Wednesday, 14 April 2021

TỪ CHỨNG KIẾN ĐẾN CHỨNG NHÂN. Chú Giải TM CN III PS B (Lc 24,33-48), Lm. Jos.Ph.D.Thạch, SVD

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

 33 Καὶ ἀναστάντες αὐτῇ τῇ ὥρᾳ ὑπέστρεψαν εἰς Ἰερουσαλὴμ καὶ εὗρον ἠθροισμένους τοὺς ἕνδεκα καὶ τοὺς σὺν αὐτοῖς,

 34 λέγοντας ὅτι ὄντως ἠγέρθη ὁ κύριος καὶ ὤφθη Σίμωνι.

35 καὶ αὐτοὶ ἐξηγοῦντο τὰ ἐν τῇ ὁδῷ καὶ ὡς ἐγνώσθη αὐτοῖς ἐν τῇ κλάσει τοῦ ἄρτου.

 36 Ταῦτα δὲ αὐτῶν λαλούντων αὐτὸς ἔστη ἐν μέσῳ αὐτῶν καὶ λέγει αὐτοῖς· εἰρήνη ὑμῖν.

 37 πτοηθέντες δὲ καὶ ἔμφοβοι γενόμενοι ἐδόκουν πνεῦμα θεωρεῖν.

 38 καὶ εἶπεν αὐτοῖς· τί τεταραγμένοι ἐστὲ καὶ διὰ τί διαλογισμοὶ ἀναβαίνουσιν ἐν τῇ καρδίᾳ ὑμῶν;

 39 ἴδετε τὰς χεῖράς μου καὶ τοὺς πόδας μου ὅτι ἐγώ εἰμι αὐτός· ψηλαφήσατέ με καὶ ἴδετε, ὅτι πνεῦμα σάρκα καὶ ὀστέα οὐκ ἔχει καθὼς ἐμὲ θεωρεῖτε ἔχοντα.

 40 καὶ τοῦτο εἰπὼν ἔδειξεν αὐτοῖς τὰς χεῖρας καὶ τοὺς πόδας.

 41 ἔτι δὲ ἀπιστούντων αὐτῶν ἀπὸ τῆς χαρᾶς καὶ θαυμαζόντων εἶπεν αὐτοῖς· ἔχετέ τι βρώσιμον ἐνθάδε;

 42 οἱ δὲ ἐπέδωκαν αὐτῷ ἰχθύος ὀπτοῦ μέρος·

 43 καὶ λαβὼν ἐνώπιον αὐτῶν ἔφαγεν.

 44 Εἶπεν δὲ πρὸς αὐτούς· οὗτοι οἱ λόγοι μου οὓς ἐλάλησα πρὸς ὑμᾶς ἔτι ὢν σὺν ὑμῖν, ὅτι δεῖ πληρωθῆναι πάντα τὰ γεγραμμένα ἐν τῷ νόμῳ Μωϋσέως καὶ τοῖς προφήταις καὶ ψαλμοῖς περὶ ἐμοῦ.

 45 τότε διήνοιξεν αὐτῶν τὸν νοῦν τοῦ συνιέναι τὰς γραφάς·

 46 καὶ εἶπεν αὐτοῖς ὅτι οὕτως γέγραπται παθεῖν τὸν χριστὸν καὶ ἀναστῆναι ἐκ νεκρῶν τῇ τρίτῃ ἡμέρᾳ,

 47 καὶ κηρυχθῆναι ἐπὶ τῷ ὀνόματι αὐτοῦ μετάνοιαν εἰς ἄφεσιν ἁμαρτιῶν εἰς πάντα τὰ ἔθνη. ἀρξάμενοι ἀπὸ Ἰερουσαλὴμ

 48 ὑμεῖς μάρτυρες τούτων. (Lk. 24:35-48 BGT)

33 Sau khi đứng dậy ngay giờ ấy, họ (hai môn đệ Emmaus) quay trở về Jêrusalem và tìm gặp nhóm Mười Một đang tụ họp và những người ở với họ,

34 Những người này nói rằng Chúa đã được chỗi dậy và đã cho ông Phêrô gặp.

35 Và họ (hai môn đệ Emmaus) tường thuật cho họ (nhóm Mười Một) điều xảy ra trên đường và họ đã được tỏ cho biết thế nào khi Người bẻ bánh.

36 Đang khi họ đang nói những điều này, Người đứng giữa họ và nói cùng họ: “Bình an cho anh em

37 Họ hoảng hồn và trở nên kinh khiếp vì họ nghĩ là thấy hồn ma.

38 Nhưng Người nói cùng họ: “Tại sao anh em lại kinh sợ và vì cớ gì mà sự nghi ngờ nảy lên trong lòng anh em?”

39 “Hãy nhìn xem những bàn tay và những bàn chân của Thầy, chính Thầy đây. Hãy chạm vào Thầy và hãy xem, hồn ma đâu có xác và xương như anh em thấy Thầy đang có”.

40 Và khi nói điều này Người cho họ xem những bàn tay những bàn chân.

41 Nhưng vì họ chưa tin vì sự vui mừng và kinh ngạc. Người nói cùng họ: “Anh em có gì có thể ăn không?”

42 Họ đưa cho Người một phần cá nướng.

43 Và sau khi nhận lấy, Người ăn trước mặt họ.

44 Rồi Người nói cùng họ: “Những lời của Thầy, những lời mà Thầy đã nói cùng anh em khi Thầy còn ở với anh em rằng: tất cả những lời đã được viết trong luật Môsê và các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh về Thầy phải được hoàn trọn.”

45 Rồi Người mở trí cho họ hiểu Thánh Kinh

46 Và Người nói cùng họ rằng như đã được chép, Đấng Kitô phải chịu đau khổ và chỗi dậy từ cõi chết vào ngày thứ ba.

47 Và sự hoán cải để được ơn tha thứ nhờ danh Người phải được loan báo cho tất cả các dân tộc, bắt đầu từ Jêrusalem.

48 Anh em là những chứng nhân của những việc này.

 

Bối cảnh bản văn:

Lc 24,35-38 nằm ngay sau và tiếp nối trình thuật về sự kiện Đức Giêsu hiện ra cho hai môn đệ trên đường trở về Emmaus (24,13-32) và cuộc gặp gỡ giữa hai ông và nhóm Mười Một tại Jêrusalem (Lc 24,33-35). Đoạn văn này cũng nằm ngay trước đoạn văn kết thúc của Tin Mừng Luca (Lc 24,49-53). Trình thuật này nằm trong tổng thể những trình thuật nói về những lần hiện ra của Đức Giêsu. Nó kết hợp chặt chẽ với đoạn văn nói về “ngôi mộ trống” và lời chứng của những người phụ nữ (Lc 24,1-12) để hoàn trọn những bằng chứng về sự kiện Đức Giêsu Phục Sinh. Nghĩa là, không những Đức Giêsu không còn ở trong mồ, các thiên sứ đã hiện ra loan báo rằng Người đã sống lại, mà chính Người còn hiện ra cho các môn đệ. Người không những hiện ra một lần mà còn nhiều lần, nhiều cách khác nhau. Người đã không biến mất cách bí ẩn. “Xác chết” của Người cũng không bị các môn đệ lấy cắp như người ta vẫn đồn thổi (Mt 28,11-15). Bằng chứng Người đã Phục Sinh là quá tỏ tường và chắc chắn. Chủ đề “sai đi” và “làm chứng nhân” vào cuối đoạn văn này (Lc 24,47-48) rõ ràng nối kết cách chặt chẽ với lời hứa “gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa” hay là “quyền năng từ trời cao”. Những điều này ngụ ý đến Thần Khí. Chủ đề này cũng liên kết không rời đến những hoạt động của các Tông Đồ và Giáo Hội Sơ Khai được tường thuật cách chi tiết trong sách Công Vụ Tông Đồ (được xem là phần thứ hai của tác phẩm của Luca). Chủ đề mạc khải Thánh Kinh về việc Đấng Kitô phải chịu khổ hình rồi ngày thứ ba sẽ chỗi dậy (Lc 24,46) đã được nói đến trong trình thuật về “Ngôi Mộ trống” trước đó (Lc 24,7) và trong trình thuật về hai môn đệ Emmaus (Lc 24,26-27). Lời chúc bình an và cho xem bàn tay, bàn chân có mối liên hệ gần gũi với trình thuật của Gioan về việc Đức Giêsu hiện ra với nhóm Mười Một (Ga 20,19-23) và với nhóm Mười Một cùng với Tôma (Ga 20,24-29). Cũng cần biết thêm, trong bốn tác giả Tin Mừng, chỉ có Luca và Gioan đề cập đến lời chúc bình an của Đấng Phục Sinh. Gioan dùng nhiều lần hơn lời chúc này (Gioan dùng 3 lần Ga 20,19.21.26, trong khi Luca chỉ có một lần Lc 24,36). Hơn nữa, cũng chỉ có Luca và Gioan nói đến việc Đức Giêsu cho các môn đệ xem những bàn tay, những bàn chân (Luca) và cạnh sườn (Gioan). Những đoạn này của Luca và Gioan dường như có chung truyền thống. Kiểu nói “Sách Luật Môsê, các Sách Ngôn Sứ và các sách Thánh Vịnh” cho phép sự kiện, trình thuật này nối kết với toàn bộ Cựu Ước. Trong bối cảnh trực tiếp, Lc 24,35-38 hoàn tất, tổng hợp tất cả những lần hiện ra của Đức Giêsu. Nó là tổng hợp của lần hiện ra cho cá nhân hai môn đệ (Lc 24,13-32), và lần hiện ra với cá nhân Phêrô và được nhóm Mười Một làm chứng (Lc 24,33-34). Lần này, Đức Giêsu hiện ra với toàn bộ các môn đệ cách long trọng và cụ thể hơn. Vậy là không còn ai không được nhìn thấy Đấng Phục Sinh. Sứ vụ sẽ được trao cho tất cả, sau khi tất cả họ đều đã thấy Chúa Phục Sinh.

Giới hạn và cấu trúc:

Giới hạn: Lc 24,35-38 được khởi đầu bằng việc các ông (hai môn đệ Emmaus) tường thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường. Lc 24,35 xem ra không phải là một câu khởi đầu lý tưởng cho một đoạn văn bởi vì nó không mang một dấu hiệu chuyển đoạn một cách rõ rệt. Hơn nữa, Lc 24,35 làm gián đoạn cuộc đối thoại giữa nhóm Mười Một và Hai Môn đệ Emmaus (Hai nhóm này đang kể cho nhau nghe về cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Phục Sinh). Thiết nghĩ, đoạn văn này nên được mở rộng ra phía trước ít nhất đến Lc 24,33: “Họ đứng dậy, quay trở lại Jêrusalem, gặp nhóm Mười Một và các bạn hữu”. Về văn chương, Lc 24,33 mới có những dấu hiệu chuyển đoạn rõ rệt: Nơi chốn (Jêrusalem), thời gian: “Ngay lúc ấy”; nhân vật (nhóm Mười Một và các bạn hữu). Về nội dung, nếu lùi lại phía trước đến Lc 24,33 như thế đoạn này mới bao hàm được cuộc đối thoại giữa hai nhóm (Nhóm Mười Một và nhóm hai môn đệ Emmaus). Câu kết của đoạn văn: “Chính anh em là những chứng nhân của những điều này” (Lc 24,38) xem chừng cũng không hợp lý lắm, bởi nó cũng cắt đứt sự liền mạch trong lời nói của Đức Giêsu với các môn đệ. Trong câu văn sau đó (Lc 24,49), Đức Giêsu vẫn tiếp tục nói trong mạch văn rằng: “Để ý (này)! Thầy sẽ gửi cho anh em lời hứa của cha Thầy”. Vì thế, đoạn văn nên được kéo dài đến hết Lc 24,49 mới kết thúc lời căn dặn của Đức Giêsu. Hơn nữa, Lc 24,50 mới có dấu hiệu chuyển đoạn cho một đoạn mới. Một cách lý tưởng hơn, câu chuyện này nên được kết thúc ở câu cuối cùng của Tin Mừng Luca, vì tới đây thì mới kết thúc câu chuyện Đức Giêsu hiện ra với nhóm Mười Một và những người đồng bạn. Câu chuyện kết thúc bằng việc, họ nhìn nhận Đức Giêsu Phục Sinh bằng hành động “bái thờ” Người, “lòng đầy hoan hỷ” và “hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24,52-53).[1]

Cấu trúc: Lc 24,35-48 có thể được chia làm 3 phần:

Phần đầu tiên được nới rộng ra cho trình thuật về cuộc hội ngộ giữa hai nhóm chứng nhân: nhóm Emmaus và nhóm Mười Một cũng như những người đang tụ họp với họ. Phần này gồm ba tiểu phần: Ngoài phần bối cảnh, hai tiểu phần song song (A) Lời chứng của nhóm Mười Một // (A’) Lời chứng của nhóm Emmaus. Phần II cũng gồm hai tiểu phần chính song song với nhau. Tiểu phần (A) Cảm xúc của các môn đệ // (A’) Cảm xúc của các môn đệ. Phần III gồm 3 tiểu phần khác nhau. Tiểu phần (A) Gợi nhớ; tiểu phần (B) Mở trí; tiểu phần (C) Lời Chứng; và tiểu phần (D) Chứng nhân – Các môn đệ.

