Thursday, 26 May 2022

CHIA TAY TRONG NIỀM VUI. Chú Giải Tin Mừng CN Chúa Thăng Thiên, Năm C (Lc 24,46-53)

 Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

44 Εἶπεν δὲ πρὸς αὐτούς· οὗτοι οἱ λόγοι μου οὓς ἐλάλησα πρὸς ὑμᾶς ἔτι ὢν σὺν ὑμῖν, ὅτι δεῖ πληρωθῆναι πάντα τὰ γεγραμμένα ἐν τῷ νόμῳ Μωϋσέως καὶ τοῖς προφήταις καὶ ψαλμοῖς περὶ ἐμοῦ.

 45  τότε διήνοιξεν αὐτῶν τὸν νοῦν τοῦ συνιέναι τὰς γραφάς·

46  καὶ εἶπεν αὐτοῖς ὅτι οὕτως γέγραπται παθεῖν τὸν χριστὸν καὶ ἀναστῆναι ἐκ νεκρῶν τῇ τρίτῃ ἡμέρᾳ,

 47 καὶ κηρυχθῆναι ἐπὶ τῷ ὀνόματι αὐτοῦ μετάνοιαν εἰς ἄφεσιν ἁμαρτιῶν εἰς πάντα τὰ ἔθνη. ἀρξάμενοι ἀπὸ Ἰερουσαλὴμ

 48 ὑμεῖς μάρτυρες τούτων.

 49 καὶ [ἰδοὺ] ἐγὼ ἀποστέλλω τὴν ἐπαγγελίαν τοῦ πατρός μου ἐφ᾽ ὑμᾶς· ὑμεῖς δὲ καθίσατε ἐν τῇ πόλει ἕως οὗ ἐνδύσησθε ἐξ ὕψους δύναμιν.

 50   Ἐξήγαγεν δὲ αὐτοὺς [ἔξω] ἕως πρὸς Βηθανίαν, καὶ ἐπάρας τὰς χεῖρας αὐτοῦ εὐλόγησεν αὐτούς.

 51 καὶ ἐγένετο ἐν τῷ εὐλογεῖν αὐτὸν αὐτοὺς διέστη ἀπ᾽ αὐτῶν καὶ ἀνεφέρετο εἰς τὸν οὐρανόν.

 52  Καὶ αὐτοὶ προσκυνήσαντες αὐτὸν ὑπέστρεψαν εἰς Ἰερουσαλὴμ μετὰ χαρᾶς μεγάλης

 53  καὶ ἦσαν διὰ παντὸς ἐν τῷ ἱερῷ εὐλογοῦντες τὸν θεόν.

 (Lk. 24:46-53 BGT)

44 Người nói cùng họ: “Những lời này, những lời mà Thầy đã nói cùng anh em, khi Thầy còn ở với anh em, rằng nhất thiết tất cả những điều đã được chép trong sách Luật Môsê, các sách Ngôn Sứcác Thánh Vịnh về Thầy đều phải được hoàn tất.”

45 Rồi Người mở trí của họ để họ hiểu Sách Thánh.

46 Và Người nói cùng họ rằng: “Có điều đã được chép như vậy, Đấng Kitô phải đau khổ và trỗi dậy từ cõi chết vào ngày thứ ba.

47 Lòng hoán cải để được ơn tha tội phải được loan báo cho muôn dân tộc, bắt đầu từ Giêrusalem.

48 Anh em là chứng nhân của những điều này.

49 Và này kìa, chính Thầy gửi lời hứa của Cha Thầy trên anh em. Anh em hãy ở lại trong thành cho đến khi được lãnh nhận quyền năng từ bên trên.

50 Người dẫn họ đến gần Bêtania, và sau khi giơ tay lên, Người chúc lành cho họ.

51 Và chuyện xảy ra là trong khi chúc lành cho họ, Người rời khỏi họ và được mang lên trời.

52 Và sau khi bái thờ Người, họ trở về Giêrusalem với niềm vui khôn tả [nghĩa đen: với niềm vui lớn].

53 và hằng ở trong đền thờ chúc tụng Thiên Chúa.

Bối cảnh

Lc 24,44-53 là đoạn cuối cùng trong loạt những trình thuật liên quan đến mầu nhiệm Phục Sinh và cũng là đoạn cuối cùng của Tin Mừng Thứ Ba. Đây là lần thứ ba Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ và cũng là lần cuối cùng theo trình thuật của Tin Mừng Luca. Những trình thuật về biến cố Phục Sinh trong Tin Mừng Luca được bắt đầu từ câu chuyện về “ngôi mộ trống” (Lc 24,1-12). Câu chuyện này kết thúc bằng sự ngạc nhiên của ông Phêrô. Sau đó là câu chuyện Đức Giêsu hiện ra và đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24,13-32). Câu chuyện này kết thúc bằng việc hai môn đệ nhận ra Đấng Phục Sinh. Cùng lúc đó, Đức Giêsu cũng hiện ra với ông Simôn theo như lời chứng của Nhóm Mười Một và các bạn hữu (Lc 24,33-35). Cuối cùng, Đức Giêsu hiện ra với cả nhóm (Nhóm Mười Một và các bạn hữu, có cả hai môn đệ Emmaus) (Lc 24,36-53), kết thúc bằng việc Đức Giêsu lên trời và các môn đệ ở lại Giêrusalem. Chủ đề liên quan đến sự đau khổ của Đấng Kitô và sự sống lại vào ngày thứ ba sau khi chết đã được Đức Giêsu nói trước ba lần (Lc 9,22; 9,43-45; 18,31-34) và lần gần nhất là trong câu chuyện “hai môn đệ trên đường về Emmaus” (Lc 24,26). Câu chuyện về sự lên trời của Đức Giêsu nối kết với truyền thống của Tin Mừng Máccô (Mc 16,19-20) và sách Công Vụ (Cv 1,9-11). Những lời căn dặn về sứ vụ rao giảng nối kết chặt chẽ với các truyền thống của hai tác giả Tin Mừng Nhất Lãm còn lại. “Phép Rửa của lòng hoán cải” được nhắc đến ở đoạn này gợi nhớ đến Phép Rửa mà ông Gioan đã rao giảng và cử hành vào đầu Tin Mừng (Lc 3,3). Không gian “trong đền thờ” vào cuối Tin Mừng cũng thống nhất với không gian “trong đền thờ” vào đầu Tin Mừng (Lc 1,9). Đó là một vài quan sát cho thấy sự nối kết vị trí của bản văn trong Tin Mừng Luca và toàn bộ Tin Mừng.

Cấu trúc

Nền tảng Sách Thánh về Đấng Kitô (44-46)

Mệnh lệnh rao giảng (47-48)

Bảo đảm bằng lời hứa của Chúa Cha (49)

Đức Giêsu lên trời (50-51)

Tinh thần và hoạt động của nhóm Tông Đồ sau khi Chúa lên trời (52-53)

Một vài điểm chủ giải

1.     Luật Mô-sê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh: Đây là cách nói bao gồm tất cả Sách Thánh Do Thái, mà Kitô giáo thường gọi là các sách Cựu Ước. Kitô giáo gọi Sách Thánh Do Thái là các sách Cựu Ước đối lại với các sách Tân Ước, những sách nói về cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu. Sách Thánh Do Thái (24 cuốn), được chia thành ba phần: (1) Torah (Luật, hay lời dạy, Ngũ Thư); (2) Neviim (các ngôn sứ); và (3) Ketuvim (các văn phẩm). Các sách Cựu Ước của Công Giáo (46 cuốn), được chia làm bốn phần: (1) Ngũ Thư (Luật); (2) Các sách lịch sử; (3) Các sách khôn ngoan; (4) Các sách ngôn sứ. Luật Môsê, ám chỉ năm cuốn sách đầu tiên của bộ sách thánh Cựu Ước (Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật). Chỉ có tác giả Luca liệt kê đầy đủ ba phần của Sách Thánh Do Thái và một lần duy nhất. Các lần khác, tác giả liệt kê hai phần: Môsê và các ngôn sứ (16,29; 16,31; 24,27) hay Lề Luật và các ngôn sứ (Lc 16,16). Tác giả Gioan cũng dùng cách nói “Môsê và các ngôn sứ” để chỉ Sách Thánh Cựu Ước (Ga 1,45). Tác giả Mátthêu gọi là “Luật và các ngôn sứ” (Mt 5,17; 7,12). Các tác giả Tin Mừng còn dùng thuật ngữ “các sách thánh” (αἱ γραφαὶ, Thánh Kinh) để nói về Thánh Kinh Cựu Ước (x. Mt 21,42; 22,29; 26,54; Mc 12,10.24; 15,28; Lc 4,21; 24,32.45; Ga 2,22; 5,39; 7,42). Những điều Sách Thánh nói về Đấng Kitô phải được ứng nghiệm (hoàn tất).[1] Động từ không ngôi “δεῖ” (phải) được đặt trước động từ “hoàn tất” diễn tả sự bắt buộc theo kế hoạch của Chúa. Động từ “hoàn tất” được dùng nhiều lần trong cách sách Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng Mátthêu, để diễn tả sự hoàn tất của lời Sách Thánh về Đấng Kitô (Mt 1,22; 2,15.23; 4,14; 8,17; 12,17; 13,35; Mc 14,49; 15,28; Lc 4,21; 21,22; 22,37; 24,24).

