Thursday, 22 July 2021

TƯỞNG KHÔNG THỂ MÀ LẠI CÓ THỂ CÁCH KHÔNG TƯỞNG. Chú Giải Tin Mừng CN XVII TN B (Ga 6,1-15)

Bản Văn Ga 6,1-15

Hy Lạp

Việt

1Μετὰ ταῦτα ἀπῆλθεν ὁ Ἰησοῦς πέραν τῆς θαλάσσης τῆς Γαλιλαίας τῆς Τιβεριάδος.

 2 ἠκολούθει δὲ αὐτῷ ὄχλος πολύς, ὅτι ἐθεώρουν τὰ σημεῖα ἃ ἐποίει ἐπὶ τῶν ἀσθενούντων.

 3 ἀνῆλθεν δὲ εἰς τὸ ὄρος Ἰησοῦς καὶ ἐκεῖ ἐκάθητο μετὰ τῶν μαθητῶν αὐτοῦ.

 4 ἦν δὲ ἐγγὺς τὸ πάσχα, ἡ ἑορτὴ τῶν Ἰουδαίων.

 5 Ἐπάρας οὖν τοὺς ὀφθαλμοὺς ὁ Ἰησοῦς καὶ θεασάμενος ὅτι πολὺς ὄχλος ἔρχεται πρὸς αὐτὸν λέγει πρὸς Φίλιππον· πόθεν ἀγοράσωμεν ἄρτους ἵνα φάγωσιν οὗτοι;

 6 τοῦτο δὲ ἔλεγεν πειράζων αὐτόν· αὐτὸς γὰρ ᾔδει τί ἔμελλεν ποιεῖν.

 7 ἀπεκρίθη αὐτῷ [ὁ] Φίλιππος· διακοσίων δηναρίων ἄρτοι οὐκ ἀρκοῦσιν αὐτοῖς ἵνα ἕκαστος βραχύ [τι] λάβῃ.

 8 λέγει αὐτῷ εἷς ἐκ τῶν μαθητῶν αὐτοῦ, Ἀνδρέας ὁ ἀδελφὸς Σίμωνος Πέτρου·

 9 ἔστιν παιδάριον ὧδε ὃς ἔχει πέντε ἄρτους κριθίνους καὶ δύο ὀψάρια· ἀλλὰ ταῦτα τί ἐστιν εἰς τοσούτους;

 10 εἶπεν ὁ Ἰησοῦς· ποιήσατε τοὺς ἀνθρώπους ἀναπεσεῖν. ἦν δὲ χόρτος πολὺς ἐν τῷ τόπῳ. ἀνέπεσαν οὖν οἱ ἄνδρες τὸν ἀριθμὸν ὡς πεντακισχίλιοι.

 11 ἔλαβεν οὖν τοὺς ἄρτους ὁ Ἰησοῦς καὶ εὐχαριστήσας διέδωκεν τοῖς ἀνακειμένοις ὁμοίως καὶ ἐκ τῶν ὀψαρίων ὅσον ἤθελον.

 12 ὡς δὲ ἐνεπλήσθησαν, λέγει τοῖς μαθηταῖς αὐτοῦ· συναγάγετε τὰ περισσεύσαντα κλάσματα, ἵνα μή τι ἀπόληται.

 13  συνήγαγον οὖν καὶ ἐγέμισαν δώδεκα κοφίνους κλασμάτων ἐκ τῶν πέντε ἄρτων τῶν κριθίνων ἃ ἐπερίσσευσαν τοῖς βεβρωκόσιν.

 14  Οἱ οὖν ἄνθρωποι ἰδόντες ὃ ἐποίησεν σημεῖον ἔλεγον ὅτι οὗτός ἐστιν ἀληθῶς ὁ προφήτης ὁ ἐρχόμενος εἰς τὸν κόσμον.

 15 Ἰησοῦς οὖν γνοὺς ὅτι μέλλουσιν ἔρχεσθαι καὶ ἁρπάζειν αὐτὸν ἵνα ποιήσωσιν βασιλέα, ἀνεχώρησεν πάλιν εἰς τὸ ὄρος αὐτὸς μόνος. (Jn. 6:1-15 BGT)

1 Sau những chuyện này, Đức Giêsu đi qua phía bên kia biển Galilê của Tibêria

2 Nhưng rồi, Đám đông lớn đi theo Người bởi vì họ thường chứng kiến những dấu [lạ] Người đã vẫn làm trên những bệnh nhân.

3 Đức Giêsu đi đến núi và Người ngồi đó với các môn đệ của Người

4 Lễ Vượt Qua đã gần đến, Lễ của Người Do Thái

5 Khi ngước mắt lên, Đức Giêsu thấy đám đông lớn đến với Người, Người liền nói với Philípphê: ‘Chúng ta mua đâu ra bánh để mà họ có thể ăn?’

6 Nhưng Người nói điều này vì Người đang thử ông ta vì Người đã biết phải làm gì.

7 Philípphê trả lời; ‘200 đenariô bánh cũng không đủ để mỗi người có thể lấy một chút

8 Một trong các môn đệ của Người, Anrê, người anh em của Simôn, nói cùng Người:

9 Ở đây có một đứa bé, có 5 chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng những thứ ấy làm sao mà [đáp ứng cho] số nhiều như vậy.

10 Đức Giêsu nói: ‘Hãy làm cho người ta ngồi xuống. Có nhiều cỏ trong chỗ ấy. Số người đàn ông đã ngồi xuống chừng 5000 người.

11 Rồi Đức Giêsu cầm lấy bánh, sau khi tạ ơn, Người trao cho những người nằm, và cá cũng như thế, nhiều như họ đang muốn.

12 Khi họ đã no nê, Người nói cùng các môn đệ của Người: ‘Hãy thu gom lại những mẫu bánh còn thừa, để mà nó không bị hư đi.”

13 Các môn đệ thu gom và làm đầy 12 thúng những mẫu bánh từ 5 chiếc bánh lúa mạch còn dư bởi những người đã ăn.

14 Những người thấy dấu [lạ] Người đã làm nói rằng ông ta thực sự là vị ngôn sứ Đấng xuất hiện trong thế giới.

15 Vì biết họ sẽ đến bắt Người để tôn Người làm vua, nên Người lại rút lui vào núi một mình.


Bối cảnh bản văn

Đoạn văn Ga 6,1-15 được khởi đầu bằng một cách nói tổng quát: “Sau những sự việc này”. Cụm từ “những sự việc này” có thể ám chỉ đến trình thuật về dấu [lạ] chữa một người bại liệt ở hồ Bếtđatha (Ga 5,1-18) và “diễn từ nói về công việc của Chúa Con (Ga 5,19-47). Phép lạ hóa bánh ra nhiều chắc chắn nối kết và là tiền đề cho diễn từ “Bánh Hằng Sống” diễn ra ngay sau đó (Ga 6,16-51). Nó cũng gợi nhớ đến hình ảnh Thiên Chúa-mục tử trong Cựu Ước nhất là Thánh Vịnh 23[1], bởi vì trong đó có hình ảnh “cỏ xanh” và “được ăn bánh no nê”. Đây là dấu [lạ] duy nhất được cả bốn tác giả sách Tin Mừng thuật lại (Ga 1,1-15; Mt 14,13-21; Mc 6,30-44; Lc 9,10-17).[2] Vì vậy, phép lạ này cũng cho thấy sự nối kết giữa truyền thống Gioan và Tin Mừng Nhất Lãm. Loạt hành động “cầm lấy bánh, tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó” gợi nhớ đến trình thuật về sự việc Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể (Mt 26,26-29; Mc 14,22-25; Lc 22, 14-20; 1 Cr 11,23-25), trong đó Đức Giêsu cũng “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra và trao cho các ông. Dĩ nhiên, phép lạ này cũng nhớ đến việc Chúa ban mana nuôi dân Israel trong sa mạc (Xh 16, Ds 11). Việc nhắc tên hai Tông Đồ cụ thể (Philípphê và Anrê), cho phép liên kết với những chỗ khác có tên hai người này (Ga 12,22; Mc 3,18). Mốc thời gian “Lễ Vượt Qua” cũng là một chủ đề nối kết với những trình thuật liên quan đến “Tiệc Vượt Qua” và Chiên Vượt Qua (Mc 14,12-16; Mt 26,17-19; Lc 22,3-6). Chủ đề Đức Giêsu là “vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian” là một trong những chủ đền quan trọng nhất trong các sách Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng thứ tư (Ga 4,19: “Thưa ông, tôi thấy ông là một ngôn sứ”; Ga 7,40: Ông này quả thật là một ngôn sứ”; Ga 9,17: Anh mù đáp: ‘Người là một vị ngôn sứ”; Cf. Mt 13,57; 16,14; 21,11; 21,46; Mc 6,4.15; 8,24; Lc 4,24; 7,16). Đức Giêsu rút lui lên núi một mình (Ga 11,15) bởi vì Người biết rằng người ta sẽ tôn Người lên làm vua, là biểu hiện cho thấy Người “không cần người đời tôn vinh” như Người đã nói trong diễn từ “công việc của Chúa Con” (Ga 5,41). Danh xưng “ngôn sứ” được dùng cho Đức Giêsu còn nối kết với Cựu Ước. Sách Đệ Nhị Luật cũng nói đến việc “Đức Chúa sẽ làm nổi lên giữa anh chị em một vị ngôn sứ như tôi [ông Mô-sê]” (Đnl 18,15).

Cấu trúc bản văn

Đoạn Ga 6,1-15 có phần khởi đầu (A) và phần kết (A’) giới thiệu chung về không gian, thời gian và nhân vật của câu chuyện. Câu chuyện xảy ra ở vùng Tibêria, trên núi, vào dịp gần đến Lễ Vượt Qua của Người Do Thái. Nhân vật gồm có Đức Giêsu, các môn đệ và đám đông lớn. Nội dung trình thuật sự kiện “hóa bánh ra nhiều” được cấu thành bởi ba thành phần, song song và quy tâm. Có hai cặp thành phần song song với nhau: (B) Đức Giêsu đặt vấn đề về một giải pháp cho sự đói kém của dân chúng // (B’) Dân chúng nhận ra Đức Giêsu là một vị ngôn sứ Đấng phải đến thế gian; (C) Thái độ bi quan của các môn đệ: không có giải pháp nào khả thi // (C) Chứng kiến một giải pháp hơn cả khả thi. Tất cả đều xoay quanh tâm điểm là giải pháp lạ lùng của Đức Giêsu: Cầm bánh, tạ ơn và phân phát (D).

(A) Mở đầu: Không gian, thời gian và nhân vật: Bên kia biển hồ Galilê, thành phố Tibêria, núi; Lễ Vượt Qua của Người Do Thái; đám đông lớn; Đức Giêsu và các môn đệ (6,1-4).