I.                Cuộc đối thoại giữa nhóm Emmaus và nhóm Mười Một (24,33-35)

Bối cảnh: Thời gian, nơi chốn, nhân vật (24,33)

A. Lời chứng của nhóm Mười Một (24,34)

A’. Lời chứng của nhóm Emmaus (24,35)

II.             Cuộc hiện ra cho cả hai nhóm (24,36-43)

Bối cảnh: Hiện đến – chúc bình an (24,36)

A. Cảm xúc của các môn đệ: kinh hồn, bạt vía (24,37)

A1. Trấn an của Đức Giêsu: Sao lại hoảng hốt? Hãy nhìn xem (24,38-39)

A2. Chứng minh: Cho xem tay và chân (24,40)

A’. Cảm xúc của các môn đệ: Chưa tin – mừng – ngỡ ngàng (24,41a)

A1’. Hỏi xin thức ăn (24,41b)

A2’. Chứng minh: Ăn cá nướng (24,41b-43)

III.           Giải thích biến cố Tử Nạn – Phục Sinh (24,44-48)

A. Gợi nhớ (24,44)

B. Mở trí (24,45a)

C. Lời chứng (24,46-47)

C1. Khổ nạn – Phục Sinh (24,46)

C2. Mệnh lệnh rao giảng (24,47)

D. Chứng nhân: Các tông đồ (24,48)

Một số điểm chú giải

1.     Chúa đã chỗi dậy:[2] Đây là thông tin ‘hót’ có khả năng thay đổi cả vận hạn cuộc đời của các Tông Đồ và những ai tin theo Đức Giêsu. Họ không mong chờ tin này, bởi vì họ không hiểu lời Thánh Kinh mà Đức Giêsu phải làm cho họ nhớ lại như sẽ thấy sau. Đối với họ đây là thông tin bất ngờ và không tưởng mà khi đối diện họ thường “sửng sốt”, “hoảng sợ”, hoặc “kinh ngạc”. Thật ra, trong Tin Mừng Nhất Lãm Đức Giêsu đã tiền báo việc Người “sẽ chỗi dậy” không phải một lần mà đến ba lần (Mc 8,31-33; 9,31-32; 10,33-34; Mt 16,21-23; 17,22-23; 19,27-30; Lc 9,22; 9,43b-45; 18,27-30). Thế mà, chẳng hiểu sao họ chẳng nhớ gì về lời tiền báo được lặp lại với mật độ dày đặc này. Có thể cái chết của Đức Giêsu là cú sốc quá lớn đối với họ vì họ không bao giờ tưởng tượng được là Đấng Mêsia phải chết. Tất cả những đều hy vọng vào một Đấng Mêsia quyền năng bách chiến bách thắng trên ma quỷ, bệnh tật và mọi ách thống trị.

2.     “Những gì đã xảy ra dọc đường”: Cách diễn tả này là tóm gọn cho tất cả câu chuyện dài nói về việc Đức Giêsu hiện ra đồng hành, lắng nghe, đặt câu hỏi, khiển trách và giải thích toàn bộ Thánh Kinh cho hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24,13-32). “Những gì xảy ra dọc đường” là tiền đề cũng như là phong nền cho việc “họ nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh”.

3.     “Khi Người bẻ bánh”: Đây là khoảnh khắc mấu chốt của trình thuật Emmaus mà nếu không có nó thì hai môn đệ Emmaus vẫn còn “buồn rầu” như lúc họ rời Jêrusalem về Emmaus, và sẽ không có cuộc trở lại Jêrusalem ngay lập tức. Khoảnh khắc “khi Người bẻ bánh” đã làm cho “mắt của họ được mở ra và họ nhận ra Người” (Lc 24,31). Không những thế, khoảnh khắc ấy còn giúp họ nhận ra rằng “lòng của họ đã bừng cháy lên” khi họ nghe Người nói chuyện và giải thích Thánh Kinh (Lc 24,32). Không có khoảnh khắc “khi Người bẻ bánh” thì “sự bừng cháy kia” cũng đi vào quên lãng và chẳng có tác dụng gì. “Khoảnh khắc ấy” bây giờ lại trở nên lời chứng của hai môn đệ Emmaus cùng với “những chuyện xảy ra dọc đường”. Cả hai làm nên một lời chứng sống động cho sự hiện hữu cách sống động và gần gũi của Đức Kitô Phục Sinh.

4.     “Đứng giữa các ông”: Tương tự như Gioan (Ga 20,19.26), Luca cũng cho thấy Đức Giêsu “đứng giữa” các tông đồ. Vị trí “đứng giữa” này vừa cho thấy Đức Giêsu chính là trung tâm điểm và là điểm hội tụ của cộng đoàn các Tông Đồ, vừa cho thấy rằng tất cả các Tông Đồ, cũng như những người ở cùng các ông đều có thể nhìn thấy Đức Giêsu Phục Sinh cách tỏ tường. Luca dùng động từ “ἀθροίζω” (quy tụ) ở thể bị động, thì hoàn thành và lối phân từ (ἠθροισμένους – đang được quy tụ với nhau) để diễn tả cách thức nối kết của các Tông Đồ và những người cùng ở với họ (Lc 24,33). Họ đang được Thiên Chúa quy tụ lại với nhau và Đức Giêsu chính là điểm quy chiếu, nơi quy tụ cho cộng đoàn này.

5.     “Bình an cho anh em”:[3] Như đã nói trên, chỉ có Luca và Gioan ghi lại lời chúc bình an này của Đức Giêsu. Gioan ghi lại nhiều lần hơn (3 lần: Ga 20,19.21.26) trong khi đó Luca chỉ có một lần, chính là lần này (Lc 24,36). Tuy nhiên, ý nghĩa của lời chúc bình an này hơi khác nhau giữa Luca và Gioan. Trong Gioan, các môn đệ đang ở trong tình trạng “cửa đóng then cài” vì “sợ những Người Do Thái”. Đức Giêsu đến và trấn an các ông bằng lời chúc bình an. Kết quả là, các môn đệ “vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20,20). Luca không nói gì đến tình trạng “cửa đóng then cài” và nỗi sợ “những người Do Thái” của các Tông Đồ. Ngay cả trong sách Công Vụ, đoạn nói về Lễ Ngũ Tuần, Luca cũng chỉ nói là “mọi người đang quy tụ ở một nơi” (Cv 2,1). Lối giải thích rằng các Tông Đồ “bung cửa ra”, ra đi rao giảng, sau khi nhận Thánh Thần, xem ra chỉ là một sự suy đoán, diễn giải mà thôi, vì theo Luca, họ có đóng cửa đâu mà “bung ra.” Luca cũng cho biết rằng các Tông Đồ “hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24,52). Sự đe dọa của người Do Thái hình như không tồn tại trong tác phẩm của Luca. Rõ ràng, Luca nhấn mạnh đến sự quy tụ hơn là tình trạng sợ hãi “những Người Do Thái” của nhóm các môn đệ và những người ở với họ. Trong dịp quy tụ và bàn luận về sự phục sinh của Đức Giêsu, Người xuất hiện và ban bình an cho họ.

6.     Hoảng hồn và trở nên kinh khiếp”: Ngạc nhiên thay, sau lời chúc bình an của Đức Giêsu, tâm trạng các môn đệ dường như không những không được bình an hơn mà còn vô cùng hoảng loạn. Luca dùng hai động từ với nghĩa tương tự nhau đề diễn tả tâm trạng của các môn đệ. Cả hai động từ đều diễn tả nỗi sợ hãi ở mức độ mạnh: “πτοέω” (kinh sợ, giật mình) và động từ trạng thái “γίνομαι” + tính từ “ἔμ-φοβος” (trở nên kinh hãi). Có thể dịch nôm na rằng: “Họ giật bắn cả mình và trở nên kinh hãi”. Bản Việt Ngữ (CGKPV) dịch rằng “các ông kinh hồn bạt vía” hay là “kinh hoàng khiếp đảm” (NTT), đều là cách dịch ghép cả hai động từ lại. Cách diễn tả của Luca cho thấy đó là nỗi sợ hãi ở mức độ cao nhất trong cuộc đời các môn đệ. Chưa bao giờ mà các ông kinh hãi như thế. Cảm xúc này cho thấy sự nghịch lý, mức độ không tưởng trong suy nghĩ của các môn đệ trước biến cố Phục Sinh và khi đối diện với Đấng Phục Sinh. Phản ứng của họ cho thấy một bản chất không thể khôi phục của những thế giới quan của họ, sự thiếu chấp nhận tất cả những lời dạy của Đức Giêsu về cách thức mà mục đích thần linh sẽ được hoàn trọn nơi Người.[4]

7.     Hồn Ma”: “πνεῦμα” trong tiếng Hy Lạp thường có nghĩa là “tinh thần”, “gió”, “hơi thở” (Lc 23,46), “linh hồn” (Lc 1,47). Danh từ này dùng để nói về Chúa Thánh Thần (Lc 1,35; 2,25; 3,22;11,13; 12,10.12) hay là Thiên Chúa: “Thiên Chúa là tinh thần, (thần khí) (Ga 4,24). Nó cũng được dùng để diễn tả quỷ (Lc 4,33; 9,39; 11,24). Trong bối cảnh này, với sự giải thích mang tính trấn an của Đức Giêsu: “Hồn ma đâu có xương và có thịt như anh em thấy Thầy có đây”, danh từ này nên hiểu là “hồn” của Đức Giêsu thì hợp lý nhất. Họ tưởng là “hồn” của Đức Giêsu hiện về, nên họ “kinh hãi”. Máccô, Mátthêu và Gioan dùng một danh từ khác nữa để diễn tả “ma”. Đó là “φάντασμά” (ma, ghost). Danh từ này được cả Máccô, Mátthêu và Gioan dùng trong trình thuật Đức Giêsu đi trên mặt nước (Mc 6,45-52; Mt 14,22-33; Ga 6,16-21). Trong trình thuật ấy, các Tông Đồ cũng tưởng Đức Giêsu là “ma”, có lẽ vì chưa xác tín về khả năng siêu phàm của bản tính thần linh nơi Đức Giêsu. Luca không có trình thuật này. Tuy nhiên, chỉ có trong Luca, độc giả mới biết là các Tông Đồ nghĩ rằng Đức Giêsu Phục Sinh là “hồn ma”.