2.     Mở trí của họ để họ hiểu Sách Thánh: Tác giả Luca là tác giả duy nhất kể câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24,13-35), trong đó, Đức Giêsu Phục Sinh đã đồng hành và giải thích tất cả những điều liên quan đến Người trong Sách Thánh (24,27). Cũng với dấu chỉ bẻ bánh, những sự giải thích Sách Thánh của Đức Giêsu đã làm cho hai môn đệ nhận ra Người và bảo nhau: “Dọc đường khi Người nói chuyện và giải thích Sách Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã không ngừng bị đốt cháy đó sao?” (24,31). Động từ “διανοίγω” (đianoigồ), trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “mở”. Khi nó đi kèm với bổ ngữ là “đôi tai”, “đôi mắt”, “trái tim”, hay “đầu óc”, nó có nghĩa là làm ai đó có khả năng nhận thức hay hiểu biết một điều gì. Ngoài ra nó còn có nghĩa là giải thích, diễn giải. Trong câu chuyện “Hai môn đệ trên hành trình Emmaus”, tác giả sử dụng động từ này hai lần với hai nghĩa khác nhau là “Mở mắt” và “giải thích”: “Mắt của họ được mở ra (διηνοίχθησαν οἱ ὀφθαλμοὶ) và họ nhận ra Người” (24,31); và “Khi Người giải thích Sách Thánh cho chúng ta (ὡς διήνοιγεν ἡμῖν τὰς γραφάς)” (24,32). “Mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh” ở đây cũng có nghĩa là giải thích tất cả những điều liên quan đến Người trong Sách Thánh. Cách nào đó, Đức Giêsu cũng làm giống như Người đã làm với hai môn đệ trên hành trình Emmaus. Như thế, tác giả Luca cho thấy tầm quan trọng của việc Đức Giêsu xuất hiện và giải thích cho các môn đệ hiểu những mặc khải Cựu Ước, để các môn đệ tin nhận biến cố Phục Sinh, bởi vì “lòng của các ông thật chậm tin vào tất cả những điều các ngôn sứ đã nói” (24,25). Tác giả Tin Mừng Thứ Tư cũng ghi nhận tương tự, khi kết thúc trình thuật về “ngôi mộ trống”: “Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu là theo Sách Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20,9). Đây là cách thức rõ ràng cho thấy sự đan kết chặt chẽ giữa sách thánh Cựu Ước và cuộc đời Đức Giêsu được ghi lại trong sách Tân Ước.[2] Nội dung của thông điệp này bao gồm: (1) Sự tiếp nối giữa thông điệp trước và sau cuộc khổ nạn – phục sinh; (2) Sự cần nhất thiết Đấng Mêsiah phải chịu đau khổ; (3) Lời hứa về sự phục sinh vào ngày thứ ba và (4) Nhấn mạnh của sự hoàn tất.[3]

3.      Có điều đã được chép như vậy, Đấng Kitô phải đau khổ và trỗi dậy từ cõi chết vào ngày thứ ba”: Trong câu chuyện Emmaus Đức Giêsu đã chê trách các môn đệ “chậm hiểu tất cả những điều mà các ngôn sứ đã nói” và đặt câu hỏi cho các ông: “Chẳng phải Đấng Kitô đã phải chịu đau khổ như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Ở đây Đức Giêsu nói theo kiểu khẳng định. Câu nói này liên kết cách chặt chẽ với ba lần tiền báo về mầu nhiệm “khổ nạn – phục sinh” trước đó (Lc 9,22; 9,43-45; 18,31-34); với lời sứ thần nói với những người phụ nữ tại ngôi mộ trống (24,6-7) và với chính lời của Đức Giêsu trong câu chuyện “Hành trình về Emmaus” (24,25-27). Nội dung lời giải thích Thánh Kinh của Đức Giêsu gồm ba phần được diễn tả bằng ba động từ nguyên mẫu: (1) Đấng Mêsiah phải chịu đau khổ; (2) Sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba, và (3) Lòng hoán cải để được ơn tha thứ phải được công bố nhân danh Người, cho muôn nước, bắt đầu tư Giêrusalem.[4] Tuy nhiên, đâu là những dữ liệu Thánh Kinh nói về mầu nhiệm đau khổ và phục sinh của Đức Giêsu? Tác giả J. Fitzmyer cho rằng “không có một đoạn Thánh Kinh nào rõ ràng trong văn chương Do Thái tiền Kitô giáo mà nơi đó người ta có thể tìm thấy dữ liệu về một Đấng Mêsiah, người sẽ sống lại từ cõi chết… Tác giả Luca đang đọc Cựu Ước trong ánh sáng của đức tin Kitô giáo”, như ông Phaolô đã xác quyết: “Người được trỗi dậy ngày thứ ba đúng như lời Thánh Kinh” (1 Cr 15,4).[5] Tương tự như tác giả Fitzmyer, tác giả J. Green lại nghĩ rằng việc tìm một bản văn cụ thể cho khớp với lời Đức Giêsu nói là một hướng đi sai lầm. Theo ông, những lời của Đức Giêsu không phải là câu này câu kia trong Sách Thánh đã thành sự thật, nhưng là sự thật mà toàn bộ Sách Thánh muốn nhắm đến về Đấng Kitô nay đã được hiện thực hóa.[6] Dẫu rằng, trong trình thuật thương khó, tác giả Luca đã nhiều lần trích dẫn sách Thánh Vịnh và ngôn sứ Isaiah liên quan đến nhiều tình tiết trong vụ án của Đức Giêsu (Lc 22,37; cf. Is 53,12; 22,69; cf. Tv 110,1), nhưng trong trường hợp này Đức Giêsu không muốn nói đến một câu cụ thể nào. Tuy nhiên, nếu chỉ nói về đau khổ của Đấng Mêsiah, thì bài ca “Người Tôi Tớ” trong Is 53 là một bản văn minh họa khá rõ. Sách Công Vụ ghi lại câu chuyện người thái giám tổng quản của nữ hoàng nước Aithiox (Êthiôpia) đọc sách ngôn sứ Isaiah trên đường hành hương trở về. Đoạn mà ông đọc là: “Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín bị xén lông, Người chẳng mở miệng kêu ca. Bởi Người đã bị hạ xuống nên bản án của Người được hủy bỏ. Dòng dõi của Người, ai sẽ kể lại vì cuộc sống của Người trên trần gian đã bị chấm dứt” (Cv 8,32-33; Cf. Is 53,7-8). Ông Philípphê đã giải thích đoạn này và loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu cho vị thái giám. Cuối cùng, ông đã tuyên xưng niềm tin rằng “Đức Giêsu là Con Thiên Chúa” và đã chịu Phép Rửa (Cv 8,34-40).

4.     Phép rửa của lòng hoán cải để được ơn tha tội: Các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đều ghi lại việc Đức Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng. Đức Giêsu của Tin Mừng Máccô dặn rằng: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin thì sẽ bị kết án” (Mc 16,15-16). Đức Giêsu của tác giả Mátthêu nói rằng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20). Mệnh lệnh rao giảng của Đức Giêsu trong Tin Mừng Luca được lồng vào trong nội dung lời Thánh Kinh mà Người trích dẫn: “Lòng hoán cải để được ơn tha thứ phải được công bố nhân danh Người, cho muôn nước, bắt đầu từ Giêrusalem” (Lc 24,47). Luca là tác giả duy nhất ghi lại việc Đức Giêsu sai Bảy Mươi Hai môn đệ đi rao giảng (10,1-12), ngoài việc sai Nhóm Mười Hai (9,1-6). Việc sai Nhóm Bảy Mươi Hai đã hé lộ một sứ vụ rộng lớn đến với dân ngoại. Nội dung của lệnh truyền này trong Luca khác lạ so với nội dung trong Mátthêu và Máccô. “Phép rửa của lòng hoán cải để được ơn tha tội” gợi nhớ đến lời rao giảng của ông Gioan Tẩy Giả: “Ông liền đi khắp vùng ven sông Giorđan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa của lòng hoán cải để được ơn tha tội” (Lc 3,3; Cf. Mc 1,4; Mt 3,11). Cách nào đó, nội dung lời rao giảng của các môn đệ trong Tin Mừng Luca giống với ý nghĩa của Phép Rửa của ông Gioan Tẩy Giả. Nó chỉ khác ở chỗ là các môn đệ rao giảng “nhân danh Đức Giêsu cho muôn nước” và “bắt đầu từ Giêrusalem”. Đức Giêsu cho thấy những điều mà “Luật Môsê, các ngôn sứ và các Thánh Vịnh” nói trước không chỉ là sự chết và phục sinh của Người, mà còn là sứ vụ đến với dân ngoại. Bản văn Thánh Kinh nằm phía sau sứ vụ đến với dân ngoại có thể là Is 49,6, trong đó, “Người Tôi Trung” của Chúa được giao cho hai sứ vụ: (1) Nâng dậy những chi tộc của Giacóp; (2) Trở thành ánh sáng cho muôn nước, để ơn cứu độ của Chúa có thể lan rộng đến tận cùng cõi đất. Sứ vụ “đến với muôn dân” cũng gợi nhớ đến lời hứa của Chúa dành cho tổ phụ Ápraham: “Ngươi sẽ là một phúc lành…Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,2-3).[7] Điều đặc biệt là những điều trong mệnh lệnh này đều được các môn đệ thực thi và được ghi lại trong Sách Công Vụ:[8] (a) Sự công bố (rao giảng) (Cv 8,5; 9,20; 19,13; 20,25; 28,31); (b) Của lòng hoán cải (Cv 5,31; 11,18; 13,24; 20,21; 26,20); (c) Sự tha thứ tội lỗi (Cv 2,38; 5,31; 10,43; 13,38; 28,18; (d) Trong danh Đức Giêsu (Cv 2,38; 3,6.16; 4,7.10.12.30;…); (e) Cho muôn nước (Cv 9,15; 10,35.45; 11,1.18; 13,46-47; 14,16.27; …).[9]

5.     Bắt đầu từ Giêrusalem: Các môn đệ được căn dặn ở lại trong thành Giêrusalem và sau khi Đức Giêsu lên trời, họ đã làm theo lời Đức Giêsu: Trở lại thành Giêrusalem và ở lại đó. Và từ nơi này họ bắt đầu sứ vụ. Sách Công Vụ ghi lại lời căn dặn của Đức Giêsu về sứ vụ làm chứng nhân của các môn đệ: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Đây cũng chính là khung sườn cho toàn bộ các hoạt động của các môn đệ trong sách Công Vụ.