(B) Vấn đề: Không có bánh (6,6-7)

(C) Thái độ của các môn đệ: Không có giải pháp khả thi (6,8-9)

(D) Giải pháp của Đức Giêsu: Cầm lấy, tạ ơn và phân phát (6,10-11)

(C’) Kiểm chứng của các môn đệ: Bánh còn dư 12 thúng (6,12-13)

(B’) Hiệu quả: Tuyên xưng Đức Giêsu là một ngôn sứ (6,14)

(A’) Kết thúc:  Nơi chốn; nhân vật: Một mình Đức Giêsu rút lui lên núi (6,15)

Một số điểm chú giải

1.     Bên kia biển Galilê của Tibêria: Danh từ thuộc cách chỉ địa danh “của Tibêria” cho độc giả biết rằng đây là Biển Hồ Galilêa nhưng phần gần thành phố Tibêria. Chính vì thế mà Biển Hồ này đôi khi được gọi là Biển Tibêria (Ga 21,21). Tibêria là một thành phố biển, được Hêrôđê Antipa xây vào năm 20 C.E. ở phía Tây Biển Hồ Galilê. Nó là thủ đô của vùng Galilê, nơi Hêrôđê Antipa cai quản thời bấy giờ và được đặt tên của vị hoàng đế thứ hai của Đế Quốc Rôma (Tiberius). Nơi đây được Gioan nối kết với phép lạ hóa bánh ra nhiều: “Có những thuyền khác đến từ Tibêria đến, gần nơi dân chúng đã được ăn bánh no nê” (Ga 6,23). Đây là dữ liệu về địa danh, cho biết rõ ràng về nơi đã diễn ra phép lạ “hóa bánh ra nhiều”, khác với các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm vốn không nhắc đến địa danh cụ thể. Máccô chỉ nói là nơi “hoang vắng” (sa mạc) (Mc 6,31.32.35; Mt 14,13). Khi nhắc đến địa danh này có thể Gioan muốn nói đến sự trái ngược giữa một thành phố xa hoa giàu có và một nhóm người “thiếu bánh ăn” bên cạnh nó.

2.     Nhưng rồi đám đông lớn cứ đi theo Người: Ghi chú về nhân vật “đám đông lớn” (6,2) cứ đi theo Đức Giêsu nhằm chuẩn bị cho chi tiết số người “ngồi xuống” là 5000 người đàn ông (6,10). Lý do những người này đi theo Đức Giêsu được diễn tả rất rõ ràng: “Vì họ đã từng chứng kiến những dấu lạ Người làm cho các bệnh nhân”. Cả ba động từ “đi theo”, “thấy” (chứng kiến” và “làm” đều được Gioan cận thận dùng ở thì “vị hoàn”, diễn tả một sự kéo dài của hành động. Nghĩa là họ đã thấy nhiều lần, vì Đức Giêsu cũng đã làm nhiều dấu [lạ] chữa lành bệnh tật và họ cứ “đi theo” Chúa hoài. Cụ thể là có hai dấu [lạ] chữa bệnh được ghi lại trước trình thuật này: (i) Chữa lành con của một sĩ quan cận vệ của nhà vua (Ga 4,46-54); (ii) Chữa lành một người bại liệt 38 năm ở hồ nước Bếtđatha. Đám đông đã biết đến Đức Giêsu như một người làm những “dấu lạ” chữa lành các bệnh nhân.

3.     Đức Giêsu đi đến ngọn núi và Người ngồi đó: Đức Giêsu đến thành phố Tibêria nhưng Người không vào trong thành phố mà Người đi ra ngoại ô thành phố, nơi có núi đồi. Ngọn núi ở đây được xác định bởi một mạo từ xác định (τὸ). Có lẽ đó là một ngọn núi ở ngoại ô Tibêria, mà ai cũng biết nên Gioan dùng mạo từ xác định. Cũng cần biết thêm, danh từ “ὄρος” trong tiếng Hy Lạp vừa có nghĩa là núi, cũng vừa có nghĩa là “đồi” hoặc “cao nguyên”. Có thể Đức Giêsu lên một ngọn đồi gần thành phố Tibêria. Rất khó để nói chính xác đó là núi nào hay đồi nào.[3] Tuy nhiên, kiểu nói “lên núi và ngồi xuống với các môn đệ” làm cho độc giả nhớ đến câu khởi đầu bối cảnh Bài Giảng Trên Núi do Tin Mừng Mátthêu ghi lại: “Khi thấy đám đông, Người lên núi, và sau khi Người ngồi xuống, các môn đệ của Người đến gần bên” (Mt 5,1). Tư thế “ngồi” là tư thế của một người thầy giảng dạy.[4] Giảng dạy trên “núi” cũng gợi nhớ đến hình ảnh của ông Môsê, người chuyển giao Lề Luật của Chúa cho dân ở trên núi Sinai. Gioan không nói gì đến việc Đức Giêsu có giảng dạy điều gì hay không. Tuy nhiên, ngồi ở trên núi, cùng với các môn đệ, có lẽ ngụ ý một buổi giảng dạy. Máccô nói rõ bối cảnh của phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất là “thấy đám đông lớn, Đức Giêsu đã chạnh lòng thương vì họ như những con chiên không có mục tử và Người giảng dạy họ nhiều điều” (Mc 6,34).

4.     “Lễ Vượt Qua”:[5] Trong bốn tác giả sách Tin Mừng, chỉ có Gioan cho độc giả biết rằng Đức Giêsu đến Jêrusalem vào ba dịp Lễ Vượt Qua trong hành trình rao giảng của Người (Ga 2,13.23; 6,4; 11,55; 12,1; 13,1; 18,28.39; 19,14). Chính vì thế mà theo truyền thống, Đức Giêsu rao giảng khoảng 3 năm, và chết ở tuổi 33. Luca cho biết Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng khi Người khoảng 30 tuổi (Lc 3,23), cùng với 3 Lễ Vượt Qua (xảy ra mỗi năm một lần), trong đó, Người bị kết án và đóng đinh vào Lễ Vượt Qua thứ ba. Các Tin Mừng Nhất Lãm chỉ cho biết Đức Giêsu lên Jêrusalem một lần, vào dịp Lễ Vượt qua trong suốt quá trình rao giảng. Tin Mừng Nhất Lãm chỉ nhắc đến một Lễ Vượt Qua trong trình thuật về cuộc Thương Khó (Mt 26,2.17-19; Mc 14,1.12.14.16; Lc 22,1.7.28.11.13.15),[6] và đó là lần Đức Giêsu bước vào cuộc Thương Khó – Chịu Chết đóng đinh. Chặng đường lên Jêrusalem là rất quan trọng. Thậm chí, Tin Mừng Luca còn dành cho chặng đường lên Jêrusalem đến 10 chương (9,51 – 19,27), nghĩa là gần một nửa Tin Mừng của Luca (24 chương). Đối với các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm, Galilê là thánh địa cho sứ vụ rao giảng và làm dấu lạ, còn Jêrusalem là tử địa nơi xảy ra cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu.

Lễ Vượt Qua là một Đại Lễ hằng năm của Người Do Thái. Nó kỷ niệm biến cố quan trọng: Dân đã được cứu khỏi ách nô lệ của Pharaô. Trong đêm ấy, sứ thần Chúa đã tiêu diệt tất cả các con đầu lòng của người Ai Cập. Thậm chí con vật đầu lòng cũng bị giết. Con cái Israel thì được sống nhờ vào những vết máu bôi trên cửa theo chỉ dẫn của Chúa (Xh 11,5; 12, 12-13.29). Lễ Vượt Qua trong tiếng Do Thái là “הַפָּ֑סַח” (pesah), trong tiếng là Hy Lạp là “πάσχα” (paskha). Trong tiếng gốc Do Thái “Pesah”, có nghĩa là “bảo vệ” hay “bỏ qua”. Theo một số tác giả, Lễ này, có nguồn gốc ban đầu liên quan đến một nghi lễ mang tính giải hạn của những người du mục, cử hành mùa xuân. Tuy nhiên, ý kiến được chấp nhận rộng rãi nhất liên quan đến lễ hội cổ xưa cho những giai đoạn của trăng, đặc biệt cho dịp trăng tròn. Và trên bình diện lịch sử, Lễ này dĩ nhiên là liên kết đến sự kiện Xuất Hành từ Ai Cập.[7] Trong Lễ Vượt Qua, một con vật hiến tế (cừu hoặc dê một tuổi) được giết thịt vào ngày thứ 14 của tháng Nisan và được ăn vào buổi đêm, hoặc ngay sau hoàng hôn, đánh dấu khởi đầu của ngày 15 tháng Nisan. Thánh Kinh kết hợp việc sát tế Vượt Qua với Lễ Bánh Không men, lễ hội kéo dài bảy ngày bắt đầu vào ngày 15 của tháng Nisan. Trong thời gian hậu Thánh Kinh, hai lễ này được hòa nhập thành một lễ hội mà thôi.[8]

Nhắc đến thời điểm “gần đến Lễ Vượt Qua”, tác giả có lẽ không phải muốn nói đến thời gian lịch sử cụ thể của biến cố, nhưng là thời gian thần học. Biến cố Vượt Qua được nhắc đến trong bối cảnh “dấu [lạ] hóa bánh ra nhiều nối kết với Lễ Vượt Qua cuối cùng, trong đó Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể, biến Mình Người thành của ăn và Máu Người thành của uống nuôi linh hồn các tín hữu. Cũng xin biết thêm là Tin Mừng Gioan, là Tin Mừng duy nhất không có trình thuật về việc lập Bí Tích Thánh Thể. Thay vào đó, Gioan lại là tác giả duy nhất tường thuật lại hành động rửa chân trong đêm Tiệc Ly. Ông cũng là tác giả duy nhất nhắc đến Lễ Vượt Qua trong trình thuật phép lạ “hóa bánh ra nhiều” và cũng là tác giả duy nhất ghi lại diễn từ “diễn từ Bánh Hằng Sống” (6,22-66).