8.     “Hãy chạm Thầy và hãy xem”: Lời mời gọi này nằm trong toàn bộ nỗ lực trấn an, giải thích của Đức Giêsu cho các môn đệ rằng Người không phải là “hồn ma”.[5] Người là người thật, bằng xương và bằng thịt (σάρκα καὶ ὀστέα Lc 24,39). Xương và thịt này có thể vừa xem thấy bằng mắt vừa có thể chạm và cảm nhận bằng xúc giác. Sự đáp ứng này của Đức Giêsu dành cho các môn đệ ở đây tương tự như cách mà Đức Giêsu đáp ứng đòi hỏi của Tôma trong Tin Mừng Gioan (Ga 20,25.27). Tô-ma đòi hỏi phải xỏ ngón tay vào những lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn. Nghĩa lã đụng chạm, kiểm chứng được những vết thương của Người. Tuy nhiên, nói thế thôi, chứ Tôma chưa bao giờ xỏ ngón tay vào những lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Đức Giêsu. Chỉ cần thấy Chúa thì ông đã tin rồi (Ga 20,28).[6]

9.     “Cho họ xem những bàn tay và những bàn chân”: Bằng chứng cụ thể nhất chứng tỏ rằng đây là Đức Giêsu “chính hiệu” không phải “ma”, cũng không phải “hàng nhái”, không có gì khác hơn là những vết thương trên cơ thể Người. Bất cứ người tử tội bị đóng đinh nào cũng để lại những vết thương trên hai bàn tay và hai bàn chân. Luca không đề cập đến vết thương bên cạnh sườn. Vết thương này chỉ có Đức Giêsu mới có. Tuy nhiên, trong cả bốn tác giả sách Tin Mừng, chỉ có tác giả Tin Mừng thứ tư ghi lại sự kiện Đức Giêsu bị đâm thâu vào cạnh sườn khiến “máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Luca không nhắc đến vết thương này xem ra cũng hợp lý, vì ông đã không có tường thuật về việc Đức Giêsu bị đâm vào cạnh sườn. Gioan nhắc đến ba lần những lỗ đinh trên những bàn tay và vết thương ở cạnh sườn, nhưng không đề cập đến những vết thương trên những bàn chân (Ga 20,20.25.27). Như thế, có lẽ phải kết hợp cả hai nguồn của Gioan và Luca, người ta mới có đầy đủ 5 vết thương trên cơ thể của Đức Giêsu. Tuy nhiên, số lượng vết thương không quan trọng. Điều quan trọng hơn là những vết thương ấy chứng tỏ ít nhất hai điều: (1) Đức Giêsu đã Phục Sinh; (2) Người mang chính thân xác khi Người chịu khổ hình và chết.

10.  “Nhưng vì họ chưa tin”: Đức Giêsu phải đi xa hơn một tý nữa để chứng minh cho các môn đệ, vì có lẽ Người vẫn thấy dấu hiệu của sự nghi ngờ trong lòng họ. “Sự nghi ngờ nảy lên trong lòng” lòng họ. Chữ “tâm” (lòng) được nhắc đến ở đây cũng như trước đó (Lc 24,25.32) nhắc nhở thính giả của Luca về sự quan trọng trong những cảnh này. Đó là sự cần thiết phải có những cam kết nội tâm của những con người này để tái định hình trong ánh sáng của sự Phục Sinh của Chúa.[7] Họ phải hoàn toàn chuyển đổi nhưng họ tiếp tục thiếu những tố chất để đón nhận kinh nghiệm mới này của Đức Giêsu trong một cách thức đầy ý nghĩa. Luca giải thích lý do họ “chưa tin” là “vì vui mừng và kinh ngạc” (χαρᾶς καὶ θαυμαζόντων). Cảm xúc các môn đệ sau sự trấn an của Đức Giêsu bằng lời giải thích và được xem những bàn tay và những bàn chân của Người. Họ đã chuyển từ cảm xúc “kinh sợ và hết hồn” thành cảm xúc “vui sướng và ngạc nhiên”. Sự chưa tin của các môn đệ ở đây có thể nói nôm na là “chưa tin vào mắt mình”. Sự chuyển đổi tình huống là quá nhanh chóng. Họ tưởng mình đang mơ, vì niềm vui quá lớn và đến quá bất ngờ. Có thể sánh như là một người mê tiền trúng số vài trăm tỷ đồng (tuy hơi khập khiểng). Đức Giêsu chính là nguồn sống, là lý tưởng, là cùng đích của toàn bộ đời sống của họ. Khi Người chết, đối với họ, mọi sự coi như chấm hết. Nay Người sống lại, mọi sự được phục hồi lại, tất cả niềm hy vọng của họ và nhất là sự sống vĩnh cửu được hồi sinh (Lc 18,30; Ga 3,16.36; 5,24; 6,40; Rm 6,23; 1 Tm 1,16).

11.  “Lấy … Ăn trước mặt họ”: Ứng với một cảm xúc của các môn đệ là một hành động nỗ lực giải thích và chứng minh của Đức Giêsu. Khi các ông “kinh hãi”, Người đã cố gắng mời gọi các ông hãy nhìn xem, hãy chạm vào Người. Rồi Người tiếp tục giải thích rằng “hồn ma” đâu có xương có thịt như các ông đang thấy Người. Khi họ vẫn còn “chưa tin vì mừng vui và kinh ngạc”, Người lại hỏi xin một phần cá nướng và ăn trước mặt các ông. Giới từ “trước mặt” diễn tả sự cụ thể, mang tính chứng minh cho mọi người đều thấy. Nó hòa hợp với những mời gọi, “hãy xem”, hãy “chạm” trước đó của Đức Giêsu để làm thành những chứng cứ đầy đủ mang tính mắt thấy, tai nghe, tay sờ.[8] Hai hành động “sau khi nhận lấy” và “ăn” cho thấy Đức Giêsu đang sống thật sự như một người bình thường. Người có thể sử dụng tay và ăn uống rất bình thường. Hành động này cho thấy Đức Giêsu đang làm hết sức có thể để các môn đệ có thể tin trọn vẹn vào sự sống lại và xuất hiện tỏ tường của Người. Sự kiện Đức Giêsu xin phần cá nướng và ăn trước mặt các Tông Đồ và những đồng bạn chỉ có trong Tin Mừng Luca. Luca diễn tả Đức Giêsu chủ động và nỗ lực hết mình để minh chứng cho nhóm các Tông Đồ về thân thế Phục Sinh của Người. Tường thuật Đức Giêsu ăn cá nướng, Luca chỉ muốn nhấn mạnh đến rằng thân xác Đức Giêsu Phục Sinh không phải là “ma” nhưng là một thực tại có thể cảm nghiệm được bằng giác quan.[9]

12.  “Những lời mà Thầy đã nói cùng anh em”: Sau khi chứng minh cho các môn đệ thấy rằng Người đang hiện diện thật bằng xương bằng thịt. Đức Giêsu tiếp tục gợi nhớ cho các ông về những điều mà Người đã nói trước về việc ứng nghiệm của Luật Môsê, Các Ngôn Sứ và Thánh Vịnh. Có rất nhiều Thánh Vịnh đề cập đến Đấng Mêsia (Tv 2,2; 18,51; 20,7; 28,8; 84,10; 89,39.52; 132,10.17).[10]

13.  “Luật Môsê và các ngôn sứ và các Thánh Vịnh”: Đây rõ ràng là cách nói tổng quát cho toàn bộ Sách Thánh Cựu Ước. Luật Môsê là Bộ Ngũ Thư (5 cuộn): Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật. Bộ này thường được gọi là “Tô-rah” (תורה), tiếng Hy Lạp là “νόμος” (luật). Thật ra, chữ Tôrah trong tiếng Do Thái có nghĩa là “chỉ dẫn, hướng dẫn, lời dạy” chứ không chỉ có nghĩa là cứng nhắc là “Luật”. Đó là những chỉ dẫn, lời dạy của Chúa. Năm cuộn sách này trước đây thường được hiểu là do ông Môsê ghi lại vì thế giá của ông, vị ngôn sứ vĩ đại được thấy Chúa mặt giáp mặt (Ex 33,11; Ds 12,8; Đnl 5,4; 34,10) và trực tiếp nhận “Mười Lời” (Điều Răn) từ Chúa trên núi Sinai (Xh 31,18; 34,29). Ngày nay, với phương pháp nghiên cứu phê bình văn chương, các chuyên qua khám phá ra rằng 5 cuộn sách này không thể được viết nên bởi một người, vào một khoảng thời gian nhất định. Đó là tác phẩm được hình thành qua nhiều thế hệ, bởi sự gom góp nhiều câu chuyện, nhiều sự kiện; được trình bày bằng nhiều thể loại văn chương khác nhau, bởi nhiều người, qua nhiều thế hệ. Thuyết bốn nguồn văn (J, E, P, D) được Julius Wellhausen giới thiệu vào giữa thế kỷ 19, đã phần nào giải thích được sự kết hợp của các loại văn phong, từ ngữ khác nhau, sự lặp lại, gấp đôi các câu chuyện, trong bộ Ngũ Thư này.[11] Thuyết này tuy có vài chuyên gia phản bác và phê bình nhưng hiện nay vẫn còn giá trị ảnh hưởng và được đa số các chuyên gia hàng đầu đón nhận. Phần thứ hai của Sách Thánh Do Thái được gọi cá “các Ngôn sứ” (Neviim: Gs; Tl; 1&2 Sm; 1&2 V; Is; Gr; Ed; Hs; Ge; Am; Ôv; Gn; Mk; Nh; Kb; Xp; Kg; Dcr; Ml) và phần thứ ba gọi là “các văn phẩm” (Ketuvim: Tv; G; Cn, R, Dc, Hc, Ac, Et; Dn; Er; Nh; Sb).[12] Khi nói “các Thánh Vịnh”, có thể Đức Giêsu muốn nói chung đến toàn bộ thể loại “các văn phẩm” đã liệt kê trên. Trước đó, Luca đã ghi lại một lần Đức Giêsu đề cập đến “Lề Luật” và “các ngôn sứ” (Lc 16,16; Cf. Mt 11,12-13); một lần đề cập đến riêng “Lề Luật” (Lc 16,17; cf. Mt 5,18); và hai lần ông Ápraham nói đến “Môsê” và “các Ngôn Sứ” (Lc 16,29.31). “Môsê” và “tất cả các Ngôn sứ” lại được nhắc lại một lần nữa trong trình thuật về các môn đệ Emmaus (Lc 24,27). Tuy nhiên, trong tất cả những lần ấy, “các Thánh Vịnh” không được nhắc đến. Xem ra, đây là lần lọng trọng mà Luca cho thấy Đức Giêsu bao hàm tất cả các sách Cựu Ước, bao gồm cả “các Thánh Vịnh”. Khi nhắc nhớ như thế, Đức Giêsu cho thấy câu chuyện của Người, của giáo hội sơ khai và câu chuyện của dân Ítrael xưa không khác nhau. Đức Giêsu lồng câu chuyện của mình vào trong câu chuyện Sách Thánh và sự đau khổ, Phục Sinh của Người là điểm quy chiếu và ánh sáng cho toàn bộ Sách Thánh.[13] Hơn thế nữa, sứ vụ chứng nhân của các Tông Đồ sẽ đưa mầu nhiệm của Người vươn đến tương lai nữa.

14.  “Hoàn trọn”: Động từ “hoàn trọn” được dùng ở dạng nguyên mẫu (πληρωθῆναι, Lc 24,44) theo sau động từ không ngôi (δεῖ) diễn tả sự bắt buộc trong kế hoạch cứu độ (“phải được hoàn trọn”). Luca là tác giả Tin Mừng sử dụng nhiều nhất cấu trúc “phải” + “động từ nguyên mẫu” (Lc: 12 lần; Mt 4 lần; Mc: 5 lần; và Ga: 4 lần). Có thể nói đây là cấu trúc được Luca ưa chuộng. Trong 12 lần cấu trúc này được sử dụng trong Tin Mừng Luca, có 9 lần được áp dụng cho Đức Giêsu.[14] Có hai lần ý tưởng “Sách Thánh” (Điều đã được viết) “phải được hoàn trọn” được Luca dùng. Ngoài lần này ra, Đức Giêsu còn nhắc đến việc Người sẽ bị liệt vào hàng “những tên tội phạm” để hoàn trọn lời Thánh Kinh (Lc 22,37). Trong bối cảnh ấy có lẽ Đức Giêsu ám chỉ đến Is 53,12.