6.     Là những chứng nhân: Cả Tin Mừng lẫn sách Công Vụ đều nhấn mạnh vai trò chứng nhân của các môn đệ. Những người này đã hiện diện với Đức Giêsu ngay từ lúc Phép Rửa của ông Gioan Tẩy Giả, cho đến khi Người rời chúng ta và được đưa lên trời. Họ là chứng nhân cho tất cả cuộc đời của Đức Giêsu nhất là khổ nạn và phục sinh (Cv 1,22).[10] Căn tính của các môn đệ là căn tính chứng nhân cho Đức Kitô. Cả cuộc đời còn lại của họ là cuộc sống chứng nhân. Họ sẽ làm chứng nhân qua những lời rao giảng (Cv 3,11-26; Cv 15,7-12), qua những dấu lạ (Cv 3,1-10; 5,12; 7,1-54; 9,36-42). Dù cho có bị công quyền và giáo quyền chống đối (Cv 5,17-21; 8,3), bách hại họ vẫn trung thành với sứ vụ làm chứng của mình cho đến cùng, thậm chí sẵn sàng chết vì Đức Kitô (Cv 7,55-60; Cv 12,2). Danh xưng chứng nhân được áp dụng cho các nhân vật trong sách Công Vụ (Cv 1,8.22; 2,32; 3,15; 5,32; 10,39-41; 13,31; 22,15.20; 26,16). Danh từ “μάρτυς” (martus) trong tiếng Hy Lạp vừa có nghĩa là chứng nhân theo ngôn ngữ tòa án, vừa có nghĩa là người nói những điều mà người ấy tin và là người bị giết vì niềm tin của mình. Ngôn ngữ hiện đại ảnh hưởng bởi ngôn ngữ Latin, thường dùng danh từ này để chỉ các vị thánh tử đạo: Martiris (Latin); Martyr (Tiếng Anh); Martire (Ý, Pháp); Mártir (TBN

7.     Lời hứa của Cha Thầy …quyền năng từ bên trên: Lời hứa của Cha là lời hứa ban Thánh Linh. Tin Mừng Luca không ghi lại cách cụ thể lời hứa ban Thánh Linh của Chúa Cha. Tuy nhiên, điều này được nói đến cách rõ ràng trong sách Công Vụ (Cv 1,4.5-8; 2,33). Trong Tin Mừng Thứ Tư, người ta có thể tìm thấy nhiều dữ liệu hơn về lời hứa ban Thánh Linh: “Thầy sẽ xin cùng Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Paracletos khác, đến ở cùng với anh em luôn mãi” (Ga 14,16); Đấng Paracletos là Thánh Linh, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy. Đấng ấy sẽ dạy và làm cho anh em nhớ lại tất cả những điều Thầy đã nói cùng anh em (14,26); “Khi Đấng Paracletos đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến từ nơi Chúa Cha. Người là Pnêuma sự thật, Người sẽ làm chứng về Thầy (15,26). Trong Tin Mừng Thứ Tư, Đức Giêsu ban Thánh Linh cho các môn đệ, cùng với sứ vụ sai đi, ngay trong lần đầu tiên Đức Giêsu hiện ra với các ông sau khi Người Phục Sinh: “Nói xong Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Linh” (Ga 20,22). Trong truyền thống của tác giả Luca, Thánh Linh ngự xuống như hình lưỡi lửa không những trên các Tông Đồ mà trên tất cả những ai đang ở với họ trong phòng Tiệc Ly: “Ai nấy cùng được đầy Thánh Linh. Họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Linh ban cho” (Cv 2,4). Truyền thống của sách Công Vụ cho biết là “trong bốn mươi ngày” sau khi sống lại Đức Giêsu hiện ra trò chuyện với các môn đệ. Trong một lần hiện ra và dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu lặp lại lời căn dặn là không được rời khỏi Giêrusalem mà phải ở lại để chờ đợi lời hứa của Cha Thầy” (Cv 1,4). Đức Giêsu gọi đó là Phép Rửa trong Thánh Linh: “Trong ít ngày nữa anh em sẽ chịu Phép Rửa trong Thánh Linh” (Cv 1,5). “Quyền năng từ bên trên” chính là quyền năng Chúa Cha ban tặng và cũng là Thánh Linh. Tác giả Luca đã đề cập đến “quyền năng Thần Khí thúc đẩy” Đức Giêsu đi về miền Galilê (Lc 4,14).[11] Thánh Linh đã hoạt động trong cuộc đời của Đức Giêsu như thế nào, thì Người cũng đã hoạt động trong cuộc đời các môn đệ và của Giáo Hội như vậy.

8.     Gần Bêtania: Trong bốn tác giả sách Tin Mừng chỉ có hai tác giả ghi lại sự việc Đức Giêsu lên trời. Đó là tác giả Máccô (Mc 16,19-20) và Luca (24,50-53).[12] Máccô không đề cập đến địa danh nơi Đức Giêsu lên trời, trong khi tác giả Luca xác định đó là một nơi gần làng Bêtania. Đây là một ngôi làng ở phía Đông triền Núi Ôliu (Mc 11,1; Lc 19,29), cách Giêrusalem khoảng hơn 3 km về phía Đông (Ga 11,18). Đây là nơi có nhà của Maria, Mátta và Ladarô (Lc 10,38,42; Ga 12,1-8; Mt 21,17), nơi Đức Giêsu phục sinh ông Ladarô (Ga 11,1-44) và được xức dầu trong nhà của ông Simon, người cùi (Mt 26,6-13; Mc 14,3-9; Cf. Ga 12,1-8).[13] Xem ra các tác giả Tin Mừng nói khá nhiều đến sự thân quen của Đức Giêsu với mảnh đất Bêtania, nhưng chỉ có một mình tác giả Luca cho biết đây cũng là địa điểm Đức Giêsu lên trời.[14] Truyền thống Cựu Ước nối kết sự trở lại của Chúa với Núi Ôliu: “Vào ngày ấy những bàn chân của Người sẽ đứng trên Núi Ôliu, nằm trước Giêrusalem về phía Đông, và Núi Ôliu sẽ bị tách ra làm đôi từ Đông sang Tây bởi một thung lũng lớn; để mà một nửa của núi sẽ rút lui về phía Nam và một nửa sẽ rút lui về phía Bắc” (Dcr 14,4); “Và vinh quang của Chúa sẽ đi xuống từ giữa thành, và dừng lại trên núi phía Đông của thành” (Ed 11,23). Có lẽ, tác giả Luca muốn nối kết nơi Đức Giêsu lên trời với nơi mà “ngày của Chúa” (ngày cánh chung) diễn ra theo truyền thống của Cựu Ước.[15] Ngày nay, trên núi Ôliu còn gốc tích một ngôi nhà nguyện nhỏ, nằm trong khuôn viên của một nhà nguyện lớn hơn, được gọi là Nhà Nguyện Thăng Thiên. Điểm đặc biệt của nguyện đường này là bên trong còn một bệ đá, nơi được cho là in bàn chân của Đức Giêsu lúc Người lên trời.

9.     Được mang lên trời: Tác giả Máccô chỉ diễn tả cách đơn giản biến cố Thăng Thiên: “Đức Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19). Tác giả Luca diễn tả cách đặc biệt hình ảnh Đức Giêsu lên trời không những một lần mà hai lần: Lần thứ nhất trong sách Tin Mừng và lần thứ hai trong sách Công Vụ Tông Đồ. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu dẫn các môn đệ đến gần Bêtania, rồi đưa tay chúc lành cho họ và đang khi chúc lành thì Người rời khỏi các ông và được đưa lên trời.[16] Rồi, sau khi bái lạy Người, các môn đệ trở về Giêrusalem với niềm vui khôn tả. Cảnh tượng này giống như một buổi cử hành phụng vụ, trong đó Đức Giêsu là tư tế chúc lành cho các môn đệ, trong khi các môn đệ thì bái lạy Người.[17] Hơn nữa, khi chúc lành cho các môn đệ Đức Giêsu gợi nhớ đến truyền thống lâu đời trong Thánh Kinh. Thiên Chúa đã chúc lành cho ông bà nguyên tổ Adam và Evà (St 1,28); Cho ông Nôê và gia quyến sau Đại Lụt (St 9,1); cho tổ phụ Ápraham và hậu duệ vào lúc ông khởi hành (St 12,1-3). Trong truyền thống Cựu Ước, cũng có những tổ phụ chúc lành cho con cháu. Họ tin rằng lời chúc phúc của người cha già hiệu nghiệm và không thể thay thế trong truyền thống Cựu Ước. Sách Đệ Nhị Luật chương 33 cũng ghi lại lời chúc phúc dài cuối cùng của ông Môsê.[18] Đức Giêsu chúc phúc cho các môn đệ trong tư cách là một tư tế, một tổ phụ và hơn hết là một Thiên Chúa, nhằm ban sự tốt lành và bảo vệ các môn đệ trong giây phút chia tay.[19] Trong sách Công Vụ, Đức Giêsu không chúc lành cho các môn đệ. “Khi họ đang nhìn, Đức Giêsu được nâng lên, và có đám mây nhận lấy Người, đi khỏi tầm mắt của họ” (Cv 1,9). Thêm một chi tiết khá lý thú nữa là sự hiện diện của các sứ giả từ trời. Có hai người đàn ông mặc áo dài trắng đứng bên họ và nói rằng: “Hỡi những người đàn ông Galilê, tại sao còn đứng nhìn lên trời, Đức Giêsu, Đấng mà được mang lên trời khỏi các ông, sẽ đến cùng một cách thức như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 10,11). Sách Công Vụ rõ ràng nói về cuộc quang lâm của Đức Giêsu. Ý nói rằng Người sẽ trở lại trong đám mây như cách Người lên trời. Đức Giêsu đã từng nói về hình ảnh Con Người sẽ “ngự giá mây trời mà đến” như vậy (Mt 24,30; 26,64; Mc 14,62). Việc các môn đệ bái lạy Đức Giêsu cho thấy họ đã hoàn toàn nhận ra Người là Thiên Chúa. Hành động bái lạy này còn được tiếp nối với hành động liên lỉ tán tụng Thiên Chúa trong đền thờ sau đó. Những thực hành này cho thấy chiều sâu bên trong của Kitô giáo: Thờ phượng Đức Giêsu hoàn toàn tương thích với chúc tụng Thiên Chúa trong phụng vụ của đền thờ Giêrusalem.[20]