5.     Philípphê và Anrê: Philípphê và Anrê: Trong danh sách 12 tông đồ của Tin Mừng Máccô, tên Philípphê được đặt ngay sau tên Anrê (Mc 3,18: … rồi đến các ông Anrê, Philípphê, Batôlômêô…). Máccô đặt bộ ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan vào đầu danh sách, sau đó mới đến Anrê và Philípphê và các môn đệ khác.[9] Mátthêu xếp tên của Anrê ngay sau tên Phêrô và Philípphê sau tên của hai anh em Giacôbê và Gioan. Luca cũng liệt kê tương tự Mátthêu. Tin Mừng Gioan không nói đến danh sách 12 Tông Đồ. Theo tác giả, Anrê và một môn đệ vô danh là hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Họ đã nghe Gioan Tẩy Giả giới thiệu về Đức Giêsu : “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Rồi, họ đã “đến, xem chỗ Người ở và ở lại” với Đức Giêsu một ngày (Ga 1,39). Chính Anrê, sau khi trở về từ chỗ Đức Giêsu ở đã giới thiệu và dẫn em mình là Phêrô đến với Đức Giêsu (1,41-42). Tiếp theo sau đó, Đức Giêsu gặp và gọi ông Philípphê: “Anh hãy theo tôi” (1,43). Theo Gioan, hình như Philípphê được gọi trước cả Giacôbê và Gioan. Theo Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giêsu gọi liền hai cặp anh em: Phêrô – Anrê, rồi Giacôbê – Gioan (Mt 4,18-22 ; Lc 5,1-11 ; Mc 1,16-20).[10] Philípphê được giới thiệu là ở Bếtsaiđa, cùng quê với hai anh em Phêrô và Anrê. Đây là dữ liệu của riêng tác giả Tin Mừng thứ tư. Theo Tin Mừng Nhất Lãm, Phêrô có một ngôi nhà ở Ca-phác-na-um, một thành phố ngay bên bờ, đầu hồ Galilê, phía Bắc (Mc 1,29-31 ; Mt 8,14-15 ; Lc 4,38-39). Theo Mátthêu và Luca, Bếtsaiđa là một trong những thành phố bị Đức Giêsu nguyền rủa, vì không đã không sám hối (Mt 11,21; Lc 10,13-15). Đây cũng là thành phố Đức Giêsu lánh vào sau phép lạ “hóa bánh ra nhiều” (Mc 6,45 ; Lc 9,10) và chữa lành một người mù (Mc 8,22-26). Sự xuất hiện sóng đôi của Philípphê và Anrê trong Tin Mừng Gioan được ghi lại ít nhất 2 lần. (i) Ga 6,1-15: Philípphê được Đức Giêsu tham vấn về cách thức mua bánh cho “đám đông lớn”; Anrê giới thiệu em bé có 5 chiếc bánh và 2 con cá. (ii) Ga 12,20-26: Những người Hy Lạp đến gặp ông Philípphê để xin gặp Đức Giêsu; Ông Philípphê nói ông Anrê và hai ông đến thưa với Đức Giêsu. Việc Philípphê đi nói với Anrê có thể giải thích ở góc độ thân thích: hai người là đồng hương. Tuy nhiên, lý do quan trọng hơn có thể là vì Anrê là môn đệ đầu tiên được gọi. Thế giá của Anrê, có thể là cao hơn Phêrô, vì ông được gọi trước và là người giới thiệu Phêrô cho Đức Giêsu. R. Brown tin rằng Philípphê và Anrê là những Tông Đồ được coi trọng hơn ở miền Tiểu Á, mà Tin Mừng Gioan được viết cho những tín hữu ở vùng Tiểu Á. Chính vì vậy, hai Tông Đồ này được đề cập cách cụ thể để Tin Mừng đi vào lòng các tin hữu dễ dàng hơn.[11]

6.     200 đenariô… 5 chiếc bánh lúa mạch và hai con cá: Hai môn đệ đưa ra hai dữ liệu khác nhau. Philípphê vì được hỏi là: “Bằng cách nào chúng ta có thể mua bánh để họ ăn?”, nên câu trả lời của ông liên quan đến số tiền mua. Đây là số tiền khá lớn đủ để Philípphê diễn tả sự bất lực, không thể: Đến 200 đenariô cũng không đủ cho mỗi người một tý. Đenariô là đơn vị tiền tệ của Roma thời bấy giờ. 1 đenariô bằng một ngày lương của một công nhân bình thường (x. Mt 20,2). 200 đenariô bằng 200 ngày lương của một người làm công. Sau khi Philípphê thể hiện sự thất vọng, Anrê quan sát thấy có một cậu bé mang theo 5 chiếc bánh và hai con cá. Đây lại là một số lượng quá ít so với 5000 người đàn ông: “Nhưng số ấy thì thấm vào đâu so với số người nhiều như thế”. Cả hai môn đệ đều cho thấy cho “đám đông lớn” ăn là một nhiệm vụ bất khả thi. Máccô ghi lại đề xuất của các môn đệ: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng chung quanh mà mua thức ăn” (Mc 6,36; Mt 14,15; Lc 9,12). Hình ảnh cậu bé chia sẻ 5 chiếc bánh và 2 con cá là hình ảnh riêng của Gioan vì trong truyền thống Nhất Lãm, dường như số bánh và cá này là của các môn đệ: “Ở đây chúng con chỉ có vọn vẹn 5 chiếc bánh và 2 con cá” (Mt 14,17; Mc 6,38; Lc 9,13).

7.      “Hãy làm cho người ta ngồi xuống”: Động từ “ana-pipto” (ἀνα-πίπτω[12]) có nghĩa đen là “ngã về phía sau”, trong đó “pipto” là ngã. Động từ này thường được dùng để diễn tả sự ổn định vị trí để chuẩn bị cho một bữa ăn (Mc 6,40; Lc 11,37; Ga 13,12.25). Cách chuyển ngữ “hãy cho người ta ngồi xuống” hay là “hãy cho người ta nằm xuống” vẫn không diễn tả chính xác nghĩa của động từ này. Có lẽ đó là một tư thế nằm tựa (nửa nằm nửa ngồi) để dùng bữa, theo phong tục của người Do thái. Người ta không nằm dài như lúc ngủ, nhưng họ cũng không ngồi ăn như hầu hết con người ngày nay. Người môn đệ “được Đức Giêsu yêu mến” được diễn tả là nằm tựa vào ngực Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly (Ga 13,25). Các môn đệ nhận lệnh ổn định dân chúng trong tư thế vào bàn ăn để chuẩn bị cho việc dùng bữa. Họ chắc chắn cũng rất ngạc nhiên, vì mệnh lệnh này của Đức Giêsu, bởi vì chỉ có 5 chiếc bánh và 2 con cá thì dùng bữa sao đủ. Luca còn ghi lại kỹ càng hơn chỉ thị của Đức Giêsu: “Hãy bảo họ nằm thành từng nhóm khoảng 50 người một” (Lc 9,14). Nhóm này ở trong trình thuật của Máccô có số lượng khác nhau: “Chỗ thì một trăm chỗ thì năm mươi” (Mc 6,39).

8.     Có nhiều cỏ trong chỗ ấy: Chi tiết này có vẻ thừa nhưng lại không thừa. Tác giả Gioan dường như muốn gợi cho độc giả nhớ đến hình ảnh “đồng cỏ xanh” được nói đến trong Thánh Vịnh 23: “Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ”. Hình ảnh đồng cỏ xanh gợi nhớ đến sự chăm sóc tốt lành của Thiên Chúa-mục tử dành cho đàn chiên của mình. Nhóm 5000 người đàn ông nằm trên đồng cỏ xanh như đàn chiên đang được mục tử Giêsu nuôi dưỡng.

9.     Số người đàn ông đã nằm xuống chừng 5000 người: Ghi chú về số lượng này cho thấy sự hài hòa với chi tiết giới thiệu nhân vật trong phần bối cảnh: “Đám đông lớn đi theo Đức Giêsu”. Đám đông ấy lớn cỡ nào? Lớn tới mức “5000 người đàn ông” (Ga 6,10; Mc 6,44). Mátthêu còn thêm vào mệnh đề “không tính đàn bà và trẻ em”. Dĩ nhiên rồi, chẳng lẽ số người đi theo Đức Giêsu chỉ toàn đàn ông thôi sao. Chắc chắn phải có đàn bà và và trẻ em nữa. Thường thì số lượng đàn bà và trẻ con phải nhiều hơn số người đàn ông. Vậy thì, số lượng người của “đám đông lớn” hôm ấy phải trên 10 ngàn người.

10.  Cầm lấy bánh, tạ ơn, phân phát: Những động từ: cầm lấy, tạ ơn rồi phân phát kết hợp với dữ liệu về thời gian “gần đến Lễ Vượt Qua” rõ ràng gợi nhớ đến trình thuật Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể. Đức Giêsu đã lập Bí Tích Thánh Thể vào dịp Lễ Vượt Qua cuối cùng trong hành trình dương thế của Người. Trong Bữa Tiệc Ly: “Người cầm lấy bánh, sau khi đã dâng lời tạ ơn, Người bẻ ra và trao cho các môn đệ và nói: ‘Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em” (Lc 22,19; 1 Cr 11,24). Động từ “Eukharisteo” (εὐ-χαριστέω)[13] có nghĩa là “tạ ơn”. Chính vì thế Bí Tích Thánh Thể còn được gọi là “Hy tế Tạ Ơn”.[14] Tiếng Anh gọi Bí Tích Thánh Thể là “Eucharist” (Tiếng Pháp: Eucharistie; Tiếng Ý: Eucaristia). Như vậy, phép lạ hóa bánh ra nhiều là tiền thân của Bí Tích Thánh Thể. Việc Đức Giêsu ban bánh mì cho dân chúng ăn no nê báo trước việc Người sẽ ban chính Mình Người để trở thành của ăn, và Máu Người để trở thành của uống nuôi dưỡng linh hồn người tín hữu.[15]

11.  Khi họ đã no nê: Động từ “em-pim-ple-mi” (ἐμ-πίμπλημι)[16] có nghĩa là “làm đầy” hoặc “thỏa mãn”, diễn tả một tình trạng no đủ, thoa thê của “đám đông lớn”.

12.  12 thúng những mẫu bánh thừa: Mệnh lệnh thu gom được Đức Giêsu đưa ra cùng với mục đích là “để khỏi hư đi”. Mệnh lệnh này cho thấy Đức Giêsu quan tâm đến việc giáo dục các môn đệ cũng như dân chúng, biết tôn trọng những gì Chúa ban cho mình. Không được phí phạm những thức ăn còn dùng được. 12 thúng bánh vụn còn thừa là con số ngược lại với những thái độ thất vọng của cả Anrê và Philípphê lúc khởi đầu. Có thể nói rằng: Tưởng là không thể nhưng lại có thể như không tưởng. 200 đenariô cũng không đủ cho mỗi người một tý và 5 chiếc bánh và 2 con cá thì thấm vào đâu với số lượng người đông như thế. Ai ngờ, chỉ số bánh vụn còn dư đã lên đến 12 giỏ.

13.  Ông ta thực sự là một ngôn sứ, Đấng phải đến: Sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu được gọi là một ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian. Ý tưởng này của dân chúng có thể ám chỉ đến lời hứa rằng Thiên Chúa “sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như ông Môsê được nói đến trong sách Đệ Nhị Luật” (Đnl 18,15).[17] Tin Mừng thứ tư cho thấy nhiều nhân vật tuyên xưng Đức Giêsu là một ngôn sứ. Người phụ nữ Samari đã xác nhận: “Tôi thấy ông là một vị ngôn sứ” (Ga 4,19). Dân chúng cũng nhìn nhận “ông này thật là vị ngôn sứ” (Ga 7,40). Anh mù được sáng mắt cũng nghĩ người làm cho anh sáng mắt là một “vị ngôn sứ” (Ga 9,17; Mt 16,14; 21,11.46). Tuy nhiên, một vị ngôn sứ làm phép lạ hóa bánh ra nhiều có lẽ gợi nhớ đến hình ảnh ngôn sứ Êlisa. Ông đã làm phép lạ cho cả tram người ăn từ hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị. Tiểu đồng của ông đã nghi ngờ và nói rằng: “Có bằng này, sao con có thể phá cho cả tram người ăn”. Êlisa đã trả lời: “Cứ phát cho họ ăn vì Chúa đã phán: ‘Họ sẽ ăn mà vẫn còn dư’. Và quả thực đã xảy ra như lời ngôn sứ nói (x. 2 V 4,42-44). Ngoài ra, Êlisa còn một lần làm phép lạ “hóa dầu ra nhiều” để giúp một bà góa, có hai con nhỏ bị bắt làm nô lệ, vì bà thiếu nợ (x. 2 V 4,1-7). Thành thật mà nói, nhận ra Người là “một vị ngôn sứ” chưa phải là đỉnh cao của sự nhận biết. Đó chỉ là khởi điểm và họ cần phải vươn đến căn tính Kitô và Con Thiên Chúa của Đức Giêsu. Tin Mừng Gioan khởi đầu bằng việc giới thiệu “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1) và kết thúc bằng việc nêu lên mục đích của toàn bộ Tin Mừng là: “Để anh chị em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người.” (Ga 20,31). Ngay trước câu kết thúc, thánh Tôma đã tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20,28). Đây là cái kết hoàn hảo cho Tin Mừng thứ tư: Khởi đầu bằng lời giới thiệu Ngôi Lời là Thiên Chúa và kết thúc bằng việc một Tông Đồ tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa.