15.  “Mở trí cho họ hiểu Thánh Kinh”: Hành động mở trí này có lẽ không có ý nói đến một tác động “bấm nút mở cảm ứng” kiểu điện tử kỹ thuật số, cho bằng là sự giải thích của chính Đức Giêsu. Hành động mở trí có vẻ giống như cách mà Đức Giêsu từng làm với hai môn đệ trên đường Emmaus: “Bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các Ngôn Sứ, Người giải thích cho họ hiểu những gì liên quan đến Người trong tất cả các Sách Thánh” (Lc 24,27). J. Fitzmyer nghĩ rằng cảnh này dường như đề nghị rằng chính đức tin vào chính Đấng Kitô là mấu chốt.[15] F. Bovon tổng hợp rằng Phục Sinh là ngày của những sự mở ra: mở ngôi mộ (24,2); mở đôi mắt (24,31); mở Thánh Kinh (24,32) và mở trí (24,45). “Trí” (νοῦς) ở đây bao hàm cả lòng (καρδία, 24,25.32).[16]

16.  “Đấng Kitô phải chịu đau khổ và chỗi dậy từ cõi chết”: Tất cả những điều Luật Môsê, các ngôn sứ và các Thánh Vịnh nói về Đức Giêsu là một lối nói bao hàm rất rộng. Điều Đức Giêsu muốn giới hạn và cụ thể ở trong bối cảnh này là câu Người đã trích ra: “Đấng Kitô phải chịu đau khổ và chỗi dậy từ cõi chết”. Đây cũng chính là nội dung mấu chốt mà Người đã nhắc với hai môn đệ trên đường về Emmaus (Lc 24,26). Qua hai cách diễn tả ở hai dịp khác nhau với hai nhóm người: (1) Nhóm Hai môn đệ và (2) Nhóm tổng hợp “hai môn đệ, Nhóm Mười Một, những đồng bạn”, Luca như diễn tả cùng một nội dung, tuy thứ tự các câu văn có bị đảo lỗn. Ở câu chuyện hai môn đệ Emmaus, Đức Giêsu khởi đầu bằng việc đặt câu hỏi rằng: “Nào Đấng Kitô chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào vinh quang của Người hay sao?” “Rồi, bắt đầu từ Môsê và tất cả các ngôn sứ Người giải thích cho hai ông hiểu những gì liên quan đến Người trong Sách Thánh” (Lc 24,26-27). Người giải thích như thế như là một cách “mở trí” vì lòng trí của họ thật “chậm tin vào lời các ngôn sứ” (Lc 24,26). Trong trình thuật này, Luca bắt đầu bằng lời gợi nhớ của Đức Giêsu về việc tất cả những gì Luật Môsê, các Ngôn Sứ và các sách Thánh Vịnh đã chép về Người phải được hoàn tất. Rồi, tiếp theo, Đức Giêsu mở trí cho họ hiểu Thánh Kinh. Rồi Đức Giêsu nói nội dung lời Thánh Kinh cụ thể: “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại”. Điều khác biệt duy nhất là trong lời trích Thánh Kinh ở đây Đức Giêsu thêm vào mệnh lệnh loan báo: “và sự hoán cải để được tha thứ nhờ danh Người phải được loan báo cho tất cả các dân tộc, bắt đầu từ Jêrusalem” (Lc 24,47). Nội dung rao giảng là “sự hoán cải để được tha thứ nhờ danh Người”. Câu này không hề có trong trình thuật về hai môn đệ Emmaus. Thật khó để tìm ra trong Luật Môsê, các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh một lời tiền báo như thế liên quan đến mệnh lệnh rao giảng.[17] Một mệnh lệnh loan báo như thế có lẽ là cách thức mà Luca diễn sứ vụ của các Tông Đồ và Giáo Hội sơ khai. Luca xem đó cũng là ứng nghiệm lời Sách Thánh đã nói trước, và sẽ được hoàn trọn nơi các hoạt động của được ghi lại nơi sách Công Vụ Tông Đồ.[18]

17.  “Sự hoán cải để được ơn tha thứ” (μετάνοιαν εἰς ἄφεσιν ἁμαρτιῶν Lc 24:47). Nội dung lời rao giảng mà Đức Giêsu buộc các môn đệ phải rao giảng rõ ràng làm người ta nhớ đến Phép Rửa do Gioan Tẩy Giả đã rao giảng vào đầu sách Tin Mừng. Ông Gioan cũng rao giảng một “Phép Rửa của lòng hoán cải để được ơn tha thứ (βάπτισμα μετανοίας εἰς ἄφεσιν ἁμαρτιῶν Lc 3:3; Cf. Mc 1,4). Đây là thông điệp trọng yếu mà Đức Giêsu muốn các Tông Đồ rao giảng. Trong thời kỳ rao giảng Đức Giêsu cũng thường đến gặp gỡ và ăn uống với những người thu thuế và những người tội lỗi (Lc 5,29-31). Khi Người bị “lẩm bẩm trách” bởi những người Pharisêu Đức Giêsu lý giải rằng: Kêu gọi người tội lỗi hoán cải (ἁμαρτωλοὺς εἰς μετάνοιαν) là mục đích của Người khi đến trần gian (Lc 5,32; Cf. Mt 9,13; Mc 2,17). Sau này, sách Công Vụ Tông Đồ ghi lại lời rao giảng của các môn đệ cũng căn cứ trên mệnh lệnh này. Phêrô và các Tông Đồ rao giảng rằng “Thiên Chúa đã nâng Đức Giêsu, Người mà các ông treo lên cây gỗ mà giết đi, làm thủ lãnh và Đấng Cứu Độ, hầu đem lại cho Ítrael “ơn hoán cải” và “ơn tha tội” (Cv 5,30-31). Khi các thính giả ở Jêrusalem hỏi Phêrô họ phải làm gì, Phêrô đã nói rằng: “Anh chị em hãy hoán cải, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu để được ơn tha tội” (Cv 2,37-38). Thánh Phaolô cũng được Đức Giêsu sai đi “để mở mắt cho dân ngoại và dân Do Thái, khiến họ rời bóng tối mà trở về cùng ánh sáng, thoát khỏi quyền lực Xatan mà trở về cùng Thiên Chúa, nhờ tin vào Đức Giêsu mà được ơn tha tội và được hưởng gia tài cùng với các người đã được thánh hiến” (Cv 26,18). Hoán cải, để được ơn tha tội rõ ràng là một sợi chỉ đỏ nối kết sứ vụ của Gioan Tẩy Giả, Đức Giêsu, Các Tông Đồ và toàn thể Giáo Hội.

18.  “Tất cả các dân tộc” (πάντα τὰ ἔθνη): Danh từ τὰ ἔθνη, ở số nhiều thường được sử dụng chỉ các dân ngoại, ngoài Do Thái, các quốc gia, hay người nước ngoài. Tính từ bất định “πάντα” mở rộng biên giới rao giảng của các Tông Đồ đến vô tận, không trừ một ai. Đức Giêsu đã được ông Simêon xem như là ơn cứu độ cho “muôn dân” và là “ánh sáng cho sự mặc khải cho các dân ngoại” (ἐθνῶν Lk 2,32).[19] Sứ vụ vươn đến dân ngoại này được hiện thực hóa trong sách Công vụ Tông Đồ. Phêrô được Thần Khí thúc đẩy đến nhà ông Cornêliô rao giảng và làm phép rửa cho cả nhà ông này (Cv 10,3tt). Sách Công Vụ Tông Đồ ghi lại việc hồng ân Thánh Thần tuôn đổ trên những người ngoại (τὰ ἔθνη) (Cv 10,45); những người ngoại cũng đã lãnh nhận Lời Chúa (Cv 11,1). Phaolô với ba hành trình truyền giáo nổi tiếng đã đem Tin Mừng của Đức Kitô đi khắp các vùng của đế quốc Rôma thời bấy giờ (Cv 13,2tt; 15,36tt; 18,23). Đó là địa hình không gian tượng trưng cho toàn thế giới. Phaolô lý giải rằng Lời Chúa phải được loan báo cho những người Do Thái trước tiên, nhưng vì họ từ chối và tự xem mình không xứng đáng với sự sống đời đời, nên ông quay về phía các dân ngoại (Cv 13,46). Khi nghe Phaolô và Banaba rao giảng những người ngoại bắt đầu “vui mừng và tôn vinh lời Chúa” (Cv 13,47). Các Tông đồ đã hoàn tất lời căn dặn của Đức Giêsu một cách tuyệt vời. Mệnh lệnh “làm cho muôn dân (πάντα τὰ ἔθνη) trở thành môn đệ” cũng được nói đến trong Tin Mừng Mátthêu (Mt 28,19).

19.  “Những chứng nhân… những việc này” (ὑμεῖς μάρτυρες τούτων Lc 24:48): Các Tông đồ được trao sứ vụ rao giảng “sự hoán cải để được ơn tha tội”. Tuy nhiên, họ không chỉ là những chiếc loa vô cảm có chức năng truyền đi thông điệp. Họ là những chứng nhân cho những điều này. Chứng nhân theo hai nghĩa: (1) Họ là những người đã thấy, chứng kiến, mắt thấy, tai nghe, tay sờ mầu nhiệm Đức Giêsu;[20] (2) Họ phải làm chứng cho những lời họ rao giảng bằng chính đời sống đức tin sống động của họ. Đại từ chỉ định, giống trung, số nhiều “τούτων” (những điều này) khá trừu tượng. Nó không diễn tả cụ thể điều gì nhưng ngoại diên nghĩa của nó có thể mở ra vô hạn. “những điều này” có thể là toàn bộ câu chuyện Đức Giêsu hiện ra với “nhóm tổng hợp”, những điều Người làm, và dạy trong câu chuyện này. Đó cũng có thể là tất cả các câu chuyện về những lần hiện ra của Người trong Tin Mừng, hoặc là toàn bộ mầu nhiệm Tử Nạn – Phục Sinh của Người. “Những điều này” cũng có thể là toàn bộ mầu nhiệm Cứu Độ được thực hiện qua Đức Giêsu, được toàn bộ Thánh Kinh nói đến, đặc biệt là những gì Người nói và làm được ghi lại trong Bốn Sách Tin Mừng. J. Green cho rằng “những điều này” có lẽ nên được hiểu cách rộng rãi bao hàm cả sự đau khổ và phục sinh của Đấng Mêsia cũng như ý nghĩa của chúng trong tương quan với toàn bộ Sách Thánh và với nhiệm vụ loan báo tiếp tục của Hội Thánh sơ khai.[21]