10.  Trở về Giêrusalem … ở trong đền thờ: Câu chuyện cuộc hiện ra cuối cùng của Đức Giêsu và cũng là câu chuyện cuối cùng của Tin Mừng Luca kết thúc với việc các môn đệ làm theo lời Đức Giêsu dặn. Họ trở về, ở lại trong thành Giêrusalem để chờ đợi “lời hứa của Chúa Cha”. Địa danh Giêrusalem là một tử địa dành cho Đức Giêsu theo trình thuật của các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm, đặc biệt là tác giả Luca. “Lên Giêrusalem” đồng nghĩa với việc hoàn tất “cuộc xuất hành” mà Người đã thảo luận với Ông Môsê và ông Êlia; đồng nghĩa với việc tử nạn và phục sinh (Mt 20,17.18; Mc 10,32.33; Lc 9,51; 18,31). Luca là tác giả Tin Mừng duy nhất có trình thuật về hành trình lên Giêrusalem dài nhất trong các tác giả Tin Mừng (9,51 – 19,27) và thỉnh thoảng ông lại nhắc cho độc giả nhớ rằng Đức Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem (Lc 13,22; 17,11; 19,28). Địa danh Giêrusalem cũng là nơi chờ đợi “lời hứa của Chúa Cha”; “quyền năng từ bên trên” và là nơi khởi đầu cho sứ vụ làm chứng của các môn đệ. Hoàn toàn khác với tác giả Tin Mừng Mátthêu, và Máccô, những người ghi lại cuộc hẹn cuối cùng của Đức Giêsu và các môn đệ ở tại Galilê sau khi Người Phục Sinh (Mt 26,32; 28,7.10.16; Mc 14,28; 16,7), tác giả Luca không hề nhắc đến cuộc hẹn này. Đức Giêsu của Luca dặn đi dặn lại các môn đệ phải ở lại trong thành Giêrusalem. Lời dặn này lại được tiếp tục nhắc lại trong sách Cộng Vụ (Cv 1,4). Địa danh Giêrusalem nối kết một cách chặt chẽ với trình thuật của sách Công Vụ, trong đó, sứ vụ của các môn đệ khởi đi từ “Giêrusalem, rồi đến Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất”. Chi tiết “các môn đệ hằng ở trong đền thờ”[21] thống nhất chặt chẽ với phần đầu của Tin Mừng, cũng kể về sự kiện tư tế Dacariass cầu nguyện, dâng hương trong đền thờ (Lc 1,5-22). Có thể nói rằng, Tin Mừng Luca khởi đầu trong đền thờ và kết thúc trong đền thờ.[22] Sách Công Vụ không nhấn mạnh đến nơi chốn đền thờ (“họ hằng ở trong đền thờ tán tụng Thiên Chúa”) cho bằng nhấn mạnh họ tụ họp với nhau trong “Phòng Tầng Trên” (phòng Tiệc Ly) sau khi trở về từ núi Ôliu, để chờ đợi Chúa Thánh Linh. Tuy nhiên, sách Công Vụ vẫn nhấn mạnh đến bầu khí cầu nguyện: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu của Đức Giêsu và với anh em của Đức Giêsu” (Cv 1,14). Sau khi chia tay Đức Giêsu và nhận phúc lành, các môn đệ trở về đời thường với niềm vui khôn tả và sống một đời sống mới với lời ca tụng Chúa không ngừng.

Bình luận tổng quát

Câu chuyện của tác giả Luca về Đức Giêsu đến hồi kết với cảnh tượng các môn đệ “hằng ở trong đền thờ chúc tụng Thiên Chúa”. Tác giả lại dẫn độc giả vào đền thờ thành Giêrusalem, nơi mà tác giả đã bắt đầu câu chuyện của mình. Khởi đầu Tin Mừng, tư tế Dacariass dâng hương trong đền thờ để cầu nguyện cho dân, và cũng để gởi trao một khát vọng sâu xa của riêng ông. Đó là có một đứa con nối dõi một gia đình dòng dõi tư tế công chính, thánh thiện bậc nhất trong Ítrael. Thiên Chúa đã nhậm lời ông và bà Êlisabét, hiền thê của ông đã có thai và sinh hạ Gioan Tẩy Giả ít lâu sau đó. Kết thúc Tin Mừng là khung cảnh các môn đệ lại tụ họp trong đền thờ, hằng tán tụng Thiên Chúa, và chờ đợi “lời hứa của Chúa Cha”. Lời hứa ấy được thực hiện cùng với một sứ vụ kèm theo: “Loan báo ơn hoán cải để được ơn tha tội cho muôn dân nước” hay là “sứ vụ chứng nhân”. Cách nào đó trong lòng các môn đệ cũng ấp ủ một lời nguyện cầu làm sao sinh con đàn cháu đống cho Nước Chúa. Khi lãnh nhận “quyền năng từ bên trên”, tức là quyền năng Thánh Thần, các môn đệ không ngừng loan báo Tin Mừng và làm cho cộng đoàn Kitô hữu không ngừng gia tăng về số lượng và chất lượng sống đạo. Cả cuộc đời của họ là cuộc đời của những chứng nhân. Họ là chứng nhân cho mầu nhiệm chết và phục sinh, cũng như tất cả những giáo huấn của Đức Giêsu. Họ làm chứng không những bằng lời giảng dạy, bằng lối sống, bằng phép lạ, mà còn bằng chính cái chết của mình. Muốn làm chứng nhân cho Chúa, các môn đệ phải xác tín niềm tin của mình vào Đức Giêsu Phục Sinh và tìm được niềm hạnh phúc trong niềm tin ấy. Quả thế, trước lúc về trời, Đức Giêsu đã giơ tay chúc lành cho họ và họ đã vui mừng khôn kể xiết. Những lần Đức Giêsu hiện ra sau Phục Sinh đã làm cho các môn đệ nhớ lại những lời Đức Giêsu đã nói với họ về mầu nhiệm Khổ Nạn Và Phục Sinh, qua đó họ hiểu toàn cảnh mầu nhiệm ơn cứu độ, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Đức Giêsu đã chứng minh cho họ là tất cả những điều Thánh Kinh nói về Người phải được ứng nghiệm. Người mở trí cho họ hiểu Thánh Kinh, cũng như người đã mở trí cho hai môn đệ trên hành trình Emmaus. Qua lời giải thích của Người, họ chợt nhận ra rằng Thánh Kinh Cựu Ước nói về Người và được hoàn tất trong cuộc đời và sứ vụ của Người. Bằng chứng Thánh Kinh càng làm cho họ xác tín hơn về thân phận “Mêsiah” của Người, Đấng mà Thiên Chúa đã mặc khải trong lịch sử Cựu Ước. Sách Công Vụ Tông Đồ như là một hiện thực hóa cho niềm xác tín, tình yêu và sứ vụ chứng nhân của các môn đệ dành cho Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

 Mỗi người kitô hữu đều có một căn tính “chứng nhân” và có sứ vụ làm chứng để cho người khác yêu Chúa và trở về với Chúa để được ơn cứu độ. Một mặt, họ phải làm chứng về mầu nhiệm sự chết, phục sinh, và lên trời của Đức Giêsu. Mặt khác, họ phải làm chứng về lối sống và lẽ sống của Đức Giêsu như là lý tưởng sống tuyệt đối mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người. Tất cả các kitô hữu đều được lãnh nhận “lời hứa của Chúa Cha”, “quyền năng từ bên trên” hay quyền năng Thánh Linh ngay từ khi họ chịu Phép Rửa, và nhất là lúc họ nhận bí tích Thêm Sức. Họ cũng nhận được sự chúc lành của Đức Giêsu qua từng Thánh Lễ mà họ tham dự, từng bí tích mà họ lãnh nhận. Chính vì thế, họ được mời gọi chia sẻ “niềm vui khôn tả” với các môn đệ và ca tụng Chúa không ngừng trong đời sống của mình. Nhờ đó, mọi người sẽ nhìn thấy Đức Giêsu Phục Sinh đang sống trong họ và cũng muốn cùng yêu mến và tán tụng Chúa như họ vậy.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] Nếu người ta tìm danh xưng Mê-si-ah trong Ngũ Thư (Luật), người ta chỉ thấy danh xưng này dùng cho thượng tế ngày xưa (Lv 4,3.5.16; 6,15); Trong các sách ngôn sứ, người ta có thể tìm thấy dữ liệu về Đấng Mê-si-ah trong các sách “các ngôn sứ tiền” (1 Sm 24,7.11; 26,9.11.16.23; 2Sm 1,14.16; 1 Sm 2,10.35; 12,3; 16,6. Trong các “sách ngôn sứ hậu” chỉ có một lần danh hiệu này được dùng cho hoàng đế Cyrus (Is 45,1); Trong các sách Thánh Vịnh, danh xưng Mê-si-ah hiện diện trong Tv 2,2; 18,51; 20,7; 28,8; 84,10; 89,39.52; 132,10.17 [J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV. Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 28A, 1583].

[2] “If one were to think of the stories of Israel, Jesus, and the early church as in some sense distinct, in these verses one would find the seam wherein they are sown together into one cloth” [J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids, MI 1997) 855].

[3] J.B. Green, The Gospel of Luke, 856.

[4] Ibid.

[5] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1584; “the readers know them well, because they are related to the two main articles of the kerygma, the death and resurrection, which also constitute the core of the predictions of the passion” [F. Bovon, Luke 3. A Commentary on the Gospel of Luke 19:28–24:53 (ed. H. Koester) (Hermeneia; Minneapolis, 2012) 395].

[6] J.B. Green, The Gospel of Luke, 857.

[7] M.D. Hamm, “Luke”, The Paulist Biblical Commentary (ed. J.E.A. Chiu et al.) (New York 2018) 1103.

[8] ‘“Repentance’ will be a key term describing the appropriate response to the offer of salvation in Acts” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 858).

[9] L.T. Johnson, The Gospel of Luke (SP3; Collegeville 1997) 403.

[10] “They tell not only about the suffering Messiah who is to rise, but they become the basis for the testimony that the disciples are to bear and the preaching that they are to carry out in his name” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1580).

[11] Ibid.

[12] “Nothing corresponds in the Matthean or Johannine Gospels to this scene in which Christ departs at the end of his appearance. Only the Marcan appendix has something of a parallel” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1586).

[13] M.K. Milne, “Bethany”, The HarperCollins Bible Dictionary (Ed. P.A. Achtemeier) (New York 1996) 115.

[14] “Bethany was the site from which Jesus’ triumphal entry had originated (19:29–40). That it would also serve as the locale of Jesus’ final exaltation is therefore fitting (cf. Acts 1:9–12)” ((J.B. Green, The Gospel of Luke, 860).

[15] “For the anticipated ordinance to take place, the departure had to occur at the same place, outside the city on the east side” (F. Bovon, Luke 3. A Commentary on the Gospel of Luke 19:28–24:53, 410).