14.  Tôn Người làm vua: Đức Giêsu có thân phận đế vương. Người là vị vua được dân Do Thái bao đời mong chờ. Người xuất thân từ dòng dõi vua Đavid và được hạ sinh tại Bếtlehem, quê hương của vua Đavid. Chính vì thế, ngay từ lúc lọt lòng, Người đã bị vua Hêrôđê đuổi giết trong thân phận là một “vị vua mới sinh của Người Do Thái” (Mt 2,2). Các sách Tin Mừng ghi lại rất nhiều dữ liệu về thân phận đế vương của Đức Giêsu. Khi Đức Giêsu trừ quỷ cho một người vừa mù lại vừa câm, dân chúng đã sửng sốt và nói rằng: “Ông này chẳng phải là con vua Đavid sao?” (Mt 12,23). Người phụ nữ dân ngoại Canaan vẫn gọi Người là con vua Đavid: “Lạy Ngài là con vua Đavid, xin rủ lòng thương tôi! Đứa con gái của tôi bị quỷ ám khổ sở lắm” (Mt 15,22). Hai ngưởi mù thành Jêrikhô cũng gọi Người là con vua Đavid (Mt 20,30-31; Mc 10,48; Lc 18,38). Người đã vào thành trong một cuộc đón rước long trọng với tiếng hô vang: “Hoan hô con vua Đavid! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21,9; Mc 11,9-10; Lc 19,38). Theo Luca, dân chúng gọi Đức Giêsu là vua một cách trực tiếp: “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên trời và vinh quang Chúa trên các tầng trời” (Lc 19,38). Sự việc xảy ra như thế nhằm ứng nghiệm lời ngôn sứ về biến cố nhập thành của vị vua: “Hãy báo cho thiếu nữ Sion, này Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi, hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ” (Mt 21,5; Ga 12,15). Trước câu chất vấn của Tổng trấn Philatô, quan chức cao nhất của đế quốc Rôma trên đất nước Do Thái, “Ông là vua dân Do Thái sao?”, Đức Giêsu đã xác nhận: “Chính ông nói đó” (Mt 27,11; Mc 15,2; Lc 23,3; Ga 18,37a). Tác giả Gioan còn ghi thêm lời giải thích sứ vụ “làm vua” của Đức Giêsu: “Tôi sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: để làm chứng cho sự thật, ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37b). Điều này phù hợp với mạc khải của Đức Giêsu về căn tính của Người: “Tôi là con đường, là sự thật và là sự sống, không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua tôi” (Ga 14,16). Tất cả những dữ liệu này để cho thấy Đức Giêsu chính là vị vua Mêsia, Đấng mà dân Do Thái đang mong chờ. Tuy nhiên, Người lại không phải là vị vua mang lại quyền lực chính trị và sung túc về vật chất như họ mong muốn. Họ muốn tôn vinh Người như là vị vua cơm bánh và chữa bệnh, nhưng Người lại rút lui lên núi một mình. Không chỉ có dân chúng lầm tưởng, mà chính các môn đệ của Người cũng đã lầm tưởng về cách thức hành động của Mêsia-Vương Đế Giêsu. Người là một vị vua tình yêu. Vương miện của Người là vòng gai nhọn và ngai tòa của Người là thập giá. Vị Vua-Mêsia kiểu như thế đã làm cho các môn đệ thực sự hoảng sơ, hoảng loạn trong một lúc, nhưng lại mang đến cho các ông một sự bình an đích thực và ơn cứu độ muôn đời.

Bình luận tổng quát

Vào một ngày đẹp trời bên bờ Hồ Galilê, bên cạnh một thành phố biển giàu có, sung túc Tibêria, có một đám đông lớn, nghèo nàn đi theo một thầy giảng, bởi họ đã từng chứng kiến nhiều phép lạ Người đã làm. Đức Giêsu ngồi đó, trên núi, trong tư thế giảng dạy họ. Có lẽ Người đã giảng dạy họ nhiều điều như thường lệ. Tuy nhiên, hôm nay Người đặc biệt quan tâm đến cái đói của những con người này. Người đã có sẵn ý định cho họ ăn. Dầu vậy, Người lại muốn thử lòng các môn đệ xem các ông nghĩ gì, sau khi đã chứng kiến nhiều phép lạ chữa lành mà Người đã làm. Người chưa từng làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. Chính vì thế, khi Người hỏi Philípphê về phương cách làm sao có thể mua đủ bánh cho đám đông lớn ăn. Philípphê đã nói một cách thẳng thắn: 200 đenariô cũng không đủ cho một người một chút bánh. Có tiền bằng 200 ngày công cũng không thể giải quyết được vấn nạn này. Chung quy lại, trong đầu ông nghĩ là không có cách nào hết. Thêm vào đó, môn đệ Anrê cũng tỏ ra bi quan không kém. Với 5 chiếc bánh và 2 con cá của cậu bé, thì cũng chẳng thấm vào đâu với số lượng hơn mười ngàn người. Ấy vậy mà, Đức Giêsu lại ra lệnh: “Hãy sắp xếp cho họ ở trong tư thế dùng bữa”. Sao có thể được chứ? Có gì đâu mà dùng bữa? Đám cỏ xanh rì vào mùa xuân gợi lên một bữa ăn no nê cho đàn chiên được chăm sóc bởi Thiên Chúa mục tử. Mục tử Giêsu cũng sẽ có cách để nuôi đám đông đàn chiên của Người. Chỉ những hành động giản đơn: “Cầm lấy bánh, tạ ơn rồi phân phát” mà đám đông hơn 10.000 người được ăn bao nhiêu tùy thích. Không những thế, số bánh vụn còn dư lại lên đến 12 thúng đầy. Những chuyện không thể theo suy nghĩ của các môn đệ, lại trở nên có thể một cách dễ dàng đối với Đức Giêsu. Sau dấu lạ ấy dân chúng đã cảm nhận được nơi Người phẩm chất, tư cách của vị ngôn sứ. Có lẽ trong đầu họ đã hình dung về hình ảnh ngôn sứ Êlisê, người đã từng làm cho bánh và dầu hóa nhiều trong Cựu Ước. Nhất là, họ nghĩ đến lời hứa rằng Chúa sẽ ban cho họ “một vị ngôn sứ như ông Môsê” (Đnl 18,18), người đã từng cho dân chúng ăn manna trong sa mạc. Hơn thế nữa, họ còn muốn tôn Người lên làm vua của họ, một vị vua có thể chữa bệnh và ban cơm bánh. Đó là một vị vua trong mơ của đám đông ấy. Tuy nhiên, Người đã rút lui khỏi họ và lên núi một mình. Bởi lẽ, Người không muốn họ đặt hy vọng nơi Người chỉ vì đói cơm, thiếu áo, hay cuộc sống đau khổ với nhiều bệnh tật. Hình ảnh Lễ Vượt Qua sắp đến gợi nhớ đến việc Chúa giải thoát và cứu dân Người khỏi ách nô lệ Ai Cập.[18] Nó cũng hướng đám đông dân chúng cũng như các độc giả đến một thứ bánh đích thực. Đó chính là Mình và Máu Đức Giêsu, là lương thực thường tồn và là bánh ban sự sống đời đời cho con người. Bí Tích Thánh Thể được thiết lập trong dịp Lễ Vượt Qua cuối cùng, cũng chính là dấu chứng cuộc Thương Khó – Tử nạn của Đức Giêsu. Nhận biết Người là vị ngôn sứ hay làm phép lạ chưa đủ. Mong muốn Người là vị vua mang lại bảo đảm về vật chất và ổn định về chính trị vẫn chưa đủ. Họ phải vươn đến niềm tin nơi một Đấng Mêsia-hoàng đế, yêu cho đến chết và chết trên thập giá, Đấng dẫn họ vào vương quốc Thiên Đàng bằng con đường thập giá, chứ không phải chỉ là no nê cơm bánh.

Trớ trêu thay, xã hội chúng ta đang sống luôn tồn tại một thực tế trái chiều: “Người ăn không hết kẻ lần không ra”. Có những nơi giàu có “ăn sung mặc sướng” thì cũng có những nơi nghèo nàn khổ sở, đến nỗi “cơm không đủ no, áo không đủ ấm”. Có những nhà giàu có đến nứt tường đổ vách, thì cũng cò những gia đình kiếm cơm từng ngày, nhà không có tường để đổ. Có những người dư ăn đến nứt thịt căng da, cũng có những người óm đói gầy guộc. Có biết bao người béo phì thì cũng có biết bao người suy dinh dưỡng. Tình hình đại dịch bùng phát với lệnh phong tỏa gắt gao, Sài Gòn chìm trong sự thiếu thốn đủ điều. “Cái bụng” của dân nghèo, và của cả dân giàu đang bị đánh tơi tả vì thiếu thốn những thực phẩm cần thiết. Tuy nhiên, nhiều “tấm lòng” của những con người hảo tâm vẫn bùng phát không thua gì virus Corona. Cùng với loại virus Corona độc hại đang làm suy yếu và giết chết con người, người ta bỗng thấy một loại vi khuẩn “tình thương” đang âm thầm chăm sóc và cứu sống con người. Chính trong hoàn cảnh bi đát nhất của phận người, bản năng của tình người, tình huynh đệ phổ quát bỗng chỗi dậy một cách mạnh mẽ khủng khiếp. Bên cạnh bản năng thú vật của những người chỉ biết nhắm đến lợi lộc của cá nhân, của doanh nghiệp để tăng giá, trục lợi trên nỗi khổ của những con người cùng khổ trong cơn đại dịch, người ta lại tìm thấy những bản năng con người dám bỏ đi tất cả những lợi lộc và cả thời gian, sức khỏe để mang đến những nhu yếu phẩm 0 đồng cho những người thiếu thốn. “Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm những ai yêu thương thì đều được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4,7-8.16). Bản năng tình người, tình nhân loại chính là món quà quý giá nhất, đỉnh nhất, “chất” nhất mà Thiên Chúa đã phú bẩm cho con người. Tuy vậy, tiếc thay, nhiều người trong nhiều lúc lại quên yêu thương và đánh mất món quà ấy một cách quá dễ dàng. Đức Giêsu đã chạnh lòng thương những người đói cơm thiếu bánh. Người đã làm phép lạ cho bánh hóa nhiều tức thì. Phép lạ đó khởi đi từ sự rộng rãi chia sẻ của một cậu bé vô danh. Bí quyết phép lạ đó có lẽ Người vẫn gửi lại trong nhân gian, trong lòng mỗi người. Đó là, mỗi khi con người, đặc biệt là những người no đủ biết nhìn thấy cái đói, cái rách nơi những người người thân, người hàng xóm, bạn hữu, và đồng loại. Tình yêu ấy phải được đặt nền tảng và truy nguồn lên tận Thiên Chúa, Đấng đã chết vì yêu nhân loại, không so đo, tính toán thiệt hơn.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD

 



[1] “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì

Trên đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành”

Và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự Người” (Tv 23,1-3).