Bình luận tổng quát

Tin Mừng Chúa Nhật III Phục Sinh tường thuật sự kiện hai nhóm chứng nhân của Đức Kitô Phục Sinh đã gặp gỡ nhau: Nhóm hai môn đệ Emmaus và nhóm Mười Một và những đồng bạn. Họ đang kể cho nhau nghe về cuộc gặp gỡ của họ với nhau. Đức Giêsu lại hiện ra với toàn bộ cả cộng đoàn đang tụ họp. Người hiện diện ở giữa và ban bình an cho họ. Tuy nhiên, dường như tức thời họ không thể đón nhận được sự bình an ấy bởi họ còn chưa nhận ra Người. Họ đã trải qua một cảm giác kinh sợ nhất từ trước đến nay, theo cách diễn tả của Luca. Trong nỗi sợ hãi của họ có lẫn những nỗi nghi ngờ. Họ sợ “hồn ma”. Họ không tin đó là Đức Giêsu thật. Họ nghĩ rằng đó chỉ là hồn ma vất vưởng của Đức Giêsu. Phản ứng này cho thấy họ chẳng hiểu Thánh Kinh cũng như chẳng nhớ gì về những lời tiền báo của Đức Giêsu về biến cố Tử Nạn-Phục Sinh. Hoặc là, vì biến cố Tử Nạn của Người quá khủng khiếp, chấn động khiến họ quên đi mọi sự, mất đi cả niềm hy vọng. Nhưng không sao, Đức Kitô hiểu và kiên nhẫn đủ để từng bước dẫn họ đi vào cuộc gặp gỡ thật sự với sự đón nhận biến cố Phục Sinh bằng cách cho họ “mục sở thị” và “mở trí” cho họ. Khi họ “giật mình và trở nên kinh hãi”, Người khởi đầu bằng cách mời gọi họ xem, và chạm vào Người. Những kiểm chứng thật sự bằng giác quan có thể được áp dụng linh động. Khi họ còn chưa kịp tin vì quá vui mừng và ngạc nhiên, Người hỏi xin một phần cá nướng và ăn trước mặt họ. Những kiểm chứng về giác quan ấy dường như vẫn còn chưa đủ. Người muốn họ phải có một sự hiểu biết thật sự tỏ tường về biến cố này. Đó là một sự đón nhận về trí năng. Muốn được như vậy, Đức Giêsu tiếp tục gợi nhớ cho họ rằng, thực ra, Người đã từng nói với họ về sự Phục Sinh của Người rồi. Người đã từng nói rằng tất cả những gì Thánh Kinh (Môsê, các Ngôn Sứ và Thánh Vịnh) nói về Người phải được ứng nghiệm. Một trong những điểm quan trọng nhất mà Sách Thánh nói về Người là: “Đấng Kitô phải chịu khổ hình rồi ngày thứ ba Người sẽ chỗi dậy từ cõi chết” (Lc 24,46). Lời tiền báo tiêu điểm này của Sách Thánh không xa lạ với hai môn đệ Emmaus. Họ cũng đã được nghe Đức Giêsu nói y chang như vậy. Qua việc gợi nhớ và giải thích Sách Thánh, Đức Giêsu đã giúp cho cộng đoàn các môn đệ nối kết từ Cựu Ước đến Tân Ước. Câu chuyện lịch sử thánh của dân thánh Ítrael được tiếp nối với câu chuyện của Đức Giêsu và những gì Sách Thánh nói được hoàn trọn nơi Đức Giêsu. Người chính là đỉnh cao cũng như điểm quy chiếu của toàn bộ Sách Thánh. Đường chỉ đỏ kết nối Cựu Ước và Tân Ước ấy sẽ còn tiếp diễn, bởi lẽ, theo Đức Giêsu, Sách Thánh cũng nói đến mệnh lệnh: “Phải loan báo cho muôn dân lòng hoán cải để được ơn tha thứ nhờ danh Người”. Mệnh lệnh này rõ ràng nối kết sứ vụ của Đức Giêsu với sứ vụ của Giáo Hội. Hay nói cách khác, sứ vụ của Đức Giêsu, Tin Mừng Phục Sinh của Người sẽ được loan truyền qua đời sống chứng nhân của các Tông Đồ, cộng đoàn Kitô hữu sơ khai và tất cả các Kitô hữu qua muôn thế hệ. Khởi đầu từ Jêrusalem, thành phố chứng kiến cái chết của Đức Giêsu và cũng là nơi chứng kiến sự Phục Sinh của Người. “Ngã ở đâu thì đứng dậy ở đó”. Khởi đầu từ Jêrusalem là hợp lý, bởi nơi đây, không ai không biết đến biến cố động trời: “Đấng Kitô bị kết án và bị đóng đinh” (Lc 24,18). Các Tông Đồ là những chứng nhân đầu tiên, vì họ là những người đã hiện diện ngày từ đầu với Đức Giêsu, và họ đã “mục sở thị” thân xác Đức Kitô Phục Sinh. Tuy nhiên, để làm chứng cách mạnh mẽ và hiệu quả họ còn cần lãnh nhận “quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24,49). Đó là quyền năng Thánh Thần được ban xuống trên từng người dưới dạng hình “lưỡi lửa” trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Cv 2,1-4). Sau khi lãnh nhận Thánh Thần, Phêrô đứng chung với nhóm Mười Một, đã giảng một bài giảng hung hồn chưa từng thấy. Qua bài giảng ấy, với quyền năng Thánh Thần, Phêrô đã kéo được một mẻ lưới đầy chưa từng có, đến “3000 người theo đạo” (Cv 2,41).

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD

 



[1] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV. Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 28A, 1573.

[2] J. Fitzmyer cho rằng Luca dùng dạng thức “kerygma” có lẽ, Luca đã thêm vào “ho Kyrios” (Đức Chúa), nhưng cũng có thể danh xưng này là một phần nguyên thủy của Kerygma [J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1569.]

[3] Lời chào “bình an” là lời chào mang tính truyền thống trong Cựu Ước (Tl 6,23;8,35; 18,6; 19,20; 1 Sm 16,5; 29,7; 1V 2,13; 2 V 9,11 [L.T. Johnson, The Gospel of Luke (SP 3; Collegeville 2005) 400].

[4] J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids 1997) 853.

[5] J. Fitzmyer cho rằng sự thách thức của Đức Giê-su đối với các môn đệ qua việc mời gọi nhìn và chạm có mục đích thiết lập căn tính của Người (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X–XXIV, 1576).

[6] Xem thêm, J.P.D. Thạch, “Từ Nghi Ngờ Sâu Thẳm Đến Niềm Tin Tuyệt Đỉnh”, HORIZON MISSIONARY: TỪ NGHI NGỜ SÂU THẰM ĐẾN NIỀM TIN TUYỆT ĐỈNH (josephpham-horizon.blogspot.com) (Truy cập 15/04/2021).

[7] J.B. Green, The Gospel of Luke, 854.

[8] F. Bovon cho rằng giới từ “phía trước” (ἐνώπιον) này được dùng với nghĩa là cùng với (σύν) xem ra không có ý nghĩa lắm [F. Bovon, Luke 3. A Commentary on the Gospel of Luke 19:28–24:53 (ed. H. Koester) (Hermeneia; Minneapolis 2012) 393].

[9] M.D. Hamm, “Luke”, The Paulist Biblical Commentary (Ed., J.E.A. Chiu et Al.) (New York 2018) 1102.

[11] X. J. E. A. Chiu et Al. (Ed.), The Paulist Biblical Commentary, 8-9.

[12] Sách Thánh của Giáo Hội Công Giáo gồm có hai Phần: Cựu Ước và Tân Ước. Phần Cựu Ước căn bản lấy từ Sách Thánh Do Thái và thêm vào một số sách, và bố trí lại theo thứ tự hơi khác so với Sách Thánh Do Thái. Phần Cựu Ước của Công Giáo gồm 46 cuốn sách, chia làm 4 phần. Phần I: Ngũ Thư (St, Xh, Lv, Ds, Đnl); phần II: Các Sách Lịch Sử (Gs, Tl, R, 1&2 Sm, 1&2 V, 1&2 Sb, Er, Nkm, Tb, Gđt, Et, 1&2 Mcb); phần III: Sách Giáo huấn và thơ ca (G, Tv, Cn, Dc, Kn, Hc); phần IV: Sách các Ngôn Sứ (Is, Gr, Ac, Br, Ed, Dn, Hs, Ge, Am, Ôv, Gn, Mk, Nk, Kb, Xp, Kg, Dcr, Ml). Phần Tân Ước gồm 27 cuốn, chia làm 3 nhóm. Nhóm I: Sách Tin Mừng (Mt, Mc, Lc, Ga) và Công Vụ Tông Đồ (Cv); nhóm II: 21 lá thư (Rm, 1&2 Cr; Gl, Ep, Pl, Cl, 1&2 Tx, 1&2 Tm, Tt, Plm, Hr, Gc, 1&2 Pr, 1,2&3 Ga, Gđ); nhóm III: Sách Khải Huyền (Kh).

[13] J.B. Green, The Gospel of Luke, 855-856.

[14] 2,49; 4,43; 9,22; 13,33; 17,25; 19,5; 22,37; 24,7; 24,44.

[16] F. Bovon, Luke 3. A Commentary on the Gospel of Luke 19:28–24:53 (ed. H. Koester) (Hermeneia; Minneapolis 2012) 395.

[17] J. Green nghĩ rằng khi đề cập đến việc loan báo “sự hoán cải để được ơn tha thứ” cho muôn dân, Đức Giêsu muốn nói đến Is 49,6, đoạn nói về việc Chúa hứa là sẽ khôi phục những người sống sót của Ítrael và sẽ làm cho Ítrael thành ánh sáng cho các quốc gia, để ơn cứu độ có thế đi đến tận cùng trái đất (J.B. Green, The Gospel of Luke, 857).

[18] M.D. Hamm, “Luke”, 1102-1103.

[19] J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids 1997) 853.

[20] Điều này làm cho độc giả nhớ đến Lời Tựa của Tin Mừng Luca, trong đó, thế hệ của những người từ thuở ban đầu đã trở thành chứng nhân nhãn tiền, và những tôi tớ của Lời (Lc 1,2) (F. Bovon, Luke 3, 396).

[21] J. Green cho rằng “những điều này” có lẽ nên được hiểu cách rộng rãi bao hàm cả đau khổ và phục sinh của Đấng Mê-si-ah cũng như ý nghĩa của chúng trong tương quan với toàn bộ Sách Thánh và với nhiệm vụ loan báo tiếp tục của Hội Thánh sơ khai (J.B. Green, The Gospel of Luke, 858).

Friday, 9 April 2021

TỪ NGHI NGỜ SÂU THẰM ĐẾN NIỀM TIN TUYỆT ĐỈNH. Chú Giải Tin Mừng CN II PS B và C (Ga 20,19-31)

 Bản Văn và dịch sát nghĩa 

Hy Lạp

Việt

19Οὔσης οὖν ὀψίας τῇ ἡμέρᾳ ἐκείνῃ τῇ μιᾷ σαββάτων καὶ τῶν θυρῶν κεκλεισμένων ὅπου ἦσαν οἱ μαθηταὶ διὰ τὸν φόβον τῶν Ἰουδαίων, ἦλθεν ὁ Ἰησοῦς καὶ ἔστη εἰς τὸ μέσον καὶ λέγει αὐτοῖς· εἰρήνη ὑμῖν.

 20καὶ τοῦτο εἰπὼν ἔδειξεν τὰς χεῖρας καὶ τὴν πλευρὰν αὐτοῖς. ἐχάρησαν οὖν οἱ μαθηταὶ ἰδόντες τὸν κύριον.

 21εἶπεν οὖν αὐτοῖς [ὁ Ἰησοῦς] πάλιν· εἰρήνη ὑμῖν· καθὼς ἀπέσταλκέν με ὁ πατήρκἀγὼ πέμπω ὑμᾶς.

 22καὶ τοῦτο εἰπὼν ἐνεφύσησεν καὶ λέγει αὐτοῖς· λάβετε πνεῦμα ἅγιον·

 23ἄν τινων ἀφῆτε τὰς ἁμαρτίας ἀφέωνται αὐτοῖς, ἄν τινων κρατῆτε κεκράτηνται.

 24Θωμᾶς δὲ εἷς ἐκ τῶν δώδεκα, ὁ λεγόμενος Δίδυμος, οὐκ ἦν μετ᾽ αὐτῶν ὅτε ἦλθεν Ἰησοῦς.

 25ἔλεγον οὖν αὐτῷ οἱ ἄλλοι μαθηταί· ἑωράκαμεν τὸν κύριον. ὁ δὲ εἶπεν αὐτοῖς· ἐὰν μὴ ἴδω ἐν ταῖς χερσὶν αὐτοῦ τὸν τύπον τῶν ἥλων καὶ βάλω τὸν δάκτυλόν μου εἰς τὸν τύπον τῶν ἥλων καὶ βάλω μου τὴν χεῖρα εἰς τὴν πλευρὰν αὐτοῦ, οὐ μὴ πιστεύσω.