[16] “the Evangelist has been preparing his audience for Jesus’ departure from as far back in the narrative as the transfiguration scene (9:31: “they were speaking of his exodus”; see also 9:51: “When the days drew near for him to be taken up” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 860); “Into heaven” signifies both the finality of Jesus’ departure (until the parousia) and Jesus’ glorified status” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 861).

[17]The combination is associated with the priests (Cf. Simeon in Luke 2:34), as when Aaron raised his hands and blessed the people (Lev 9:22), then joined Moses in blessing them (Lev 9:23; also Num 6:23; Sir 5O:2ll-21)” (L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 404); “This is the real recognition of Christ by the disciples; silently they bow down in adoration, as did the Jews before the high priest Simon (Sir 50:22) to receive his blessing” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1590).

[19] “Without deciding for either model, Luke gives his readers to understand that Jesus blesses his “descendants” as a patriarch and blesses the gathered assembly as a priest. As the raising up of the hands indicates, the blessing is more than a word. It is a performative act that communicates God’s kindness and protection and, at the time of departure or separation, ensures continuity and faithfulness.” (Ibid.)

[20] M.D. Hamm, “Luke”, 1104.

[21] “Thus Luke begins the description of the community-life of the nucleus church” (Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1591).

[22] “Thus the Lucan Gospel ends where it began” (Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1591); “Formally, the reader recognizes that the author attempts to develop an inclusio here. The Gospel started in Jerusalem, and it ends in Jerusalem. The great joy at the ascension (v. 52) parallels the great joy of Christmas (2:10). The temple provides the setting for the action here (v. 53) and there (1:9, 21; 2:27, 46)” (F. Bovon, Luke 3, 413).

Thursday, 19 May 2022

LÝ DO ĐỨC GIÊSU TỎ MÌNH CHO CÁC MÔN ĐỆ MÀ KHÔNG CHO THẾ GIAN. Chú Giải Tin Mừng CN VI PS C (Ga 14,23-29)

 Bản Văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

23 ἀπεκρίθη Ἰησοῦς καὶ εἶπεν αὐτῷ· ἐάν τις ἀγαπᾷ με τὸν λόγον μου τηρήσει, καὶ ὁ πατήρ μου ἀγαπήσει αὐτὸν καὶ πρὸς αὐτὸν ἐλευσόμεθα καὶ μονὴν παρ᾽ αὐτῷ ποιησόμεθα.

 24 ὁ μὴ ἀγαπῶν με τοὺς λόγους μου οὐ τηρεῖ· καὶ ὁ λόγος ὃν ἀκούετε οὐκ ἔστιν ἐμὸς ἀλλὰ τοῦ πέμψαντός με πατρός.

 25 Ταῦτα λελάληκα ὑμῖν παρ᾽ ὑμῖν μένων·

 26 ὁ δὲ παράκλητος, τὸ πνεῦμα τὸ ἅγιον, ὃ πέμψει ὁ πατὴρ ἐν τῷ ὀνόματί μου, ἐκεῖνος ὑμᾶς διδάξει πάντα καὶ ὑπομνήσει ὑμᾶς πάντα ἃ εἶπον ὑμῖν [ἐγώ].

 27 Εἰρήνην ἀφίημι ὑμῖν, εἰρήνην τὴν ἐμὴν δίδωμι ὑμῖν· οὐ καθὼς ὁ κόσμος δίδωσιν ἐγὼ δίδωμι ὑμῖν. μὴ ταρασσέσθω ὑμῶν ἡ καρδία μηδὲ δειλιάτω.

 28 ἠκούσατε ὅτι ἐγὼ εἶπον ὑμῖν· ὑπάγω καὶ ἔρχομαι πρὸς ὑμᾶς. εἰ ἠγαπᾶτέ με ἐχάρητε ἂν ὅτι πορεύομαι πρὸς τὸν πατέρα, ὅτι ὁ πατὴρ μείζων μού ἐστιν.

 29 καὶ νῦν εἴρηκα ὑμῖν πρὶν γενέσθαι, ἵνα ὅταν γένηται πιστεύσητε.

 (Jn. 14:23-29 BGT)

23 Đức Giêsu trả lời và nói cùng anh ta [Giuđa] “Nếu ai yêu Thầy, người ấy sẽ giữ lời của ThầyCha của Thầy sẽ yêu người ấy và chúng ta sẽ đến với người ấy và chúng ta sẽ làm chỗ ở bên cạnh người ấy”.

24 Ai không yêu mến Thầy sẽ không giữ lời của Thầy và lời mà anh em nghe không phải là của Thầy nhưng là của Cha, Đấng đã sai Thầy.

25 Những điều này Thầy đã nói với anh em, khi Thầy còn ở với anh em.

26 Đấng Paráclêtos, Thánh Linh, Đấng mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng ấy sẽ dạy anh em tất cả và làm cho anh em nhớ lại tất cả những điều Thầy đã nói với anh em.

27 Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy, Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng, lòng của anh em đừng sợ hãi, và đừng đau buồn.

28 Anh em đã nghe rằng Thầy nói cùng anh em, Thầy ra đi và đến cùng anh em. Nếu anh em yêu Thầy, anh em sẽ vui mừng vì Thầy đi đến cùng Cha, vì Cha vĩ đại hơn Thầy.

29 Và bây giờ, Thầy đã nói cùng anh em trước khi nó xảy ra, để khi nó xảy ra, anh em có thể tin.

 

Bối Cảnh

Trong bối cảnh rộng Ga 14,23-29 nằm trong phần thứ ba của Tin Mừng Gioan thường được gọi là “Sách của sự vinh quang” (13,1 – 20,29).[1] Nội dung căn bản của “sách của sự vinh quang” là Đức Giêsu đi về với Chúa Cha. Con đường đi về với Chúa Cha của Đức Giêsu gồm có bốn chặng: Đau khổ, chết, phục sinh và lên trời. Trong bối cảnh hẹp hơn, bản văn này nằm trong diễn từ từ biệt của Đức Giêsu, những lời tâm tình của Đức Giêsu với các môn đệ trước lúc chia tay (13,1 – 16,33). Trong bối cảnh trực tiếp, bản văn này nằm trong bối cảnh các môn đệ đang khủng hoảng, vì Đức Giêsu phải ra đi (Ga 14,1). Chủ đề về Đấng Bảo Trợ đã được nói đến trong Ga 14,16, được tiếp tục trong đoạn này với chi tiết cụ thể về vai trò “dạy” và “làm cho nhớ lại” (Ga 14,26). Trướ câu hỏi của ông Giuđa, không phải Giuđa Ítcariốt: Tại sao Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho họ mà lại không tỏ mình ra cho thế gian, Đức Giêsu mới trả lời cho ông cũng như các môn đệ lý do mà thế gian không thể đón nhận mặc khải của Người. Sự tỏ mình của Đức Giêsu không phải giới hạn cho các môn đệ, mà giới hạn cho “những ai yêu Chúa” mà thôi. Chủ đề “yêu và giữ điều răn” của Đức Giêsu đã xuất hiện trong 14,15. Trong đoạn này, hạn từ “điều răn” được đổi thành “lời” (14,23-24). Chủ đề “bình an” được Đức Giêsu nhắc lại trong 16,33 và sau Phục Sinh, Người liên tục chào các môn đệ bằng lời chào “bình an” (Ga 20,19.21.26). Chủ đề niềm vui của các môn đệ khi Đức Giêsu đi về với Cha được được tiếp tục trong chương 16 (Ga 16,20.22) và được hiện thực hóa trong cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và các môn đệ sau phục sinh (Ga 20,20).

Cấu Trúc

Yêu và giữ lời

Hiệu quả: Cha yêu; Cha và Con cùng đến và làm nhà bên cạnh

Không yêu sẽ không giữ lời

Không giữ lời Con thì không giữ lời Cha (24)

Nói khi Thầy còn ở với (25)

Đấng Parakletos:

Nguồn gốc: Cha gửi đến, nhân danh Thầy

Vai trò: Dạy anh em tất cả và làm cho anh em nhớ lại tất cả (26)

Điều Đức Giêsu để lại và ban tặng: Bình an (27)

Niềm vui của các môn đệ vì Đức Giêsu đến cùng Cha (28)

Nói trước khi nó xảy ra để anh em có thể tin (29)

Một số điểm chú giải

1.     Nếu ai yêu Thầy, thì người ấy sẽ giữ lời của Thầy”: Chủ đề “yêu và giữ” được Đức Giêsu lặp lại bốn lần trong đoạn 14,15-25.

“Nếu anh em yêu Thầy, thì anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (14,15)

“Người giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là người yêu Thầy” (14,21)

“Ai yêu Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy” (14,23)

“Người không yêu Thầy, thì không giữ lời Thầy” (14,24)

Bổ ngữ cho động từ “giữ” hơi khác nhau giữa hai lần đầu và hai lần sau. Hai lần đầu, đối tượng mà người yêu Đức Giêsu phải giữ là “các điều răn của Thầy” (τὰς ἐντολὰς τὰς ἐμὰς); Hai lần sau “lời của Thầy” (τὸν λόγον μου) là điều mà những người yêu Người phải giữ. Hạn từ “điều răn” có thể làm người ta liên tưởng đến “điều răn mới” mà Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ trong đêm Tiệc Ly: “Hãy yêu thương nhau” (13,34; 15,12).[2] “Điều răn” ở số nhiều có thể nối kết với “Mười Điều Răn” (Mt 19,17; 1 Cr 7,19).[3] Hạn từ “lời” có thể có nghĩa rất rộng. Nó có thể bao hàm cả “các điều răn” và tất cả những điều Đức Giêsu đã dạy. Việc sử dụng thay đổi giữa “các điều răn của Thầy” với “lời của Thầy” và “những lời của Thầy” cho thấy rằng chúng bao gồm trọn vẹn phạm vi mặc khải từ Chúa Cha, không đơn thuần chỉ là những chỉ dạy về luân lý (cf. Ga 8,31-32; 12,47-49; 17,6); Người yêu của Đức Giêsu sẽ sống trong ánh sáng các chỉ dẫn về những mặc khải của Đức Giêsu.[4]

Mối liên hệ hỗ tương giữa “yêu” và “giữ lời” là quá rõ ràng và được nhấn mạnh nhiều lần. Ngoài bốn lần này, Đức Giêsu còn nói thêm một lần khác nữa để nói lên tầm quan trọng của mối liên hệ này: “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình yêu của Người” (Ga 15,10).