[2] R.E. Brown, The Gospel according to John (I–XII). Introduction, translation, and notes (AYB; New Haven – London 2008) XXIX, 236.

[3] R. Brown claims that “There is no way of localizing it, although tradition associates it with the northwest shore of the lake and a hill called “the Mount of the Beatitudes.” (R.E. Brown, The Gospel according to John, 232).

[4] E. Haenchen – R.W. Funk– U. Busse, John. A Commentary on the Gospel of John (Hermeneia; Philadelphia 1984) 271.

[5] Xem thêm về “Lễ Vượt Qua”, Dictionary of Jesus and the Gospels, 273.

[6] Luca cho biết là Hằng Năm Đức Giêsu đều lên Jêrusalem, trong bối cảnh Luca trình bày sự kiện Đức Giêsu “bị lạc” cha mẹ, ở lại trong đền thờ, ngồi giữa “các thầy dạy, vừa nghe họ vừa đặt câu hỏi” (Lc 2,41-49). Tuy vậy, đây là thời gian Đức Giêsu còn ở với cha mẹ tại Nadarét. Chúng ta cũng có thể phỏng đoán rằng, Đức Giêsu vẫn tiếp tục thói quen ấy, mỗi năm lên Jêrusalem một lần, như những người Do Thái đạo Đức. Thế nhưng, Gioan có điểm nhấn về 3 lần Lễ Vượt qua, trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm thì không đề cập.

[8] Xem B.M. Bokser, The Anchor Dictionary (D.N. Freedman et Al. eds.) (New York – London – Tornto – Syned – Auckland 1992) VI Si-Z, “Unleavened Bread and Passover, Feast of.”,755-765; G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 37.

[9] Danh sách 12 Tông đồ theo Tin Mừng Nhất Lãm. Mát-thêu: “đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông; ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô; ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người” (10,2-4) ; Mác-cô: “Si-môn là Phê-rô, rồi có ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê -Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi, rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta-đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người” (3,16-19); Luca: “đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông; ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô; ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người” (6,2-4).

[10] Luca không nhắc đến tên An-rê trong nhóm các môn đệ đầu tiên, và câu chuyện Đức Giê-su gọi Phê-rô – Gio-cô-bê – Gioan cũng thú vị và kịch tính hơn hai tác giả còn lại.

[12] M. Zerwick – M. Grosvenor, A grammatical analysis of the Greek New Testament (Rome 1974) 303.

[13] ibid.

[15] Về những đặc tính của Bí Tích Thánh Thể trong trình thuật này xem thêm R.E. Brown, The Gospel according to John, 246-247.

[16] M. Zerwick – M. Grosvenor, Greek New Testament (Rome 1974) 303.

[17] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 88.

[18]F.J. Moloney, “John”, The Paulist Biblical Commentary (Ed. J.E.A. Chiu et al.) (New York 2018) 1137.

Thursday, 15 July 2021

CHẠNH LÒNG THƯƠNG ĐÀN CHIÊN KHÔNG CÓ CHỦ CHĂN. Chú Giải Tin Mừng Chúa Nhật XVI TN B (Mc 6,30-34)

ĐỘNG LÒNG THƯƠNG ĐÀN CHIÊN KHÔNG CÓ CHỦ CHĂN. Chú Giải Tin Mừng CN XVI TN B (Mc 6,30-34)

Bản văn

Hy Lạp

Việt

30 Καὶ συνάγονται οἱ ἀπόστολοι πρὸς τὸν Ἰησοῦν καὶ ἀπήγγειλαν αὐτῷ πάντα ὅσα ἐποίησαν καὶ ὅσα ἐδίδαξαν.

 31 καὶ λέγει αὐτοῖς· δεῦτε ὑμεῖς αὐτοὶ κατ᾽ ἰδίαν εἰς ἔρημον τόπον καὶ ἀναπαύσασθε ὀλίγον. ἦσαν γὰρ οἱ ἐρχόμενοι καὶ οἱ ὑπάγοντες πολλοί, καὶ οὐδὲ φαγεῖν εὐκαίρουν.

 32 Καὶ ἀπῆλθον ἐν τῷ πλοίῳ εἰς ἔρημον τόπον κατ᾽ ἰδίαν.

 33 καὶ εἶδον αὐτοὺς ὑπάγοντας καὶ ἐπέγνωσαν πολλοὶ καὶ πεζῇ ἀπὸ πασῶν τῶν πόλεων συνέδραμον ἐκεῖ καὶ προῆλθον αὐτούς.

 34 Καὶ ἐξελθὼν εἶδεν πολὺν ὄχλον καὶ ἐσπλαγχνίσθη ἐπ᾽ αὐτούς, ὅτι ἦσαν ὡς πρόβατα μὴ ἔχοντα ποιμένα, καὶ ἤρξατο διδάσκειν αὐτοὺς πολλά.

 (Mk. 6:30-34 BGT)

30 Các Tông Đồ quy tụ với Đức Giêsu và tường thuật với Người tất cả những điều các ông đã làm và đã dạy.

31 và Người nói cùng họ: ‘Đến đây, vào nơi hoang vắng riêng mình và hãy nghỉ ngơi đôi chút vì có nhiều kẻ đến và ngươi đi, khiến các ông không tìm được cơ hội mà ăn

32 và họ đi riêng vào nơi hoang vắng bằng thuyền.

33 và khi họ [người dân] thấy họ ra đi và nhiều người nhận biết và tất cả thành phố chạy đến đó bằng đường bộ và họ [người dân] đi trước họ.

34 khi ra khỏi Đức Giêsu thấy đám đông lớn thì Người “động lòng thương” vì họ như những con chiên không có người chăn chiên, và Người bắt đầu dạy họ nhiều điều.

Bối cảnh bản văn

Đoạn Mc 6,30-34 là đoạn nối tiếp giữa trình thuật gợi nhớ về cái chết của Gioan Tẩy Giả (Mc 6,17-29) và trình thuật phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất (Mc 6,35-44). Mc 6,30-34 được xem là “miếng dưới” của chiếc “bánh mì kẹp thịt” từ Mc 6,6b-34. Đoạn 6,6b-13 là “miếng trên” (sứ vụ sai đi) ghép với “miếng dưới” (6,30: Trở về và báo cáo sứ vụ) của chiếc “bánh mì kẹp thịt”. Miếng thịt ở giữa chính là trình thuật về Hêrôđê và vụ án hành quyết Gioan Tẩy Giả. Toàn bộ chiếc “bánh mình kẹp thịt là” [A – B – A’]: Mc 6,7-13: Các môn đệ được sai đi (A) – Mc 6,14-29: Vụ án Gioan Tẩy Giả (B) - Mc 6,30-34: Các môn đệ trở về báo cáo (A’). Nói như thế có nghĩa là đoạn văn Mc 6,30-34 chỉ được hiểu trọn vẹn khi đọc chung với hai đoạn còn lại (6,6b-13 và 6,14-29).[1] Chủ đề trọng tâm của những đoạn văn này vẫn là sự rao giảng. Sự sai đi rao giảng (6,6b-13) sẽ dẫn đến kết quả nơi sự trở về và báo cáo sứ vụ (6,30-34). Giữa hai đoạn này là trình thuật nói về số phận bị chối từ, hãm hại và bị giết chết của những sứ giả Tin Mừng. Người đầu tiên là Gioan Tẩy Giả (Mc 6,14-29). Mc 6,30-34 không những đóng lại chiếc “bánh mì kẹp thịt” mà còn mở ra cho phần trình thuật “hóa bánh mì ra nhiều” (6,35-44). Chủ đề “động lòng thương” trong đoạn này có sự nối kết chặt chẽ với hành động cụ thể trong đoạn sau: hóa bánh ra nhiều để cho đám đông ăn no nê (6,35-44). Nó cũng nối kết với phép lạ chữa lành người phong hủi (Mc 1,40-45); phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ hai (Mc 8,1-10); với phép lạ chữa lành người bị quỷ ám mắc chứng bệnh động kinh (Mc 9,14-29). Ngoài ra, chủ đề này còn liên kết mật thiết với các trình thuật khác trong Tin Mừng Mátthêu và Tin Mừng Luca: “Dụ ngôn người mắc nợ không biết thương xót” (Mt 18,23-35); Phục sinh con trai bà góa thành Nain (Lc 7,11-17); Dụ ngôn “Người Samari nhân hậu (Lc 10,29-37); Dụ ngôn “Người Cha nhân hậu” (Lc 15,11-32). Chủ đề mục tử và đàn chiên cũng là một chủ đề nối kết cả Tân Ước và Cựu Ước. Máccô nhắc đến sự kiện đàn chiên sẽ tan tác khi vị mục tử bị đánh (14,27). Mátthêu cũng nhiều lần diễn tả Đức Giêsu như là một mục tử (Mt 2,6; 18,12; 25,32; 26,3). Đặc biệt tác giả Tin Mừng thứ tư có một khảo luận dài về “mục tử nhân lành” (Ga 10,1-21). Sách Khải Huyền cũng nói đến hình ảnh “Con Chiên” sẽ là mục tử dẫn dân tới nguồn nước sự sống, và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt (Kh 7,17). Cựu Ước cũng nhiều lần diễn tả Thiên Chúa như là một mục tử (Tv 23; Is 40,11; Ed 34,11.15; Dcr 11,7.9).

Cấu trúc:

Đoạn Mc 6,30-34 có thể được chia thành hai tiểu đoạn. Tiểu đoạn I: nói về sự kiện các môn đệ trở về, sau khi đã đi rao giảng và báo cáo với Đức Giêsu kết quả của hành trình rao giảng. Tiểu đoạn II: là một cấu trúc gồm 4 thành phần song song và quy tâm. Phần (A) Sự quan tâm của Đức Giêsu dành cho các môn đệ // phần (A’) sự quan tâm của Đức Giêsu dành cho dân chúng. Phần (B) Các môn đệ đi riêng bằng thuyền vào nơi hoang vắng // (B’) Dân chúng chạy bộ đến cùng nơi với các môn đệ.