 26Καὶ μεθ᾽ ἡμέρας ὀκτὼ πάλιν ἦσαν ἔσω οἱ μαθηταὶ αὐτοῦ καὶ Θωμᾶς μετ᾽ αὐτῶν. ἔρχεται ὁ Ἰησοῦς τῶν θυρῶν κεκλεισμένων καὶ ἔστη εἰς τὸ μέσον καὶ εἶπεν· εἰρήνη ὑμῖν.

 27εἶτα λέγει τῷ Θωμᾷ· φέρε τὸν δάκτυλόν σου ὧδε καὶ ἴδε τὰς χεῖράς μου καὶ φέρε τὴν χεῖρά σου καὶ βάλε εἰς τὴν πλευράν μου, καὶ μὴ γίνου ἄπιστος ἀλλὰ πιστός.

 28ἀπεκρίθη Θωμᾶς καὶ εἶπεν αὐτῷ· ὁ κύριός μου καὶ ὁ θεός μου.

 29λέγει αὐτῷ ὁ Ἰησοῦς· ὅτι ἑώρακάς με πεπίστευκας; μακάριοι οἱ μὴ ἰδόντες καὶ πιστεύσαντες.

 30Πολλὰ μὲν οὖν καὶ ἄλλα σημεῖα ἐποίησεν ὁ Ἰησοῦς ἐνώπιον τῶν μαθητῶν [αὐτοῦ], ἃ οὐκ ἔστιν γεγραμμένα ἐν τῷ βιβλίῳ τούτῳ·

 31ταῦτα δὲ γέγραπται ἵνα πιστεύ[σ]ητε ὅτι Ἰησοῦς ἐστιν ὁ χριστὸς ὁ υἱὸς τοῦ θεοῦ, καὶ ἵνα πιστεύοντες ζωὴν ἔχητε ἐν τῷ ὀνόματι αὐτοῦ. (Jn 20:19-31 BGT)

19 Rồi buổi chiều ngày ấyngày thứ nhất trong tuần, cửa của nơi các môn đệ ở được khóa lại vì nỗi sợ những người Do Thái, Đức Giêsu đến và đứng giữa và nói với họ: “Bình an cho anh em

20 Sau khi nói điều này, Người cho họ thấy bàn tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng khi họ thấy Chúa.

21 Đức Giêsu lại nói với họ: “Bình an cho anh emNhư Cha đã sai phái thầy, thầy cũng sai phái anh em.”

22 Và sau khi nói điều này Người thở ra và nói cùng họ: “Hãy nhận lấy Thánh Linh

23 Anh em tha tội cho ai thì chúng được tha cho họ, anh em cầm giữ ai thì chúng bị cầm giữ lại.

24 Nhưng Ông Thôma, một trong nhóm mười hai, người gọi là Đíđumos, người đã không ở với họ khi Đức Giêsu đến

25 Các môn đệ khác nói với ông: “chúng tôi đã thấy Chúa”. Ông ta (Ông Thôma) nói với họ: “Nếu tôi không thấy dấu của những chiếc đinh ở bàn tay Người,  không đặt ngón tay tôi vào lổ của những cái đinh và đặt bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin

26 Và tám ngày sau khi các môn đệ lại ở trong (nhà) và Ông Thôma ở với họ. Đức Giêsu đến khi cửa vẫn đang khóa kín, Người đứng giữa và nói: “Bình an cho anh em

27 Rồi người nói với Ông Thôma: “Hãy lấy ngón tay anh đặt vào đây và hãy nhìn xem tay thầy và hãy mang bàn tay anh và đặt vào cạnh sườn của thầy, và đừng không tin nữa nhưng hãy tin

28 Ông Thôma đáp trả và nói cùng Người: “lạy Chúa của tôi và Thiên Chúa của tôi!”

29 Đức Giêsu mới nói cùng ông rằng: “Vì đã thấy thầy nên con đã tin? Phúc cho những người đã không thấy mà đã tin.”

30 Thực sự, có nhiều dấu khác Đức Giêsu đã làm trước mặt các môn đệ [của Người], những điều đã không được ghi trong cuốn sách này.

31 nhưng những điều đã được viết ra là để anh chị em có thể tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô là con trai của Thiên Chúa, và để nhờ tin mà anh chị em có sự sống đời đời nhờ danh Người

 

Bối cảnh

Ga 20,19-31 là một trong những loạt trình thuật kể về sự Phục Sinh của Đức Kitô theo truyền thống Gioan. Đoạn văn tiếp theo ngay sau trình thuật về cuộc gặp gỡ riêng giữa Đức Giêsu Phục Sinh và chị Maria Magđalênê (Ga 20,11-18). Trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Maria Magđalênê phải được diễn ra để kết thúc hành trình tìm Chúa của chị đã được nói đến ở đầu chương 20 (20,1-2). Trong trình thuật ấy, tiến trình tìm Chúa, hay hành trình đức tin của Maria Magđalênê chỉ dừng lại ở việc nhìn thấy “ngôi mộ trống” và chạy về thông tin cho các môn đệ. Trong trình thuật sau đó (Ga 20,11-18), chị đã được gặp Đức Giêsu Phục Sinh và kết thúc bằng hành động: “về báo cho các môn đệ” rằng chị đã được “thấy Chúa” và kể cho các môn đệ nghe về những điều Đức Giêsu đã nói với chị (Ga 20,18). Tiếp theo là hành trình đức tin của các môn đệ còn lại. Mặc dù đã có “người môn đệ Chúa yêu” đã thấy và đã tin (Ga 20,8), và các môn đệ đã được chị Maria kể hết mọi sự về cuộc gặp giữa Đức Giêsu Phục Sinh và chị. Tuy nhiên, không dễ gì các môn đệ sẽ tin vào lời chứng của chị. Vì vậy, tường thuật về sự kiện Đức Giêsu hiện ra với 10 môn đệ (Ga 20,19-31) là rất cần thiết để cải thiện hành trình đức tin của các môn đệ. Điểm đặc biệt của Gioan trong trình thuật này là sự vắng bóng của nhân vật Ông Thôma để rồi sau đó ông hiện diện và xác tín niềm tin đanh thép vào Đức Chúa và Thiên Chúa của ông (Ga 20,28). Tiếp theo sau đoạn văn này là đoạn kết (được thêm vào sau) của Tin Mừng thứ tư (Ga 21,1-23). Đoạn (20,19-31) nối trực tiếp với đoạn ngôi mộ trống (20,1-10) bởi yếu tố về thời gian: “vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần”. Cụm trạng từ “ngày thứ nhất trong tuần” đã được nhắc đến trong trình thuật về ngôi mộ trống. Nghĩa là hai sự kiện xảy ra cùng ngày. Sự kiện trước xảy ra vào buổi sáng tinh sương (πρωῒ) và sự kiện này xảy ra vào  buổi chiều tối (ὀψίας). Sự kiện Đức Giêsu hiện ra lần này cũng là một bằng chứng rõ ràng, và cần thiết để bổ sung vào chứng cứ “ngôi mộ trống” để minh chứng cho sự Phục Sinh của Đức Kitô. Trình thuật này còn ghi nhận lời tuyên xưng rất quan trọng mang tính mang lại cái kết hoàn mỹ cho Tin Mừng thứ tư, Tin Mừng khởi đầu bằng việc giới thiệu rằng: “Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Ông Thôma dẫu đến sau, tin muộn nhưng chỉ có niềm tin của ông mới vươn tối đỉnh điểm của thần tính của Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa. Qua lời tuyên xưng huyền thoại: “Lạy Đức Chúa, lạy Thiên Chúa của con” Ông Thôma đã nối kết đoạn đầu của Tin Mừng với đoạn cuối, và qua đó nâng cao, hoàn trọn niềm tin của các môn đệ. Ngoài ra, Ga 20,19-31 còn ẩn chứa một chủ đề hết sức quan trọng bao trùm cả Tin Mừng thứ tư. Đó là chủ đề “tin”. Lời kết của đoạn này cũng là lời kết của toàn Tin Mừng thứ tư nói về mục đích của toàn bộ những dấu lạ đã được ghi chép lại trong sách này. Đó là “để anh chị em tin và nhờ tin và được sự sống nhờ danh” Đức Giêsu. Nội dung của niềm tin là: “Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa” (Ga 20,31).

Giới hạn và cấu trúc

Giới hạn:

Đoạn văn được tách biệt khỏi đoạn văn trước đó bằng dấu hiệu chuyển đổi về thời gian và không gian rất rõ nét: “vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần”. Không gian là nơi các môn đệ đang trú ngụ. Đó là một không gian khép kín bởi cửa đóng then cài. Ngoài ra, nhân vật cũng được thay đổi. Maria trong trình thuật trước đã được thay đổi thành “các môn đệ”. Đoạn văn tường thuật về sự kiện Đức Giêsu hiện ra với 11 môn đệ có thể kết thúc ở lời chứng nhận của Đức Giêsu dành cho Ông Thôma: “vì anh đã thấy thầy nên anh đã tin, phúc cho những ai đã không thấy mà đã tin” (Ga 20,29). Ga 20,30-31 là đoạn kết thúc của Tin Mừng thứ tư. Nó có thể là một đoạn riêng với nội dung thống nhất. Tuy nhiên, nội dung về niềm tin vào Đức Giêsu là con Thiên Chúa cũng không xa lạ với lời tuyên xưng đức tin của Ông Thôma rằng Đức Giêsu là Đức Chúa và là Thiên Chúa. Vì thế, cũng có thể đọc đoạn kết này cùng với trình thuật về cuộc hiện ra với 11 môn đệ.

Cấu trúc:

Ga 20,19-31 gồm hai phần rõ rệt. Phần thứ nhất (A) nói về hai lần hiện ra của Đức Giêsu với 11 môn đệ. Lần thứ I (A') trước sự chứng kiến của 10 môn đệ, không có sự hiện diện của Ông Thôma. Lần thứ II (A''), nhóm môn đệ cùng với sự hiện diện của Ông Thôma. Cả hai lần hiện ra đều có những phần tương tự và gần như song song với nhau. A1: bối cảnh // A1': bối cảnh; A2: Đức Giêsu xuất hiện và ban bình an // A2': Đức Giêsu xuất hiện và ban bình an; A3: Cho xem tay và cạnh sườn // A3': Cho xem lỗ đinh và mời gọi kiểm chứng; A4: Cảm xúc của các môn đệ // Phản ứng của Ông Thôma: cứng lòng đến tin; A5: Ban bình an, Đức Giêsu làm như Cha // A5': Đức Giêsu là Đức Chúa và là Thiên Chúa; A6: Thở hơi và ban Thánh Linh // A6': Thấy và tin; A7: Trao quyền tha tội // A7': Mối phúc: không thấy mà tin. Đoạn kết của cuộc hiện ra thứ nhất là việc trao ban sứ vụ qua việc trao ban Thánh Linh trong khi đó đoạn kết của lần hiện ra thứ hai là vấn đề tin, và mời gọi tin ngay cả khi không thấy.