Lời của Đức Giêsu cũng là “lời” của Chúa Cha. Chính vì thế, có thể nói rằng “giữ lời” của Đức Giêsu cũng là giữ lời của Chúa Cha và ngược lại. Nhiều lần Đức Giêsu chứng tỏ rằng lời của Người nói là của Chúa Cha: “Tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói” (Ga 8,26); “Tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, tôi nói như vậy” (Ga 8,28); “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thấy, chính Người làm những việc của mình” (Ga 14,10-11). Hơn nữa, nhiều lần Đức Giêsu khẳng định Người và Chúa Cha là một: “Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy” (Ga 14,10); “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30); “Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một” (Ga 17,22).

Mặc khải về mối liên hệ hỗ tương giữa “yêu” và “giữ lời” được đặt trong bối cảnh câu hỏi của ông Giuđa: “Thưa Thầy, làm thế nào mà Thầy tỏ mình cho chúng con mà không cho thế giới?”. Điều này có nghĩa rằng, Đức Giêsu không có ý giới hạn đối tượng đón nhận mặc khải của Người (chỉ cho các môn đệ mà thôi), nhưng vấn đề là có một bộ phận thế gian không tin và yêu Người. Những người không yêu Đức Giêsu thì sẽ không đón nhận và giữ “lời” của Người được. Ngay từ đầu, trong Lời Tựa, tác giả đã cho thấy có sự phân chia giữa những người không đón nhận Đức Giêsu và những người tin vào Người: “Người ở trong thế gian, thế gian nhờ Người mà được tạo thành, nhưng thế gian không biết Người. Người đã đến nhà mình nhưng người nhà của Người đã không tiếp đón, nhưng đối với những người đón nhận Người, những người tin vào danh Người, Người ban cho họ quyền trở nên con cái Thiên Chúa” (Ga 1,10-12). Trong quãng đường rao giảng, có nhiều người tin yêu Người, nhưng cũng có những người thù ghét và muốn giết chết Người.

2.     Cha của Thầy sẽ yêu người ấy: Chuỗi hiệu quả của việc yêu và giữ lời của Đức Giêsu là được Chúa Cha yêu. Hơn thế nữa, cả Chúa Cha và Đức Giêsu cùng đến với và “làm nhà” bên cạnh người ấy. Nghĩa là, Đức Giêsu bảo đảm cho người yêu Chúa một nơi ở vững chắc với Chúa.[5] Đầu chương 14, Đức Giêsu đã an ủi các môn đệ và cũng hứa về một chỗ ở: “Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến mang anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng sẽ ở đó với Thầy” (Ga 14,1-3). Tình yêu mà các môn đệ dành cho Đức Giêsu kéo họ lại gần với Đức Giêsu và Chúa Cha. Tình yêu của các môn đệ đối với Đức Giêsu không phải là điều kiện để Chúa Cha yêu thương họ, vì Chúa Cha yêu thương họ cách vô điều kiện. Đúng hơn, nên hiểu cách nói “Chúa Cha sẽ yêu mến người ấy” như là sự cảm nghiệm của “người ấy” về tình yêu và sự hiện diện của Đức Giêsu. Nghĩa là, khi người ta yêu Đức Giêsu, người ta ở lại trong tình yêu của Người và cũng cảm nghiệm được tình yêu Chúa Cha dành cho mình.

3.     Nói với anh em khi Thầy còn ở với anh em… trước khi nó xảy ra: Thời điểm Đức Giêsu nói những điều này nhấn mạnh hai lần. Lần thứ nhất Người nhấn mạnh là “nói đang khi còn ở với anh em”. Lần thứ hai Người nói là “đã nói trước khi sự việc xảy ra”. Mục đích của việc nói trước là “để anh em tin”. Khi sự việc xảy ra giống như những điều Đức Giêsu đã nói, các môn đệ tin rằng Đức Giêsu biết hết mọi sự và mọi sự xảy ra theo kế hoạch của Thiên Chúa. Qua đó, họ tin rằng những lời Đức Giêsu nói đều là sự thật và rất đáng tin cậy.

4.     Đấng Paráclêtos, Thánh Linh: Trong gần 5 chương (13,1 – 17,26), tác giả Gioan ghi lại rất nhiều điều Đức Giêsu căn dặn các môn đệ trước Cuộc Thương Khó. Một trong những giáo huấn quan trọng là sự mạc khải về Đấng “Paráclêtos”. Đề tài về Đấng này trải dài trong cả ba chương 14,15 và 16. Đây là đoạn văn thứ hai trong số năm đoạn văn nói về sứ vụ và vai trò của Đấng Paráclêtos trong Tin Mừng thứ tư (Ga 14,15-17; 14,25-26; 15,26-27; 16,7-11; 16,12-15).[6] Tên gọi Paráclêtos và những đoạn văn nói về sứ vụ và vai trò của Đấng này là tài liệu độc quyền của Gioan. Trong năm lần này, có hai lần Đấng “Paráclêtos” được định nghĩa bằng hai danh xưng tương đương: (1) Đấng Pnêuma thánh (τὸ πνεῦμα τὸ ἅγιον, thường được dịch là Thánh Thần, Holy Spirit: 14,26); (2) Pnêuma sự thật (τὸ πνεῦμα τῆς ἀληθείας, thường dịch là Thần Khí Sự Thật: 14,17; 15,26; 16,13). Rất khó để dịch nghĩa danh từ “τὸ πνεῦμα” trong tiếng Hy Lạp. Tiếng Anh dịch nghĩa là “the Spirit”, Tiếng Ý và Tiếng Pháp tương ứng là “lo Spirito” và “l’Esprit”. Tiếng Việt dịch là “Thần Khí” (CGKPV, NTT). “πνεῦμα” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “gió”, “hơi thở”, “sinh khí”, “tinh thần”, “linh hồn”, đôi khi là “hồn ma” nữa (Lc 24,37.39). Rõ ràng, không có chút “thần” nào trong từ ngữ này cả, nên dịch là “Thần Khí” có vẻ không diễn tả được rõ nghĩa của danh xưng này. Có lẽ nên gọi theo lối chuyển tự là “Pnêuma”. Danh xưng “Pnêuma”, đã xuất hiện trong lời chứng của Gioan Tẩy Giả: “Tôi đã thấy ‘Pnêuma’ đi xuống từ trời như một con bồ câu và ở lại trên Người” (Ga 1,32-33). Trong cuộc thảo luận với Nicôđêmô, Đức Giêsu cũng đã đề cấp đến “Pnêuma” đối lại với xác thịt: “Cái được sinh ra từ ‘Pnêuma’ là tinh thần, cái được sinh ra từ xác thịt là xác thịt” (Ga 3,6.8). Khi ghi chú về “nước hằng sống”, người thuật chuyện của Tin Mừng thứ tư đã cho rằng: “Người nói về ‘Pnêuma’, Đấng mà các tín hữu phải lãnh nhận; bởi vì chưa có ‘Pnêuma’ vì Đức Giêsu chưa được tôn vinh” (Ga 7,39). Trong bối cảnh chương 14,15, và 16, tác giả nói đến “Pnêuma sự thật” ba lần: “Đây là “Pnêuma sự thật”, Đấng mà thế giới không thể đón nhận, bi vì nó không thấy và cũng không biết Người” (Ga 14,17); “Pnêuma sự thật” Đấng đến từ Cha, Người sẽ làm chứng thay cho Thầy” (Ga 15,26); “khi ‘Pnêuma sự thật đến’, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Danh xưng “Pnêuma thánh” chỉ xuất hiện ba lần trong Tin Mừng thứ tư (Ga 1,33; 14,26; 20,22). Danh xưng “Pnêuma thánh” được Gioan sử dụng hai lần khác nữa. Lần thứ nhất, trong bối cảnh Gioan làm chứng về Đức Giêsu, ông nhắc đến “Đấng làm Phép Rửa” trong “Pnêuma thánh” và lần còn lại trong bối cảnh Đức Giêsu trao ban “Pnêuma thánh” cho các Tông Đồ sau khi Người Phục Sinh: “Hãy nhận lấy “Pnêuma thánh” (Ga 20,22). Danh xưng “Paráclêtos” được ghép bởi tiếp đầu ngữ “παρά” (para) và tính từ “κλητός” (kletos).  Tính từ “kletos” có nghĩa là “được mời, được gọi,” có cùng gốc với động từ “καλέω” (gọi). Tiếp đầu ngữ “para” là một giới từ thường có nghĩa là “từ, nguồn gốc từ”. Giới từ này được dùng để diễn tả nguồn gốc của Đấng “Paráclêtos”: “Đấng mà tôi sẽ gửi đến từ Cha, “Pnêuma sự thật”, Đấng phát xuất từ Cha, Đấng ấy sẽ làm chứng về tôi” (15,26).  Tuy vậy, “Paráclêtos” lại có nghĩa chẳng liên quan gì đến sự mời gọi, nhưng có lẽ danh xưng có liên quan đến nguồn gốc: “Từ Cha”. Danh từ “Paráclêtos” có nhiều nghĩa khác nhau: “người giúp đỡ”; “người an ủi”, “người bào chữa”, “người bảo vệ”, “người trung gian”. Chính vì thế, dịch theo nghĩa nào cũng không thỏa đáng. Trong bối cảnh hai đoạn văn này, Đấng “Paráclêtos” được định nghĩa là “Pnêuma thánh” và với hai chức năng đi kèm: giảng dạy và làm nhớ lại.[7] Nguồn gốc của Đấng Paráclêtos là từ Chúa Cha: “Đấng mà Chúa Cha gửi đến nhân danh Thầy”. Trước đó, Đức Giêsu đã nói là “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Paráclêtos khác, đến ở cùng anh em luôn mãi” (Ga 14,16). Có khi Đức Giêsu lại nói rằng Đấng Paráclêtos là Đấng mà Người sẽ gửi đến từ Chúa Cha, Đấng phát xuất từ Chúa Cha (Ga 15,26). Có lẽ, nên hiểu rằng Chúa Cha gửi Đấng Paráclêtos qua Đức Giêsu. Chính vì thế, chính Đức Giêsu đã trao ban “Pnêuma thánh” cho các Tông Đồ sau khi Người Phục Sinh: “Hãy nhận lấy “Pnêuma thánh” (Ga 20,22). Đức Giêsu cũng tự giới thiệu mình như là Đấng được Cha sai đến (5,38; 6,29; 10,36; 13,20; 17,3). Cách giới thiệu này nói lên nguồn gốc và sứ vụ của Đức Giêsu: Người đến từ Chúa Cha và thi hành sứ vụ Chúa Cha trao. Đấng Paráclêtos cũng được Chúa Cha sai đến, nên Người cũng có nguồn gốc từ Chúa Cha và thi hành sứ vụ của Chúa Cha.[8] “Được sai đến nhân danh” Đức Giêsu, nghĩa là Đấng Paráclêtos có vai trò đại diện cho Đức Giêsu, làm cho tất cả những mặc khải của Đức Giêsu được hiểu biết trọn vẹn và thi hành cách hiệu quả.[9]

