.g. ‘that age, when the dead come to life again’.—That age, i.e. ‘the age to come” [J. Reiling & J.L. Swellengrebel, A handbook on the Gospel of Luke (USB Handbook Series; New York 1993, c1971) 654].

[13]They are equal to the angels: in their future immortality, not just in not being mairried” [E. Schweitzer, The Good News According to Luke (Atlanta 1984) 307]; Stöger, Das Evangelium, 182.

[14] Schneider, Das Evangelium, 406; SCHMITHALS, Das Evangelium,196; Soger, Das Evangelium, 182; Lagrange, Evangile, 516.

[15] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1300; B. WEISS, Die Evangelien des Markus und Lukas (Gottingen 1901) 608.

[16] “Such persons participate in the system envisioned and advocated by the Sadducees, itself rooted in the legislation governing levirate marriage women given and taken, even participating in their own objectification as necessary vehicles for the continuation of the family name and heritage” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 721).

[17]Marriage and procreation are necessary so that the human race not die out, so that the life of this age be continued(J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1035).

[18] “the Sadducees not only fail to understand how the age to come differs from this age, but fail to understand what it is that makes this life without end a certainty. Ultimately, their question and their refusal to believe in the resurrection from the dead reveals a painful misunderstanding of the nature of the God they claim to know. It is for this failure that Mark feels constrained to note twice the grossness of their error” (J.J. Kilgallen, “The Sadducees and Resurrection from the Dead: Luke 20,27-40”, Biblica 67/4 (1986) 478-495, 487).

[19] Danh xưngThiên Chúa” được lặp lại ba lần như để nhấn mạnh (τὸν θεὸν Ἀβραὰμ καὶ θεὸν Ἰσαὰκ καὶ θεὸν Ἰακώβ).

[20] Trong tiếng Anh, Pháp, Ý, Latinh, tương đương là: “The Lordkhác với God”; “Le Seigneurkhác vớiDieu”; “Il Signorekhác vớiDio”; “Dominuskhác vớiDeus”

[21] “The second half of Jesus’ rejoinder engages the Sadducees more directly on exegetical grounds. Because they accord privilege to the Torah, he himself also turns to Moses in order to provide scriptural warrant for resurrection-belief” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 721-722).

[22]The very grammar - genitival phrase - evokes the sense of "possessiveness” which the phrase expresses. It means lit- tie or nothing to argue that the phrase need not be understood as Jesus understands it; he is claiming that this highly revered phrase of Jewish tradition professes a love of God for Abraham which can only mean that Abraham will be forever with God” (J.J. Kilgallen, “The Sadducees and Resurrection”, 488); “Yahweh identified himself to Moses as the God of the patriarchs who were long since dead—then they must be living in some sense, for this identification not only shows that “the dead are raised” (v. 37), but even that Yahweh is a God of the living, not of the dead, and furthermore (Luke adds) that “to him they are all alive” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1301).

[23]if Yahweh is left to Himself Human beings 'for their part, however, can thwart Yah-weh’s intention to give life. By refusing Him they can destroy the intentions of Yahweh’s love. Thus, in practice, the gift of love will reach only those dead who had Yahweh as their one and only God in such a way that they can be judged worthy of life forever with Him: these are His children. It is sin which causes death; Yahweh is God only of living beings.” (J.J. Kilgallen, “The Sadducees and Resurrection”, 493).