A. Đức Giêsu hiện ra với 11 môn đệ

A'. Hiện ra lần I: Với mười môn đệ

      A1. Bối cảnh: Thời gian, không gian và nhân vật

                  A2. Đức Giêsu xuất hiện và ban bình an

      A3. Cho xem tay và cạnh sườn

                  A4. Cảm xúc của các môn đệ: Vui mừng

      A5. Ban bình an và sai đi

                  A6. Thở hơi và ban Thánh Linh

      A7. Ban quyền tha tội

A''. Hiện ra lần II: Mười môn đệ cùng với Ông Thôma

      A1'. Bối cảnh: nhân vật, thời gian, không gian

                  A2'. Đức Giêsu xuất hiện và ban bình an

      A3'. Cho xem tay và cạnh sườn, mời gọi kiểm chứng

                  A4'. Cảm xúc Ông Thôma: cứng lòng đến tin

      A5'. Tuyên xưng đức tin: Đức Chúa – Thiên Chúa

                  A6'. Thấy và tin

      A7'. Mối phúc: Không thấy mà tin

B. Kết luận của Tin Mừng thứ tư

      B1. Còn nhiều dấu không được viết

      B2. Mục đích viết: Để tin Đức Giêsu = Đấng Kitô = Con Thiên Chúa

      B3. Tin = sự sống đời đời nhờ danh Người

Một số điểm chú giải

1.     Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần: Cụm trạng ngữ chỉ thời gian “vào chiều ngày ấy” với danh từ ngày có chỉ định từ xác định và đi kèm theo cụm danh từ giải thích “ngày thứ nhất trong tuần” cho thấy sự kiện này xảy ra cùng ngày với sự kiện “ngôi mộ trống”. Buổi sáng ngày ấy bà Maria Magđalênê cùng với các môn đệ đã chứng kiến ngôi mộ trống và người môn đệ Chúa yêu “đã thấy và đã tin” (Ga 20,1-10). Sau đó, Đức Giêsu lại hiện ra với riêng bà Maria Magđalênê vào thời gian trong ngày (Ga 20,11-18), rồi vào chiều tối hôm ấy, Người lại hiện ra với các môn đệ. Đây là chi tiết cho thấy sự nối kết thống nhất về thời gian của toàn bộ các sự kiện diễn ra trong “ngày thứ nhất trong tuần” sau khi Đức Giêsu sống lại.[1] Ngày thứ nhất trong tuần cũng chính là thuật ngữ mà tác giả Luca dùng (Lc 24,1 ). Đó là ngày mà cộng đoàn kitô hữu sơ khai tự họp để nghe Lời Chúa và cử hành bẻ bánh (Cv 20,7-12). Đó là thời gian phụng vụ quan trọng, Ngày Chúa Nhật trong truyền thống cử hành  mầu nhiệm phục sinh của Giáo Hội xưa nay.

2.     Cửa đóng kín vì sợ người Do Thái. Động từ “khóa” được dùng ở thể bị động, lối phân từ và thì hoàn thành. Lối phân từ có thể là cách dùng diễn tả về thời gian: “khi đang bị khóa”. Thì hoàn thành diễn tả một hành động mà kết quả vẫn còn kéo dài trong hiện tại. Mệnh đề trạng ngữ chỉ thời gian “khi cửa đã khóa” vừa nhấn mạnh sự xuất hiện cách siêu việt của Đức Giêsu Phục Sinh. Người có thể xuất hiện bất cứ nơi đâu và không bị giới hạn bởi không gian vật chất. Tình trạng “cửa bị khóa” cũng cho thấy tình trạng tâm lý của các môn đệ: “vì sợ người Do Thái”. “Người Do Thái” được nói đến ở đây không phải là mọi người Do Thái nói chung cho bằng nhóm “người Do Thái” là đối thủ của Đức Giêsu trước kia và gây ra cái chết cho Người (Ga 5,10.16.18; 6,41.52; 7,1; 9,22).[2] Động từ “khóa” được dùng đến hai lần trong đoạn này nhấn mạnh đến tình trạng hoảng sợ của các môn đệ và sự hiện diện vượt không gian của Đức Giêsu. Trong Tin Mừng thứ tư không chỉ có các môn đệ “sợ những người Do Thái”. Cha mẹ của anh mù từ thuở mới sinh, đã được Đức Giêsu chữa lành, cũng “sợ những người Do Thái” (Ga 9,22) khi họ được hỏi về cách thức làm thế nào mà con của họ được sáng mắt. Trong cuộc xử án Đức Giêsu, Philatô cũng sợ những người Do Thái khi họ nói cùng ông: “Chúng tôi có luật và theo luật này thì nó phải chết vì nó cho rằng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19,7-8). Dĩ nhiên, nỗi sợ của các môn đệ trong bối cảnh này còn đáng sợ hơn vì đó là ni sợ rằng cái chết tương tự như Thầy, sẽ xảy đến cho họ.

3.     Đức Giêsu đến đứng ở giữa.[3] Vị trí của Đức Giêsu và cách xuất hiện của Người ở cả hai lần được ghi lại trong đoạn văn này là giống nhau. Đức Giêsu: “đến, đứng ở giữa”. Những hành động của Đức Giêsu vừa có tính nhân loại vừa cho thấy tính thần linh. Hành động “đến và đứng” là hành động của một người bình thường. Tuy nhiên, việc Đức Giêsu đến trong khi cửa đóng kín cho thấy thân xác phục sinh của Người vượt không gian. Hành động “đến” cho thấy sự chủ động của Người. Vị trí “ở giữa” vừa biểu lộ một điểm quy chiếu, trung tâm, linh hồn của nhóm, vừa cho diễn tả sự chứng kiến của tất cả các môn đệ. Người đến, và hiện diện giữa họ trong bối cảnh lòng họ đang rối bời hoảng sợ khủng khiếp.

4.     “Bình an cho anh em”: Sự hiện diện của Người trước hết là ban thông điệp bình an và ổn định tinh thần cho các môn đệ. Hai lần Tin Mừng diễn tả những cánh cửa đóng kín, và một lần diễn tả lý do “vì họ sợ những người Do Thái” là những lý do để Đức Giêsu đưa ra lời chúc bình an. Thật vậy, chỉ riêng trong đoạn này Đức Giêsu đã chúc đến 3 lần: “Bình an cho anh em” (Ga 20,19.21.26). Mật độ dày đặc của lời chúc bình an của Đức Giêsu rất đáng chú ý. Nó làm cho độc giả cảm thấy sự vang vọng của sự bình an mà Đức Giêsu ban tặng: “bình an cho anh em”; “bình an cho anh em”; “bình an cho anh em”. Các môn đệ rất vui mừng vì được nhìn thấy Chúa. Họ như quên đi nỗi sợ hãi đang bao trùm. Thế nhưng, sự sợ hãi ấy vẫn chưa thể chấm dứt. Bằng chứng là trong lần hiện ra thứ hai được nói đến trong đoạn này, các cánh cửa “vẫn đóng kín”. Họ đã cảm nhận và đã tin vào sự sống lại của Chúa. Tuy nhiên, để bung cửa bước ra và hiên ngang loan báo tin vui này họ cần có sức mạnh của Thánh Linh, Đấng Paráclê mà Đức Giêsu hứa sẽ đến với họ (Ga 14,16.26).

5.     Cho xem tay và cạnh sườn: “tay và cạnh sườn” là nơi có những dấu tích của cuộc khổ nạn. Hai bàn tay là những nơi có những dấu đinh khi Người chịu đóng đinh vào thập giá (Ga 19,18.23). Các chuyên gia cố gắng giải thích, bàn luận về vị trí được đóng đinh trên tay của Đức Giêsu. Có người cho rằng nếu đóng vào hai bàn tay thì những mũi đinh đó không đủ để giữ treo cả thân hình của tội nhân. Thân xác nặng của tội nhân sẽ xé toạc lỗ đinh. Họ cho rằng, có lẽ những chiếc đinh được đóng vào cổ tay của tội nhân, vị trí nối giữa bàn tay và cánh tay. Lối lý giải này xem ra hợp lý. Tuy vậy, từ ngữ thánh Gioan dùng ở đây là “những bàn tay” (τὰς χεῖρας ) chứ không phải là những cánh tay. Cạnh sườn là nơi bị đâm thủng bởi cây giáo của một tên lính Rôma (Ga 19,31-37). Đối với 10 môn đệ kia Đức Giêsu chỉ cho họ xem “những bàn tay và cạnh sườn”, còn đối với Ông Thôma Đức Giêsu mời gọi “xem những bàn tay” xỏ ngón tay vào những lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn, theo điều kiện mà ông đã đặt ra cho 10 môn đệ kia, chứ không phải cho Đức Giêsu (Ga 20,25). Luca cũng ghi lại lời mời gọi (hãy xem) và “cho xem” tương tự như như Gioan, nhưng Luca thêm “những bàn chân nữa” thay vì “cạnh sườn”: “hãy nhìn xem những bàn tay và những bàn chân của Thầy” (Lc 24,39.40). Cũng nên nhớ, trong các tác giả Tin Meng chỉ có Gioan ghi lại cảnh tượng Đức Giêsu bị đâm thấu cạnh sườn, khiến máu cùng nước chảy ra (Ga 19,31-37). Chính vì thế, không lạ gì khi Luca không nhắc đến “cạnh sườn” khi Đức Giêsu Phục Sinh xuất hiện. Sự sai lệch chút ít trong dữ liệu của hai tác giả này như bổ sung cho nhau. Đức Giêsu Phục Sinh mang nơi thân mình cả những dấu đinh nơi những bàn tay và những bàn chân, cũng như dấu đâm nơi cạnh sườn nữa. Đó là những bằng chứng sống động cho thấy sự nối kết giữa thân xác khổ nạn và thân xác phục sinh. Đó rõ ràng là một thân xác nhưng đã được biến đổi vượt không gian và thời gian. Người có thể hiện diện mọi nơi, mọi lúc.

6.     Sai đi: “Như Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em”. Lời nói này của Đức Giêsu, liên quan đến “sự sai đi”, như âm vang lời căn dặn của Đức Giêsu trong đoạn cuối của Tin Mừng Máccô và Tin Mừng Mátthêu. Mátthêu kể rằng: “vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha, Con và Thánh Linh” (Mt 28,19). Theo Máccô, Đức Giêsu dặn rằng: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loại thọ tạo. Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ; ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,15-16). Như thế các tác giả sách Tin Mừng đều có ý khép lại những trang Tin Mừng của mình bằng mệnh lệnh sai đi của Đức Giêsu. Tuy vậy, có thể thấy rằng không có tác giả Tin Mừng nào cho thấy sự nối kết mật thiết giữa Cha và Chúa Giêsu. Trong Tin Mừng thứ tư Đức Giêsu đã nhiều lần mạc khải về tương quan giữa Người với Cha. Người không làm điều gì bởi chính mình nhưng làm những điều Người thấy Cha làm (Ga 5,19); Đức Giêsu nói điều Cha bảo nói (Ga 12,50); Như thể Cha cho kẻ chết sống lại thì Người con cũng ban sự sống cho ai mà Người muốn (Ga 5,21); Cha ở trong Đức Giêsu và Đức Giêsu ở trong Cha (Ga 10,38); “ta và Cha là một” (10,31). Việc Đức Giêsu sai các môn đệ phát xuất từ ý tưởng sai đi của Cha và cùng một cách thức. Trong Tin Mừng thứ tư, vô số lần Đức Giêsu đề cập đến việc Người được sai đến (Ga 4,34; 5,23.24.30.36.37; 6,38.44.57; 7,16.18.28.29:8,16.18.26.29; 9,4.36...). chính vì thế trong bối cảnh này mệnh lệnh sai đi cũng được đặt trong tương quan với lệnh sai đi từ Cha và lan rộng ra đến các môn đệ.