5.     Dạy anh em tất cả và làm cho anh em nhớ lại tất cả”: Có rất nhiều vai trò của Đấng Paráclêtos được đề cập trong Tin Mừng thứ tư như là “ở lại với các môn đệ”; “chứng minh sự sai lầm của thế gian”; “dẫn đường (dạy)”, “loan báo” và “tôn vinh”. Trong đoạn văn này, hai vai trò của Đấng “Paráclêtos” cụ thể là “dạy” và “làm nhớ lại”. Nội dung “dạy” được mở ra đến vô hạn – “tất cả” (πάντα) và phạm vi “làm nhớ lại” cũng mở rộng hết tất cả những điều Đức Giêsu đã nói (πάντα ἃ εἶπον ὑμῖν). Đấng Paráclêtos dạy “tất cả” không có nghĩa rằng Đấng ấy dạy nhiều hơn Đức Giêsu trong sứ vụ của Người, nhưng là, Đấng ấy làm cho các môn đệ có thể thấy ý nghĩa đầy đủ của những lời của Đức Giêsu. Câu này có thể được hiểu trong ánh sáng của Ga 16,13-14: “Đấng Paráclêtos sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn. Người không tự mình nói, nhưng sẽ chỉ nói những điều Người nghe … vì chính từ nơi tôi mà Người sẽ lãnh nhận điều mà Người công bố cho anh em””.[10] Tác giả R. Brown (dẫn lời của tác giả Bultman) tin rằng “dạy” và “làm nhớ lại” không phải hai chức năng khác nhau của Đấng Paráclêtos, nhưng những khía cạnh khác nhau của cùng một chức năng.[11] Quả thực, Đức Giêsu đã dạy các môn đệ rất nhiều, nhưng các ông không thể hiểu hết được. Tin Mừng Nhất Lãm đã nhiều lần cho thấy các môn đệ nhiều lần “ngu muội” (Mc 6,52; 8,17); “kém tin” (Mt 6,30; 14,31; 17,20; Lc 12,28) và không hiểu (Mt 16,11; Mc 4,13; 7,18), nhất là những lời dạy của Người liên quan đến mầu nhiệm khổ nạn (Mc 9,32; Lc 9,45; 18,34). Tác giả Tin Mừng Gioan cũng ghi lại việc các môn đệ không hiểu lời của Đức Giêsu (Ga 10,6; 12,16; 16,18). Có nhiều điều Đức Giêsu muốn nói nhưng các môn đệ không có sức chịu nổi (Ga 16,12). Có hai tình huống, trong đó, tác giả ghi chú về sự “nhớ lại” và nhận ra ý nghĩa của sự kiện của các môn đệ. Thứ nhất, sau khi Đức Giêsu Phục Sinh, các môn đệ “nhớ lại” lời Đức Giêsu nói về việc “đền thờ bị phá hủy và được phục hồi trong ba ngày” (Ga 2,17). Họ đã tin vào lời Thánh Kinh và tin vào lời của Đức Giêsu. Sau khi Đức Giêsu được tôn vinh, các môn đệ mới “nhớ lại” sự kiện Người được chào đón, hoan hô như một vị vua khi bước vào thành Giêrusalem (Ga 12,16). Những sự nhớ lại này chắc chắn dưới tác động của quyền năng “dạy” và “gợi nhớ” của Đấng Paráclêtos. Đấng Paráclêtos không chỉ gợi nhớ sự kiện, mà còn làm cho các môn đệ nhận ra ý nghĩa và dẫn đến niềm tin vào tất cả những gì Đức Giêsu dạy.[12]  

6.     Để lại bình an … ban bình an: Trong khung cảnh các môn đệ đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, thì sự bình an là điều quan trọng nhất. Họ buồn vì có một người anh em đã rời khỏi vòng tay huynh đệ để đi vào “bóng đêm” của tội lỗi. Tông Đồ Giuđa đã được báo trước là sẽ nộp Thầy và đã bước ra khỏi phòng Tiệc Ly (Ga 13,21-30). Họ lo buồn, vì Đức Giêsu cho biết rằng Tông Đồ đá tảng Phêrô sẽ chối Thầy đến ba lần, trong đêm mà Tông Đồ Giuđa nộp Thầy (Ga 13,36-38). Họ hoảng sợ, vì ít lâu nữa Đức Giêsu sẽ rời họ mà họ không biết Người đi về đâu và không thể đến với Người (Ga 13,33). Sự bất an của họ không chỉ là vì sự thiếu vắng Thầy, nhưng còn là sự bách hại trong tương lai (Ga 16,33). Điều các môn đệ rất cần lúc bấy giờ rõ ràng là một sự bình an đích thực. Trước đó, Đức Giêsu đã trao ban cho họ một món quà quan trọng để ổn định cộng đoàn. Đó là “điều răn mới”: Yêu như Thầy đã yêu. Khi nào các môn đệ còn giữ “điều răn mới”, họ vẫn còn cảm nhận được tình yêu của Đức Giêsu đang lan tỏa trong cộng đoàn của mình. Kế đến, Đức Giêsu hứa sẽ xin Chúa Cha gửi một Đấng Bảo Trợ khác, đến và ở với các môn đệ luôn mãi (Ga 14,16). Đấng Paráclêtos sẽ thay thể sự hiện diện thể lý của Đức Giêsu, để nâng đỡ, ủi an, dạy, và làm nhớ lại tất cả những điều Đức Giêsu đã nói.[13] Giờ đây, Đức Giêsu lại ban bình an cho các môn đệ. “Sự bình an của Đức Giêsu” được định nghĩa bằng cách so sánh với “bình an của thế gian”: “Thầy ban không như thế gian ban”. Sự bình an của Đức Giêsu có thể là hiệu quả của sự hiện diện luôn mãi của Đấng Paráclêtos, cùng với sự hiện diện của Chúa Cha và Đức Giêsu dành cho những ai tuân giữ “lời” của Người.[14] Sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời người môn đệ là sự bình an đích thực. Sự bình an mà Đức Giêsu “để lại” cho các môn đệ có thể là hiệu quả của cuộc thương khó – chết – Phục Sinh của Người. Đó là ơn cứu độ của Vương Quốc Thiên Chúa.[15] Ngôn sứ Isaiah đã nói đến Đấng Mêsiah như là một Đấng mang hòa bình: “Người sẽ được gọi là cố vấn tuyệt vời, Thiên Chúa quyền năng và hoàng tử hòa bình” (Is 9,6); “Đẹp thay trên các núi đồi, bước chân của sứ giả công bố sự bình an, người mang tin tốt lành, công bố ơn cứu độ, người nói cùng Sion ‘Đức Chúa của ngươi thống trị” (Is 52,7). Thánh Phaolô giới thiệu Nước Thiên Chúa như là “sự công chính, hòa bình và hoan lạc trong Thánh Linh” (Rm 14,17). Tất cả trở nên hiện thực khi Đức Giêsu ra đi và trở lại. Sự bình an của Chúa không đơn giản chỉ là không có chiến tranh, bách hại,[16] nhưng là sự bình an của nội tâm, sự yên tâm vì có Chúa, ngay cả trong những đau khổ của cuộc đời. Sự hiện diện của tình yêu Chúa và sự tin tưởng vào ơn cứu độ sẽ giúp cho các môn đệ không ưu sầu và sợ hãi. Sự bình an của Chúa sẽ đạt đến viên mãn, vĩnh cửu, tròn đầy trong thời cánh chung.

7.     Thầy đi và đến cùng anh em: Trước đó ít lâu, Đức Giêsu đã nói cùng các môn đệ về sự ra đi của Người: “Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi, anh em sẽ tìm kiếm Thầy nhưng như Thầy đã nói với những người Do Thái: ‘Nơi tôi đi, các Người không thể đến được’, bây giờ, Thầy cũng nói cùng anh em” (Ga 13,33). Ông Phêrô đã hỏi rằng: “Thầy đi đâu? Đức Giêsu trả lời rằng, nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể đến được, nhưng sau này anh sẽ đi theo” (Ga 13,36). Ông Tôma lại hỏi: “Thưa Thầy! chúng con không biết Thầy đi đâu làm sao biết được đường? Đức Giêsu trả lời: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống, không ai có thể đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,5-6). Sự ra đi của Đức Giêsu là đi vào cuộc thương khó, cũng là con đường “rời thế gian mà đi về với Chúa Cha” (Ga 13,1). Sự ra đi của Đức Giêsu không phải là sự chia tay vĩnh viễn mà chỉ là tạm thời. Người cũng đã nói về sự trở lại của Người: “Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến mang anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng sẽ ở đó với Thầy” (Ga 14,1-3); “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em” (ἔρχομαι πρὸς ὑμᾶς, 14,18). Và Đức Giêsu cho biết là các môn đệ lại được gặp Người, lý do là “vì Người sống và anh em cũng sẽ sống” (Ga 14,19). Như vậy, sự chia tay giữa Đức Giêsu và các môn đệ chỉ là tạm thời, và sự gặp lại mới kéo dài vĩnh viễn. Thực tế, Đức Giêsu đã chết và phục sinh để mang lại sự sống vĩnh cửu cho các môn đệ và tất cả những ai tin vào Người. Các môn đệ sẽ trải qua kinh nghiệm vắng bóng Chúa một thời gian, nhưng rồi họ sẽ lại gặp Chúa và nhất là Người lại đến trong vinh quang để mang các môn đệ về với mình.