I. Quy tụ và báo cáo những việc đã làm và đã dạy (6,30)

II.        (A) Sự quan tâm của Đức Giêsu: Hãy vào nơi hoang vắng và nghỉ ngơi (6,31)

(B) Các môn đệ đi riêng bằng thuyền vào nơi hoang vắng (6,32)

(B’) Dân chúng chạy đường bộ đến đó trước các môn đệ (6,33)

(A’) Sự quan tâm của Đức Giêsu: Thấy, động lòng thương, dạy (6,34) 


Một số điểm chú giải

1.     Quy tụ và tường thuật: Như đã đề cập trong phần “bối cảnh bản văn”. Phần “quy tụ và tường thuật” là phần thiết yếu để hoàn trọn trình thuật “sai đi” đã được khởi sự ở 6,6b-13. Đức Giêsu đã sai các Tông Đồ đi với quyền trừ quỷ (6,7) và nhiều lời căn dặn. Các ông đã ra đi “từng cặp”, đến nhiều nơi theo chỉ thị của Người, bây giờ trở về và tường thuật lại với Thầy tất cả. Đây là bầu khí thân thương của tình Thầy – Trò. Động từ “quy tụ” được chia ở thể bị động với tác nhân là Đức Giêsu. Cũng như trước đó, Đức Giêsu đã gọi các ông đến và sai các ông đi rao giảng, giờ đây Người cũng quy tụ các ông để nghe các ông tường thuật về chuyến hành trình. Đức Giêsu vẫn là chủ thể trong mọi hoạt động truyền giáo của các Tông Đồ. Danh xưng “Tông Đồ”, được dùng chỉ một lần duy nhất ở trong bối cảnh này có một chủ ý rõ ràng. Trước đó, Máccô gọi họ là “Nhóm Mười Hai” (Mc 6,7). Tông đồ trong Tiếng Việt có lẽ là viết tắt của cụm từ “chính Tông, môn Đồ”. Kiểu gọi này không diễn tả được ý nghĩa của danh xưng này trong tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ gốc của Tân Ước. Trong Hy Ngữ, danh từ “Tông Đồ” (apostolos) phát xuất từ động từ “sai đi” (apostello). Nghĩa là, “Apostolos” là một người được người khác sai đi, hay nói cách khác là “sứ giả” của ai đó. Trong trường hợp này Nhóm Mười Hai là những sứ giả của Đức Giêsu. Sứ giả của Đức Giêsu thì nhận lấy sứ điệp từ Người và phụ thuộc vào Người. Sứ vụ của họ chỉ là sứ vụ của Đức Giêsu được mở rộng.[2] Chính vì thế, sau khi họ thi hành sứ vụ trao thông điệp cho người khác, họ được gọi đến để báo cáo về “những điều họ đã làm và đã dạy”. Dĩ nhiên, những gì họ làm được chính là nhân danh Đức Giêsu và nhờ quyền năng của Người.

2.     Tất cả những điều các ông đã làm và đã dạy: Túc từ của động từ tường thuật, diễn tả nội dung mà các Tông Đồ tường thuật gồm 2 phần: (i) Những gì các ông đã làm và (ii) Những điều các ông đã dạy. Đây là một cách nói tóm tắt với chỉ hai mệnh đề nhưng nó cũng cho phép mở rộng biên độ nội dung ra vô hạn. Các ông đã làm những gì và đã dạy những gì? Trong trình thuật liên quan đến sứ vụ rao giảng (Mc 6,6b-13), Máccô đã cho biết là các Tông Đồ “rao giảng để người ta có thể hoán cải”. Đây có có thể là một trong những nội dung các ông đã dạy.[3] Trong những bài giảng của các ông không thể thiếu được sứ điệp nòng cốt của Đức Giêsu: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần, anh chị em hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Tuy nhiên, không chỉ có thế, để người ta hiểu về Triều Đại Thiên Chúa, các ông cũng có thể rao giảng và giải thích những dụ ngôn về Nước Trời như các ông đã nghe Đức Giêsu rao giảng. Nội dung giảng dạy của các ông cũng có thể là bất cứ điều gì các ông đã nghe từ Đức Giêsu trong suốt quá trình theo Chúa. Ngoài ra, các ông cũng có thể chia sẻ về con người, thân phận của Đức Giêsu như các ông hiểu về Người. “Những điều các ông đã làm” rất có thể là “trừ nhiều quỷ” và “xức dầu trên các bệnh nhân và chữa lành họ” (Mc 6,13). Họ cũng có thể chia sẻ những thất bại về những nơi không đón tiếp họ. Đó là điều bình thường vì Đức Giêsu dự trù phương án dành cho sự chối từ này: “Nơi nào người ta không đón tiếp anh em thì trước khi ra khỏi đó anh em hãy giũ bụi chân lại để tỏ ý cảnh cáo” (6,11).

3.     Nơi hoang vắng: Danh từ “ἔρημος” trong tiếng Hy Lạp vừa có nghĩa là “nơi hoang vắng” (không người ở) vừa có nghĩa là “sa mạc, nơi hoang dã”. Trong bối cảnh này có thể hiểu cả hai nghĩa. Hầu hết những vùng đất hoang vắng ở Palestine đều là sa mạc, hoặc núi đồi. Trong đoạn này từ ngữ “sa mạc” được nhắc đến 2 lần (6,31.32). Từ ngữ chỉ nơi chốn này được dùng để báo trước khung cảnh của phép lạ “hóa bánh ra nhiều” ngay sau đó (Mc 6,35-44). Phép lạ này cũng diễn ra trong nơi hoang vắng: “Ở đây hoang vắng và bây giờ đã khá muộn, xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn” (6,35-36). Ý tưởng “nơi hoang vắng” nối kết với việc “nghỉ ngơi” là điều khá lạ trong truyền thống Thánh Kinh. Hoang mạc thường nối kết nhiều hơn đến việc thử thách. Đức Giêsu đã ở trong sa mạc 40 ngày, chịu Satan cám dỗ (Mc 1,12-13; Mt 4,1-11; Lc 4,14-15). Đức Chúa đã dẫn con cái Israel đi trong sa mạc 40 năm để bắt họ phải cùng cực, như vậy, Người thử thách cho biết lòng dạ của họ ra sao, xem họ có giữ các mệnh lệnh của Ngài không (Đnl 8,2). Sa mạc cũng là nơi để trừng phạt và thanh tẩy. Dân Israel lang thang trong sa mạc 40 năm vì tội bất tuân của mình (Ds 14,34; 32,13). Tuy nhiên, sa mạc cũng là nơi Chúa chăm sóc dân Người (Xh 16,35: Con cái Israel đã ăn manna suốt 40 năm cho đến khi họ tới đất định cư (Đnl 2,7): là 40 năm Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi ở với các người và các người đã chẳng thiếu thốn điều gì; (Đnl 8,2.4): Ta đã dẫn các ngươi 40 năm trong sa mạc mà áo các ngươi mặc đã không rách, dép chân các ngươi đi đã không mòn). Đức Giêsu và các môn đệ đi vào sa mạc với mục đích là nghỉ ngơi. Tuy nhiên, nơi ấy lập tức lại trở thành bối cảnh cho cuộc gặp gỡ giảng dạy và làm phép lạ (hóa bánh ra nhiều) của Đức Giêsu.[4] Cả hai phép lạ hóa bánh ra nhiều đều diễn ra trong nơi hoang vắng (Mc 6,35-44=Mt 14,13-21; Mc 8,1-10=Mt 15,32-39). Ngoài ra, sa mạc cũng là nơi Đức Giêsu cầu nguyện và gặp gỡ Chúa Cha (Mc 1,35; Lc 5,16).

4.     Hãy nghỉ ngơi: Động từ “ἀναπαύω” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “nghỉ ngơi” và “hồi phục”. Nghỉ ngơi sẽ đem lại cho người ta sự hồi phục cả thể xác lẫn tinh thần. Cứ bình thường sau một thời gian làm việc mệt nhọc, người ta sẽ phải đi du lịch để bồi dưỡng thể xác và tinh thần. Các linh mục tu sĩ nam, nữ, sau một năm làm việc sẽ có một thời gian linh thao để hồi phục thể xác và tâm hồn. Đó là chưa kể đến những lần tĩnh tâm tháng và mùa. Xem ra việc mời gọi và tặng thưởng cho các môn đệ một chuyến “du lịch sinh thái”, sau khi các ông đã lao nhọc trên hành trình rao giảng Tin Mừng là quá hợp lý. Tuy nhiên, một hành trình vào sa mạc, có lẽ mang đến cho các ông sự hồi phục về tâm hồn hơn là thể xác.[5] Bởi lẽ, sa mạc là nơi gặp Chúa và nguyện cầu. Đức Giêsu từng hứa trao ban sự nghỉ ngơi, hồi phục tâm hồn cho những ai “vất vả” và “mang gánh nặng nề”: “Những ai vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi, hồi phục” (Mt 11,28). Lời hứa “tâm hồn anh chị em sẽ được nghỉ ngơi, hồi phục” đến ngay sau lời mời gọi “hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Đó là một sự hồi phục cần có về mặt tâm linh. Đức Giêsu cũng đã có lần trách các môn đệ vì nghỉ ngơi, ngủ mê và thiếu sự nguyện cầu: “Giờ này mà còn ngủ, còn nghỉ sao, này đã đến giờ Con Người bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi” (Mc 14,41; Mt 26,45). Đó là sự nghỉ ngơi đối nghịch lại với sự cầu nguyện. Với sự nghỉ ngơi mệt mỏi này, các môn đệ đã sa ngã và xa Chúa. Sự nghỉ ngơi của các môn đệ trong đoạn Tin Mừng này có thể là sự nghỉ ngơi về mặt thể xác, vì người thuật chuyện đã giải thích rằng: “Bởi vì, người đến kẻ đi quá đông nên họ không có cơ hội để ăn uống” (6,31).[6] Tuy nhiên, đi vào “sa mạc” cũng hướng tới một sự nghỉ ngơi và phục hồi về mặt tâm linh.

5.     Đi bằng thuyền: Hành trình bằng thuyền trên biển là hành trình bình thường của Đức Giêsu và các môn đệ (Mt 8,23; 9,1; 13,2; 14,13.22; Mc 4,36; 5,18.21; 6,45; 8,10.13). Nhiều lần, họ lên thuyền bắt đầu hải trình để trốn chạy khỏi đám đông: Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất, “lập tức, Đức Giêsu ra lệnh cho các môn đệ lên thuyền qua bờ bên kia, vào thành Bếtsaiđa” (Mc 6,45; Mt 14,13). Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ hai cũng vậy, “lập tức Người lên thuyền với các môn đệ và đi về quận Đalmanutha (Mc 8,10; Mt 15,39). Lần này cũng không ngoại lệ. Họ lánh khỏi đám đông bằng thuyền, để người ta khó đi theo và khó biết được họ đi đâu. Tuy nhiên, đám đông vẫn nhận biết nơi họ định đến và hành trình đường bộ theo họ.

6.     Tất cả thành phố chạy đến trước: Cách diễn tả này xem ra hơi cường điệu hóa. Máccô muốn nói rằng rất nhiều người theo Đức Giêsu. Cách nói này cũng là để chuẩn bị bối cảnh cho phép lạ hóa bánh ra nhiều, nơi mà số đàn ông ăn bánh lên đến 5 ngàn người. Số phụ nữ và trẻ em có thể hơn thế nữa. Đó là đám đông kinh khủng mà Máccô gọi là “tất cả các thành phố” (πασῶν τῶν πόλεων). Động từ “συντρέχω” diễn tả một cách sống động cách di chuyển của họ. Họ không mảnh ai nấy đi nhưng “chạy cùng nhau”. Chúng ta có thể tưởng tưởng khung cảnh như là một cuộc chạy marathon đang diễn ra trên bờ biển hồ. Hải trình của Đức Giêsu và các môn đệ lần ấy chắc hẳn là dọc theo biển hồ chứ không phải băng từ bên này qua bên kia, bởi lẽ, nếu thế thì “tất cả các thành phố” không thể nào chạy nổi để theo Người. Máccô cho biết là họ chạy và đi trước (προῆλθον) Đức Giêsu và các môn đệ. Theo Luca, Đức Giêsu đưa các môn đệ lui về thành Bếtsaiđa. Đích đến của Đức Giêsu theo Luca dường như trái ngược với đích đến của Giêsu trong Máccô (sa mạc đối lại với thành thị).