8.     Vui mừng vì Thầy đi đến cùng Cha: Niềm vui các môn đệ chia sẻ sự “tôn vinh” của Đức Giêsu. Đi đến với Chúa Cha có nghĩa là hoàn tất sứ vụ cứu độ mà Chúa Cha giao phó. Các môn đệ có thể chung vui với Thầy của mình. Hơn thế nữa, các môn đệ vui mừng vì ơn cứu độ, và sự bình an vĩnh cửu mà “sự ra đi và đến” của Đức Giêsu mang lại cho họ và cho nhân loại. Niềm vui này được Đức Giêsu diễn tả rõ ràng, nhấn mạnh hơn về ngày tái ngộ giữa Thầy và trò: “Anh em sẽ khóc lóc và đau buồn, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ ưu sầu, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui” (Ga 16,20); “Bây giờ anh em ưu sầu, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em không ai lấy mất được” (Ga 16,22). Những lời hứa này được hiện thực hóa khi Đức Giêsu Phục Sinh xuất hiện, ban bình an, cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn: “Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20,20: ἐχάρησαν οὖν οἱ μαθηταὶ ἰδόντες τὸν κύριον). Sự bình an và niềm vui được hiện thực hóa trong lời chào của Đấng Phục Sinh. Tuy nhiên, chắc chắn rằng niềm vui của các môn đệ không chỉ dừng lại ở việc thấy Đức Giêsu Phục Sinh, mà còn kéo dài đến vô tận khi họ được sống lại với Chúa trong ngày sau hết: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,28); “Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người” (Ga 17,2).

Bình Luận Tổng Quát

Khởi đầu những lời từ biệt, Đức Giêsu ban tặng cho các môn đệ một điều răn mới: Điều răn yêu thương. Tình yêu được đặt nền tảng trên tình yêu của Đức Giêsu, nghĩa là yêu đến chết, làm cho điều răn yêu thương trở nên mới mẻ và hoàn hảo. Khi các môn đệ giữ điều răn mới của Đức Giêsu, thì họ đang làm cho tinh thần yêu thương của Đức Giêsu luân chuyển trong cộng đoàn. Giữ các điều răn hay tất cả những lời Đức Giêsu dạy chứng tỏ rằng các môn đệ yêu Đức Giêsu. Ai giữ lời của Đức Giêsu cũng chính là giữ lời của Chúa Cha: “Lời anh em nghe đây không phải là của Thầy nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy”. Một khi các môn đệ yêu và giữ Lời của Đức Giêsu thì họ sẽ được Chúa Cha yêu. Hơn nữa, cả Chúa Cha và Chúa Con cùng đến và làm nhà bên cạnh người ấy. Một khi các môn đệ yêu Chúa và yêu Đức Giêsu, họ cảm nghiệm được Chúa yêu thương họ và đang sống trong họ. Đức Giêsu đã trả lời cho câu hỏi của ông Giuđa: “Tại sao Thầy tỏ mình cho chúng con mà không cho thế gian?” bằng cách diễn tả mối tương quan giữa “yêu” và “giữ lời”. Người ngụ ý rằng, Đức Giêsu tỏ mình ra cho tất cả mọi người, nhưng chỉ những ai yêu mến Người mới đón nhận được mặc khải của Người. Trước viễn cảnh vắng mặt về thể lý và các môn đệ vẫn chưa hiểu hết những mầu nhiệm mà Đức Giêsu đã mặc khải, Đấng Paráclêtos sẽ được gửi đến để “dạy” và “gợi nhớ” tất cả những điều Đức Giêsu đã nói. Đấng ấy sẽ dẫn các môn đệ đến sự thật toàn vẹn. Người sẽ tiếp nối và hoàn tất sứ vụ của Đức Giêsu, đặc biệt trong sứ vụ loan Tin Mừng cho toàn cõi đất. Ngoài điều răn mới, Đấng Paráclêtos, Đức Giêsu còn ban cho các môn đệ nguồn bình an đích thực, bình an không như thế gian ban. Bình an của Đức Giêsu là sự mạnh mẽ phó thác trong nội tâm, giúp các môn đệ vượt qua mọi sóng gió trong cuộc đời, nhất là những cơn bách hại. Bình an ấy cũng chính là ơn cứu độ mà Đức Giêsu ban tặng cho các môn đệ qua cái chết và sự phục sinh của Người. Việc Người chiến thắng sự chết, mang lại cho các môn đệ hy vọng phục sinh và hòa bình viên mãn, vĩnh cửu. “Sự ra đi, và đến” của Đức Giêsu mang lại cho các môn đệ niềm vui qua hai giai đoạn. Các môn đệ vui mừng khi được thấy Đức Giêsu Phục Sinh. Tuy nhiên, niềm vui ấy chỉ nên trọn và kéo dài vĩnh cửu khi họ được sống mãi với Chúa trên Thiên Quốc.

Yêu Đức Giêsu đồng nghĩa với việc giữ “lời” của Người. Yêu Đức Giêsu là quan tâm đến ý muốn của Chúa, như Đức Giêsu su đã yêu Chúa Cha và luôn đặt mong muốn của Chúa Cha lên trên ý muốn của mình. “Lời” của Đức Giêsu bao gồm cả điều răn mới: “Yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương”. Mức độ người ta yêu thương người khác, có thể là thước đo chính xác cho mức độ người ta yêu Chúa. Có vẻ không phù hợp khi nói rằng “yêu Chúa thì dễ, còn yêu người thì khó”, vì thực tế không thể tách rời giữa rành rọt hai lãnh vực “yêu Chúa và yêu Người”. Yêu Chúa đích thực đồng nghĩa với việc yêu người như Chúa yêu, vì đó là điều Chúa dạy, điều Chúa muốn. Nếu tôi chưa thể làm điều Chúa muốn, thì coi chừng tôi chưa yêu Chúa thật, hoặc là tình yêu của tôi dành cho Chúa chưa trọn vẹn mà chỉ chừng mực, giới hạn mà thôi. Những gới hạn đó có thể chỉ là đi dự Lễ, giữ Luật, tham gia các hội đoàn, nhóm cầu nguyện, đi hành hương khi thuận tiện… hoặc là chỉ yêu những người đáng yêu, những người mang lại niềm vui và lợi ích cho mình… Mỗi người kitô hữu đều được mời gọi nỗ lực hết mình trong hành trình yêu Chúa bằng cách yêu thương tất cả mọi người, không phân biệt ai và làm tất cả mọi sự theo thánh ý Chúa.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD.



[1] Tin Mừng thứ tư được chia thành bốn phần chính; (1) Lời Tựa (1,1-18); (2) Sách các dấu (1,19 – 12,50); (3) Sách của sự vinh quang (13,1 – 20,29); (4) Phần kết (21,1-25 [F.J. Moloney, “John”, The Paulist Biblical Commentary (ed. J.E.A. Chiu e al.) (New York, 2008) 1110-1111].

[2] Xem thêm về “Điều răn mới” trong J.P.D.Thạch, “Điều Răn Mới Có Gì Mới? Chú Giải Tin Meng CN V PS C” [LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI ῥήματα ζωῆς αἰωνίου: “ĐIỀU RĂN MỚI” CÓ GÌ MỚI? Chú Giải Tin Mừng CN V PS C (Ga 13,31-35) (josephpham-horizon.blogspot.com)]

[3] R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 29A, 638.

 [4] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 256.

[5] “In reply to the question of Judas, that essentially eschatological reality is represented under a different eschatological image, namely that of the “coming” of the Father and Son to the believer to dwell with him” (cf. Ezek 37:26–27; Zech 2:10; Rev 21:3) (G.R. Beasley-Murray, John, 260).

[6] 1. Ga 14,15-17. Ở lại mãi mãi với các môn đệ; 2. Ga 14,25-26, “Dạy” và “làm nhớ lại”; 3. Ga 15,26-27. Làm chứng trước và trong các môn đệ; 4. Ga 16,7-11.  Chứng minh thế gian sai lầm; 5. 16,12-15. Dẫn đường, loan báo, tôn vinh (X. Giuse Lê Minh Thông, “Đấng Pa-rác-lê là ai? (TM Gio-an)” (Tin Mừng Gio-an, Évangile de Jean, Gospel of John: Đấng Pa-rác-lê là ai? (TM Gio-an) (leminhthongtinmunggioan.blogspot.com) (truy cập 17/05/2021).

[7] Tác giả Lê Minh Thông đề xuất tìm hiểu danh từ “Pa-rác-lê-tos” trong văn chương Hy Lạp. Trong văn chương Hy lạp nó có nghĩa là “người bênh vực” hay là “luật sư”, người có vai trò pháp lý trong vụ kiện. Có thể dịch nghĩa là “trạng sư”, “luật sư”, “người bào chữa”, “người bênh vực”. Tuy nhiên, tác giả cũng lưu ý rằng những nghĩa này không phải là cách hiểu của tác giả Tin Mừng thứ tư. (X. Giuse Lê Minh Thông, tài liệu đã dẫn)

[8] G.R. Beasley-Murray, John, 261.

[9] Ibid; “Here “in my name” may also refer to the conduct of the mission: the Paraclete’s mission is the completion of Jesus’ mission”. (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI), 653).

[11] R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes, 651; “The two tasks are strictly complementary, almost identical” (G.R. Beasley-Murray, John, 261).

[12] G.R. Beasley-Murray, John, 261.

[13] F.J. Moloney, The Gospel of John (SP4; Collegeville 1997) 410.

[14] “The gift of peace, therefore, is intimately associated with the gift of the Spirit-Paraclete, the ongoing presence of Jesus in his absence (ef. vv. 16-17, 26), the source of the disciples' being loved by the Father and the Son, the agent for the ongoing revelation of both Jesus and the Father to the one who loves Jesus and keeps his commandments in the in-between-time (vv. 20-21)” (Ibid.); “In departing Jesus says “Shalom” to his disciples; but his “Shalom” is not the thoughtless salutation of ordinary men—it is the gift of salvation” (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes, 651).

[15] G.R. Beasley-Murray, John, 262.

[16] “The peace of which Jesus speaks has nothing to do with the absence of warfare (indeed it will come only after the world has been conquered: 16:33), nor with an end to psychological tension, nor with a sentimental feeling of well-being” (R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI). Introduction, translation, and notes, 653).