7.     Thấy đám đông lớn: Khi ra khỏi thuyền Đức Giêsu đã “thấy đám đông lớn”. Nghĩa là đám đông đã chạy đến trước và chờ Đức Giêsu trên trên bờ. Đám đông rất lớn vì như Máccô miêu tả là “tất cả các thành phố” đã chạy cùng nhau. Trước đó đám đông đã “nhìn thấy” Đức Giêsu và các môn đệ khởi hành. Bây giờ Đức Giêsu “nhìn thấy” đám đông. Động từ “ὁράω” trong tiếng Hy Lạp vừa có nghĩa đơn giản là “nhìn thấy” nhưng cũng có nghĩa sâu xa hơn là “nhận thức, biết”. Cái “nhìn thấy” của đám đông dành cho Đức Giêsu và của Đức Giêsu dành cho họ có thể vượt trên mức nhìn thấy đơn giản. Hành động “nhìn thấy” của đám đông đi kèm với hành động “biết, hiểu” (ἐπέγνωσαν): “Nhìn thấy họ [Giêsu và môn đệ] khởi hành và nhiều người biết, hiểu”. Họ hiểu lộ trình, đích đến của Đức Giêsu và các môn đệ nên đã chạy theo đúng hướng. Hành động “nhìn thấy” của Đức Giêsu kéo theo hành động “động lòng thương”. Đức Giêsu cũng nhận biết sự thiếu thốn, bơ vơ, lạc lõng nơi những con người này.

8.      “Động lòng thương”: Theo cấu trúc đoạn văn, có sự song song giữa sự quan tâm của Đức Giêsu dành cho các môn đệ: Người khuyên họ lánh riêng ra một nơi và nghỉ ngơi (6,31). Giờ đây, sự quan tâm dành cho đám đông làm cho sự quan tâm dành cho các Tông Đồ không được như ý. Động từ “ động lòng thương” (σπλαγχνίζομαι[7]) là một động từ diễn tả cảm xúc một cách sâu sắc nhất: “Rung động, thương xót trong những phần bên trong của ai đó”; “bị đánh động bởi”; “có lòng thương xót đối với”. Trong Tin Mừng Máccô, Đức Giêsu là chủ ngữ duy nhất của động từ này. Thật vậy, Máccô ghi lại 4 lần Đức Giêsu “động lòng thương”. (i) Đức Giêsu “động lòng thương” đưa tay chạm vào người bị bệnh phong và nói: ‘tôi muốn anh sạch đi’ (Mc 1,41); (ii) Người “động lòng thương” đám đông vì họ như bầy chiên không có mục tử (Mc 6,34); (iii) Người “động lòng thương” đám đông vì họ đã ở với Người 3 ngày và không có gì ăn (Mc 8,2); (iv) Cha của đứa bé bị bệnh động kinh thưa cùng Đức Giêsu: ‘Nếu Thầy có thể làm được gì, thì xin “động lòng thương mà cứu giúp chúng tôi” (Mc 9,22). Trong Tin Mừng Luca, động từ này được dùng cho Đức Giêsu chỉ một lần duy nhất. Trong trình thuật “phục sinh con trai bà góa thành Nain”, khi trông thấy bà góa thành Nain, người có đứa con trai vừa chết, Đức Giêsu “động lòng thương” và nói: “Bà đừng khóc nữa” (Lc 7,13). Ngoài ra, Luca còn dùng động từ này hai lần khác với chủ từ không phải là Đức Giêsu. (i) Người Samari nhân hậu: “Một người Samari kia, đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy và động lòng thương” (Lc 10,33); (ii) Người cha nhân hậu: “Anh ta [người con thứ] còn ở đằng xa, người cha đã trông thấy, Ông động lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn một cách nồng nhiệt” (Lc 15,20). Sự kết hợp giữa động từ “nhìn thấy” và “động lòng thương” trong cả 3 lần Luca dùng động từ này rất giống với cách dùng của Máccô trong đoạn Tin Mừng này (Nhìn thấy đám đông lớn, Đức Giêsu động lòng thương). Mátthêu là tác giả dùng động từ “động lòng thương” nhiều nhất trong các tác giả sách Tin Mừng (Mt 5 lần; Mc 4 lần; Lc 3 lần). Trong năm lần của Mátthêu, có bốn lần động từ này có chủ từ là Đức Giêsu và 1 lần khác, chủ từ là một nhân vật khác. Có hai lần động từ này xuất hiện ở hai phép lạ hóa bánh ra nhiều (Đức Giêsu động lòng thương đám đông), giống với trình thuật của Máccô (Mt 14,14=Mc 6,34; 15,32=Mc 8,2). Một lần khác, Mátthêu cũng ghi lại Đức Giêsu “động lòng thương” đám đông nhưng không nằm trong bối cảnh “phép lạ hóa bánh ra nhiều” mà là bối cảnh sai đi (Mt 9,36). Mátthêu còn cho biết Đức Giêsu “động lòng thương” hai người mù ở Giêrikhô: “Đức Giêsu động lòng thương sờ vào mắt họ; tức khắc họ nhìn thấy được và đi theo Người” (Mt 20,34). Trong dụ ngôn “người mắc nợ không biết xót thương”, người chủ “động lòng thương” người đầy tớ thiếu nợ và “cho y về và tha luôn món nợ” (Mt 18,27). Tiếc thay, người này lại không biết động lòng thương và tha cho người bạn thiếu nợ y (Mt 18,28).

9.     Những con chiên không có người chăn chiên: Lý do Đức Giêsu phải động lòng thương là “vì họ nhữ những con chiên không có người chủ chăn”. Hình ảnh Thiên Chúa là mục tử và Israel là đàn chiên là một hình ảnh quen thuộc trong truyền thống Thánh Kinh Do Thái.[8] Bắt nguồn từ truyền thống du mục, chăn nuôi xa xưa của người Do Thái. Hình ảnh Thiên Chúa là người mục tử luôn được nhắc đi nhắc lại trong những áng văn chương Thánh Kinh. Thánh Vịnh 23 là một trong những áng văn chương đẹp nhất về hình ảnh Thiên Chúa-mục tử: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi. Tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi đến dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người” (Tv 23,1-3). Ngôn sứ Isaia cũng phác họa một hình ảnh không thể đẹp hơn và gần gũi hơn về Thiên Chúa-mục tử: “Như mục tử. Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40,11). Ngôn sứ Êdêkiel có những lời đanh thép lên án những mục tử-nhân loại chăn dắt dân Israel: “Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đoàn chiên sao? sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt, chiên đau yếu các ngươi không làm cho mạnh, chiên bệnh tật các ngươi không chữa cho lành, chiên bị thương, các ngươi không băng bó, chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo hà khắc.” (Ed 34,2-4). Vì thế, Đức Chúa là Chúa Thượng phán “Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm… chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ” (Ed 34,11.15). Trong cuộc chiến với Aram, ngôn sứ Mikhagiơhu nói tiền báo với vua Akháp một viễn cảnh về một đàn chiên Israel không người chăn dắt, không còn chủ nữa (1V 22,17; Sbn 18,16). Trong bối cảnh đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu cũng thấy đàn chiên Israel bơ vơ, lạc lõng, không có chủ chăn. Dĩ nhiên, vào thời Đức Giêsu, có rất nhiều Kinh Sư và Pharisêu để lãnh đạo tinh thần cho dân Do Thái. Tuy nhiên, đa số họ bị nhiễm men giả hình mà Đức Đức Giêsu căn dặn các môn đệ phải coi chừng: “Phải coi chừng men Pharisêu và Xađốc” (Mt 16,6.11; Lc 12,1) (Mc 8,15: men Pharisêu và Hêrôđê). Các Kinh Sư và Pharisêu còn bị kết án là tham lam: họ “nuốt hết tài sản của các bà góa còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ” (Mt 23,14; Mc 12,40; Lc 20,47). Có thể là vì sự băng hoại, giả hình của những vị mục tử nên dân chúng khao khát một vị mục tử như Đức Giêsu. Tin Mừng Nhất Lãm nhiều lần ví Đức Giêsu như là mục tử. Trong bối cảnh Cuộc Thương Khó, Đức Giêsu nhắc đến lời đã chép rằng: “Ta sẽ đánh chủ chăn và đàn chiên sẽ tan tác” (Mc 14,27). Câu Thánh Kinh này rõ ràng áp dụng cho Đức Giêsu. Đức Giêsu được ví như vị thủ lãnh chăn dắt Israel, được sinh ra tại Bếthlehem như lời ngôn sứ Mikha (Mt 2,6). Mátthêu cũng nhiều lần diễn tả Đức Giêsu như là một mục tử (Mt 2,6; 18,12; 25,32; 26,3). Người như vị mục tử đi tìm con chiên lạc (Mt 18,12). Tuy nhiên, nơi Tin Mừng thứ tư, người ta mới gặp thấy hình ảnh mục tử Giêsu một cách rõ ràng sống động nhất: “Ta là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đàn chiên …Tôi biết các chiên tôi và các chiên tôi biết tôi” (Ga 10,11.14). Kết thúc Thánh Kinh, Sách Khải Huyền cũng nói đến hình ảnh “Con Chiên” sẽ là mục tử dẫn dân tới nguồn nước sự sống, và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt (Kh 7,17). Hơn nữa, lối diễn tả “Những con chiên không có vị mục tử” là kiểu nói thường xuyên nhất trong Thánh Kinh về một dân không có vua. Cho nên kiểu nói này lặp lại trong khung cảnh này như ám chỉ Đức Giêsu mà Đấng Kitô, Đấng Mêsia của Israel, vị vua họ đang mong đợi.[9]

10.  Bắt đầu dạy họ nhiều điều: Giảng dạy và làm phép lạ là hai hoạt động chính yếu của Đức Giêsu trong sứ vụ công khai. Cấu trúc động từ “bắt đầu” + động từ “dạy” là đặc trưng của Tin Mừng Máccô. Thật vậy, Máccô là tác giả duy nhất sử sụng cấu trúc này và ông sử dụng đến 4 lần (Mc 4,1; 6,2; 6,34; 8,31). Động từ “dạy” (didasko), nói chung, được Máccô dùng 17 lần trong đó có 16 lần Đức Giêsu là chủ từ, chỉ có duy nhất một lần duy nhất chủ từ là “dân này”.[10] Đó là lần Đức Giêsu trích sách ngôn sứ Isaia nói rằng: “Dân này tôn kính Ta bằng môi, miệng còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta cũng vô ích, vì giáo lý chúng dạy chỉ điều răn của phàm nhân” (Mc 7,7). Ngoài ra, Máccô cũng dùng danh từ “thầy dạy” (didaskalos) 12 lần[11] cho một mình Đức Giêsu. Những thống kê về cách dùng từ này cho thấy Đức Giêsu chính là Đấng duy nhất có thẩm quyền giảng dạy trong Tin Mừng Máccô. Thầy dạy Giêsu luôn thu hút dân chúng, bởi giáo lý mới mẻ và sự uy quyền của người dạy (Mc 1,27; Lc 4,32). Trong vai trò của một vị mục tử, điều quan trọng nhất là biết “động lòng thương” và giảng dạy cho dân. Máccô nhấn mạnh đến sự dạy dỗ của mục tử Giêsu, trong khi đó Mátthêu lại nhấn mạnh đến sự chữa lành: “Ra khỏi thuyền, Đức Giêsu thấy một đám đông lớn thì động lòng thương và chữa lành các bệnh tật của họ” (Mt 14,14).

Bình luận tổng quát

Chúng ta đang trong hành trình khám phá Đức Giêsu là Đấng Kitô, và là Con Thiên Chúa, theo mô tả của tác giả sách Tin Mừng Máccô. Tin Mừng Máccô bắt đầu bằng lời giới thiệu rằng: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1). Nghĩa là, qua những trang Tin Mừng này có hai điều trọng yếu mà độc giả, cũng như các tín hữu phải khám phá cho được về ông Giêsu Nadarét: (i) Người là Đấng Kitô mà dân Do Thái đang mong đợi; (ii) Người là Con Thiên Chúa. Khởi đầu chương 6, dân cùng làng Nadarét đã thất bại trong việc nhận ra căn tính Kitô nơi con người của Đức Giêsu. Người vẫn giảng dạy với uy quyền và đầy khôn ngoan. Người vẫn làm phép lạ bằng cách đặt tay và chữa lành một vài bệnh nhân. Thế nhưng, những người cùng làng chỉ khư khư cho rằng, anh chàng Giêsu này chỉ là chàng thợ mộc con bà Maria. Sứ mạng ngôn sứ của Đấng Kitô nơi làng quê Nadarét dường như thất bại, vì họ không tin vào Người. Tuy nhiên, sự thất bại ấy không làm cho Người nản chí bỏ cuộc. Có thể nói rằng sự chối từ của những người cùng làng lại mở ra cơ hội cho những làng khác khi Đức Giêsu “đi các làng chung quanh mà giảng dạy” (6,6b). Hơn thế nữa, Người lại trao sứ vụ giảng dạy và làm phép lạ cho Mười Hai Tông Đồ là những người đã “ở với Người” và được Người huấn luyện. Họ đã ra đi từng hai người một đến nhiều làng để giảng dạy. Sau khi thi hành sứ vụ họ lại được quy tụ để chia sẻ, báo cáo cùng Đức Giêsu về những việc họ đã làm và đã dạy (6,30). Họ chắc hẳn đã làm nhiều phép lạ trừ nhiều quỷ. Họ cũng đã xức dầu trên nhiều bệnh nhân và chữa lành bệnh (6,13). Họ có lẽ cũng đã dạy người ta về Tin Mừng Nước Thiên Chúa: “Thời Kỳ đã mãn, Triều đại Thiên Chúa đã đến gần, anh chị em hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng”. Cùng với sứ điệp nòng cốt này, chắc hẳn họ cũng phải dạy những dụ ngôn về Nước Trời. Họ cũng phải giới thiệu về Đức Giêsu, bởi Đức Giêsu chính là Tin Mừng mà người ta cần phải tin. Có lẽ họ cũng đã chia sẻ kinh nghiệm về “sự hoán cải” của chính họ, rằng họ đã bỏ mọi sự để theo Đức Giêsu thế nào. Rồi có thể có những người trong họ đã nếm mùi thất bại, vì sự chối từ của một làng nào đó và đã phải “giũ bụi chân lại” để cảnh cáo người ta. Sứ vụ rao giảng dù thành công hay thất bại đều làm cho các môn đệ tiêu hao năng lượng xác hồn. Họ cần một thời gian nghỉ ngơi để hồi phục. Đức Giêsu đã thấy rõ nhu cầu thiết yếu đó và quyết định cho cả nhóm đi nghỉ mát ở vùng “sa mạc”. Đó là một nơi gặp gỡ và hẹn hò với Chúa, để Người bồi bổ tinh thần và họ cũng được nghỉ ngơi về thể xác, khi không phải quá tải, vì giúp đỡ dân chúng. Đó là những khoảnh khắc cần thiết trong nhịp sống của mỗi Kitô hữu để “xạc pin”, để có đủ năng lượng mà tiếp tục sống cho Chúa và cho mọi người. Tuy nhiên, chuyến tĩnh tâm trong “sa mạc” của Thầy – trò Giêsu dường như thất bại, không được như ý. Bởi lẽ, đám đông đã nhìn thấy, và nhận biết nơi Thầy – trò định đến và “tất cả các thành phố” đều chạy đến trước để đón đầu Thầy – trò Giêsu. Vừa ra khỏi thuyền, trông thấy đám người rất đông, Đức Giêsu lại rung cảm, xót thương trong lòng, vì họ như những con chiên không người chăn dắt. Một đàn chiên không người chăn dắt sẽ lang thang vô định. Chúng không biết đi đâu về đâu và nơi đâu có đồng cỏ xanh tươi và dòng suốt mát để ăn uống bổ sức. Chưa nói đến nguy cơ sói rừng luôn  rình rập cướp đi mạng sống của chúng. Đức Giêsu, vị mục tử nhân lành, cũng là mục tử Thiên Chúa, không thể bỏ rơi đàn chiên của mình. Họ đã không tìm thấy nơi những vị lãnh đạo tinh thần đương thời (các kinh sư và Pharisêu) một sự bảo đảm no đủ về tinh thần, tâm linh, nên họ phải chạy theo Đức Giêsu.[12] Nơi Đức Giêsu họ tìm được sự tốt lành, thánh thiện, nhiệt tâm và khôn ngoan uy quyền nữa. Mục tử Giêsu đã dạy họ nhiều điều. Tính từ “πολλά” (nhiều) làm danh từ túc từ cho động từ “đidasko” (dạy) mở rộng nội dung giảng dạy của Đức Giêsu ra vô hạn. Người đã dạy họ “nhiều điều” về Nước Trời, về niềm tin, về Lề Luật, về Thiên Chúa, về tình yêu, về sự phó thác, về cách đối nhân xử thế trên đời… Nói chung là tất cả những điều Người có thể dạy, vì sự “động lòng thương” từ con tim của Người.

Đời người là một chuỗi dài của những hoạt động yêu thương không biết mệt mỏi vì chính mình và vì người khác. Trong cơn đại dịch, có biết bao nhiêu bàn tay, khối óc và tấm lòng đã “vã mồ hôi, sôi nước mắt vì” miếng cơm, manh áo, bảo vệ sức khỏe và giành dựt sự sống cho người khác. Thiết nghĩ, đó hẳn là nhịp sống và là tinh thần của người Tông Đồ của Chúa Giêsu. Họ phải luôn lên đường như thế chứ không phải chỉ trong cơn đại dịch mà thôi. Và rồi, họ cũng phải ý thức phận người mỏng giòn, đầy giới hạn của mình, để rồi biết dành thời gian nghỉ ngơi bên Chúa, và cả du lịch, dã ngoại nữa  nhằm kín múc những ơn thánh cần thiết cũng như được hồi phục năng lượng dồi dào cho những hoạt động “động lòng thương” với người thân và nhân thế. Có hai sự nguy hiểm trong cuộc sống của con người. Thứ nhất, làm việc không ngừng nghỉ. Nếu làm việc không ngừng nghỉ thì sẽ có nguy cơ ngừng thở về tâm linh cũng như thể xác. Thứ hai, nghỉ ngơi quá nhiều. Cầu nguyện không hoạt động không phải là cầu nguyện thật. Tận hiến không cầu nguyện không phải là tận hiến thật. Chúng ta không tìm theo Chúa để tránh theo đuổi tha nhân. Đúng hơn, theo Chúa để làm cho chúng ta làm tốt hơn sứ vụ phục vụ tha nhân.[13] Đời người Kitô hữu cũng có lúc như những con chiên không người chăn dắt. Họ đứng giữa ngã ba đường của cuộc đời, giữa dòng người đông đảo, nhưng bơ vơ lạc lõng. Họ không biết đi đâu, về đâu, bởi không có mục đích tối hậu rõ ràng của đời mình. Họ bơ vơ lạc lõng giữa dòng người đông đúc, vì họ không hề có một cam kết yêu thương cụ thể với một ai cả. Họ cảm thấy cô đơn vì chưa từng gắn bó với Chúa và với tha nhân.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] Xem thêm về kiểu hành văn “bánh mì kẹp thịt” của tác giả Máccô trong Joseph Phạm Duy Thạch, “Talitha kum: Này Bé, Hãy Trỗi Dậy” [HORIZON MISSIONARY: “TALITHA KUM: NÀY BÉ, HÃY TRỖI DẬY”. Chú Giải Tin Mừng Chúa Nhật XIII TN B (Mc 5,21-43) (josephpham-horizon.blogspot.com)] (truy cập 21/07/2021).

[2] R.A. Guelich, Mark 1-8:26 (WBC; Dallas 2002) 34B, 339.

[3] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 314.

[4] R.A. Guelich, Mark 1-8:26, 339.

[5] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark, 318.

[6] Lexically, but even more so substantively, it is reminiscent of the scene in 3:20 that led the family of Jesus to think that he was out of his senses, “the crowd gathered again, so that they were not even able to eat” [Ibid.]; W. Barclay cho rằng đây là cách diễn tả nhịp sống của ki-tô hữu: gặp Chúa và gặp tha nhân, nghi ngơi và lao động, thời gian để xạc pin: “Here we see what might be called the rhythm of the Christian life. The Christian life is a continuous going into the presence of God from the presence of men and coming out into the presence of men from the presence of God. It is like the rhythm of sleep and work. We cannot work unless we have our time of rest; and sleep will not come unless we have worked until we are tired.” [W. Barclay, The Gospel of Mark. Lecturer in the University of Glasgow (DSB; Philadelphia 2000) 155].

[7] M. Zerwick – M. Grosvenor, A grammatical analysis of the Greek New Testament (Rome 1974) 123.

[8] Theo quan sát của J. Marcus, những vị vua miền Lưỡng Hà đã xem họ như những người chăn chiên của dân và trong Cựu Ước, rồi văn chương Do Thái sau đó cả Chúa và lãnh đạo nhân loại được phác họa như những mục tử [J. Marcus, Mark 1-8. A New Translation with Introduction and Commentary (AYBC; New Haven – London 2008) 27A, 406].

 [9] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark, 319.

[10] Mc 1,21.22; 2,13; 4,1.2; 6,2.6.30.34; 7,7; 8,31; 9,31; 10,1; 11,17; 12,14.35; 14,49.

[11] Mc 4,38; 5,35; 9,17.38; 10,17.20.35; 12,14.19.32; 13,1;14,1.

[12] Theo J. Marcus, kiểu nói “Con chiên không có mục tử” đã trở thành ẩn dụ mang tính tục ngữ dành cho những người đau khổ qua hoặc là thiếu một sự dẫn dắt lành mạnh (Ds 27,17; 1 V 22,17= 2 Sbn 18,16; Gđt 11,19) hoặc là qua những vị lãnh đạo xấu xa (Ed 34,8; Dcr 10,2) (J. Marcus, Mark 1-8, 406).

[13] W. Barclay, The Gospel of Mark. Lecturer in the University of Glasgow (DSB; Philadelphia 2000) 155.