7.     Thở hơi: hành động này của Đức Giêsu gợi nhớ đến hành động của Thiên Chúa trong trình thuật về “Sáng tạo” trong sách Sáng Thế. Thiên Chúa làm ra con người từ bụi đất và thổi vào lỗ mũi của nó hơi thở sự sống và con người trở thành sinh vật sống (St 2,7).[4] Trong ý hướng đó, Hồng ân Thánh Linh có thể làm cho các môn đệ được sống động bởi vì họ đang bất động, khóa kín mình trong nhà. R. Brown ghi nhận ý kiến của một vài nhà chú giải, những người đã giải thích đoạn văn này của Gioan theo ánh sáng của niềm tin Cận Đông rằng hơi thở của một người thánh sẽ có năng lực siêu nhiên, như là khả năng cứu chữa. Vì trong Tin Mừng Gioan, sự thở hơi này liên hệ đến việc tha thức tội lỗi, năng lực bí tích trong nhiều nền Kitô giáo, một vài chuyên gia nghĩ rằng ở đây Gioan phản ánh một nghi thức của Kitô hữu sơ khai.[5]

8.     “Hãy nhận lấy Thánh Linh”: Việc trao ban Thánh Linh, được cả Luca và Gioan nói đến cách rõ ràng. Thế nhưng, theo Luca thì mãi đến Lễ Ngũ Tuần, tức là 50 ngày sau Lễ Vượt Qua, các môn đệ mới nhận được Thánh Linh một cách long trọng, qua đó họ chính thức ra đi rao giảng Tin Mừng cho “muôn dân” (Cv 2,1-13). Trước đó vào cuối Tin Mừng Luca, Đức Giêsu đã căn dặn các môn đệ hãy ở lại trong thành cho đến khi “nhận được quyền lực từ trời cao ban xuống” (Lc 24,49). Lời căn dặn này cũng được nhắc lại một lần nữa vào đầu sách Công Vụ Tông Đồ (Cv 1,4). Sau đó, Đức Giêsu lại hứa thêm: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Linh” (Cv 1,8). Tác phẩm của Luca gồm có hai phần: Tin Mừng theo Luca và sách Công Vụ Tông Đồ. Lời hứa ban Thánh Linh vào cuối Tin Mừng cùng với sứ vụ sai đi sẽ được hiện thực hóa và hoàn trọn trong những tường thuật của sách Công Vụ Tông Đồ. Cũng cần biết thêm, trong ba Tin Mừng Nhất Lãm, phải nói Luca là tác giả nói nhiều nhất về Thánh Linh. Trong khi từ Thánh Linh (πνεύματος ἁγίου) xuất hiện 13 lần trong Tin Mừng Luca, trong Tin Mừng Máccô 4 lần và Mátthêu 6 lần.[6] Gioan cũng là tác giả nói rất nhiều về Thánh Linh (3 lần). Ngoài danh xưng “Thánh Linh” giống như Tin Mừng Nhất Lãm, ông còn dùng thêm danh xưng “Paráclê”[7] (thường được hiểu là Đấng bảo trợ, giúp đỡ) để diễn tả cùng một ngôi vị (Ngôi Ba Thiên Chúa).[8] Trong Tin Mừng thứ tư Đức Giêsu hứa sẽ “xin cùng Cha và Người sẽ ban một Đấng Bảo Trợ Khác” cho các môn đệ, Đấng này sẽ ở cùng họ “đến muôn đời” (Ga 14,16). Đấng Bảo Trợ này sẽ “dạy các môn đệ mọi điều và sẽ làm cho họ nhớ lại tất cả những điều Đức Giêsu đã nói với họ” (Ga 14,26). Đấng này cũng chính là Thần Khí sự thật, sẽ làm chứng về Đức Giêsu. “Thần Khí sự thật này cũng sẽ dẫn các vào tất cả sự thật” (Ga 16,13). Đấng này đã được Đức Giêsu ban cho các môn đệ trong đoạn văn này (Ga 20,19-31), với quyền năng tha tội.

9.     Tha tội – cầm giữ: Lời ban năng quyền tha tội được ban cho tất cả các môn đệ ngay sau khi Đức Giêsu ban Thánh Linh. Trong Tin Mừng Mátthêu, ngay sau khi Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” Đức Giêsu liền trao quyền “tháo cởi – cầm giữ” cho riêng ông: “dưới đất anh trói buộc dưới đất trên trời sẽ được trới buộc, điều gì anh tháo cởi dưới đất, trên trời sẽ tháo cởi” (Mt 16,19). Có lẽ, Mátthêu nhấn mạnh hơn đến quyền cai quản nói chung của vị tông đồ trưởng và trong đó có cả quyền tha tội. Tin Mừng Gioan nói rõ ràng đó là quyền tha thứ tội lỗi và quyền ấy được trao cho tất cả các tông đồ. Sự khác biệt cũng thể hiện rõ nét ở chỗ là quyền tha tội đi liền với hồng ân lãnh nhận Thánh Linh.[9] Việc trao ban “năng quyền tha tội” kết thúc trình thuật về sự tiến trình “sai đi” của Đức Giêsu. Tiến trình ấy bắt đầu bằng việc ban bình an, giải thích khuôn mẫu của việc sai đi (như Cha đã sai), trao thở hơi trao ban Thánh Linh và ban ban “năng quyền tha tội” (Ga 20,21-23).

10.  “Tám ngày sau”: Cụm từ chỉ thời gian này nối kết chặt chẽ với cụm từ “ngày thứ nhất trong tuần” được nhắc đến trong cả hai trình thuật trước: trình thuật về “ngôi mộ trống” (Ga 20,1-10) và trình thuật về Đức Giêsu hiện ra với 10 môn đệ (Ga 20,19-23). “Tám ngày sau” có thể là một tuần sau và hôm ấy lại là “ngày thứ nhất trong tuần” kế tiếp, các môn đệ lại tụ họp cùng với Ông Thôma và Đức Giêsu lại hiện ra. Tác giả R. Brown cho rằng kiểu nói này rất có thể ảnh hưởng bởi truyền thống cử hành Thánh Thể vào ngày thứ nhất trong tuần được nói đến nơi sách Công Vụ Tông Đồ và thư gửi tín hữu Côrintô (Cv 20,7; 1Cr 16,2). Tác giả Brown còn nhấn mạnh thêm rằng việc ngày Chúa Nhật có một ý nghĩa trong cộng đoàn Gioan có thể được thấy từ việc định ngày của thị kiến của “người xem thấy” trong sách Khải Huyền (Kh 1,10), là “ngày của Chúa”, giả định là Chúa Nhật.[10]

11.  Ông Thôma: Trong Tin Mừng thứ tư, Ông Thôma là một tông đồ khá đặc biệt. Nếu như trong ba Tin Mừng Nhất Lãm, Ông Thôma chỉ được nhắc đến duy nhất 1 lần khi các tác giả liệt kê danh sách cách 12 tông đồ (Mt 10,3; Mc 3,18; Lc 6,15), Tin Mừng thứ tư gọi tên Ông Thôma đến 7 lần (Ga 11,16; 14,5; 20,24.26.27.28; 21,2). Riêng trong đoạn này tên gọi Ông Thôma được nhắc đến 4 lần. Có thể nói rằng đây là câu chuyện làm nên tên tuổi của Ông Thôma đến nỗi các độc giả dường như quên đi những lần xuất hiện trước đó của Ông Thôma. Trước đó, trong bối cảnh Đức Giêsu muốn trở lại Juđê vì hay tin Ladarô lâm bệnh. Các môn đệ khác đã can ngăn Đức Giêsu vì trước đó Người Do Thái đã tìm cách ném đá Đức Giêsu ở Jêrusalem (Ga 10,31.33; 11,8). Riêng Ông Thôma khuyến khích các môn đệ rằng: “Cả chúng ta nữa, chúng ta hãy cùng đi để cùng chết với thầy” (Ga 11,16). Trong bối cảnh này rõ ràng Ông Thôma đóng một vai trò rất quan trọng. Ông dường như thay thế vai trò của Phêrô bởi vì bình thường Phêrô hay lên tiếng thay cho các tông đồ khác. Hơn nữa, đây là vấn đề sống – chết chứ chẳng phải chuyện chơi. Ông Thôma cho thấy ông can đảm và dấn thân đến mức nào trong sứ vụ theo Chúa. Trong một dịp khác, trong diễn từ từ biệt, khi Đức Giêsu bộc bạch cũng các môn đệ rằng: “thầy đi là để dọn chỗ cho anh em, để thầy ở đâu thì anh em cũng sẽ ở đó với thầy, thầy đi đâu anh em biết đường rồi”, Ông Thôma lại thưa: “Thưa Thầy chúng con không biết thầy đi đâu làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14,5). Nhờ câu hỏi này Đức Giêsu đã mạc khải chính Người “là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Cha mà không qua” Người (Ga 14,6). Ông đã muốn lên Juđê để cùng chết với thầy, giờ lại muốn tìm con đường để theo thầy. Ông Thôma quả là một con người rất đáng để ý trong Tin Mừng thứ tư.

12.  “Không tin” - “Tin”: Ông Thôma đã đi một hành trình tám ngày “không tin” sâu thẳm cho đến “tin” tuyệt đỉnh ngay khi gặp Đức Giêsu. Tác giả bài luận ngắn mang tựa đề “giải oan cho Ông Thôma”[11], nổi oan bị mang tiếng là kém tin, đã phân tích và chứng minh rằng đó là tâm trạng chung củ tất cả các môn đệ kể cả Phêrô, và Magđalênê. Tất cả đều phải thấy Đức Giêsu rồi mới tin. Như thế, “Thấy và tin” là một tiến trình bình thường của tất cả các môn đệ lúc bấy giờ. Bà Maria Magđalênê còn tưởng Đức Giêsu là “người làm vườn” (Ga 20,15). Hai môn đệ trên đường về Emmaus cũng nói chuyện với Đức Giêsu dọc đường cả buổi nhưng cũng không nhận ra Chúa mãi đến khi Chúa “bẻ bánh” thì họ mới nhận ra Chúa (Lc 24,13-35). Chỉ có một môn đệ không thấy Đức Giêsu Phục Sinh và đã tin. Đó là “người môn đệ Đức Giêsu thương mến”. Khi bước vào trong “ngôi mộ trống”: “ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8). Cái ông thấy trong “ngôi mộ trống” dĩ nhiên không phải Đức Giêsu. Cái thấy của ông lúc ấy chỉ là “ngôi mộ trống và băng vải liệm” nhưng cái tin của ông là vô hạn. Nội dung tin của ông có thể là Đức Giêsu Phục Sinh; có thể là toàn thể lời Thánh Kinh nói về Người.

13.  Đức Chúa của tôi, Thiên Chúa của tôi”. Ông Thôma không cần xỏ ngón tay vào lỗ đinh, cũng không cần đặt bàn tay vào cạnh sườn như ông đã đòi hỏi trước đó. Ông chỉ cần thấy Chúa là ông đã tin. Có thể nói là niềm tin của ông vượt trên niềm tin của tất cả các người còn lại ở chỗ ông đã vươn đến hiểu biết thần tính cao nhất của Đức Giêsu: Thiên Chúa. Lời tuyên xưng của Ông Thôma quả thực là lời kết quá hoàn hảo cho Tin Mừng thứ tư. Tin Mừng này khời đầu bằng lời tựa giới thiệu rằng: “Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Kết thúc Tin Mừng, Ông Thôma tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Lời tuyên xưng của ông không chỉ đơn giản thừa nhận thực tại của sự Phục Sinh của Đức Giêsu nhưng diễn tả ý nghĩa cao nhất, long trọng nhất, như mạc khải về Đức Giêsu là ai.[12]

14.  Không thấy mà tin”: Lời chúc lành này của Đức Giêsu có thể gợi nhớ đến niềm tin của “Người môn đệ Chúa yêu”, người “đã thấy và đã tin” trước đó, nhưng trên hết đó là một lời mời gọi và chúc phúc dành cho đa số thành viên của cộng đoàn Gioan thế kỷ thứ nhất và cho tất cả các tin hữu qua mọi thời đại, bởi hầu hết họ đều không thấy Đức Giêsu một cách trực tiếp và họ đã tin vào Chúa qua lời chứng của các môn đệ.

Bình Luận tổng quát

Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh (Ga 20,19-31) mô tả hành trình đức tin của tất cả các Tông Đồ, bao gồm hai lần hiện ra của Đức Giêsu Phục Sinh cho các môn đệ và đoạn kết của toàn bộ Tin Mừng thứ tư. Đoạn kết nói đến mục đích của những dấu lạ được ghi lại trong sách Tin Mừng này là: “Để anh chị em tin Đức Giêsu là Đấng Kitô Con Thiên Chúa”. Niềm tin này đem lại cho những người tin “sự sống đời đời nhờ danh Người”. Nội dung niềm tin không chỉ là là Đức Giêsu là Đấng Kitô mà người Do Thái từng mong đợi từ lâu đời nhưng Người còn là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên, Người không chỉ là Con Thiên Chúa mà còn là Thiên Chúa theo như mạc khải của Tin Mừng Gioan ở Lời Tựa (Ga 1,1) và lời tuyên xưng của Ông Thôma vào cuối Tin Mừng (Ga 20,28). Câu chuyện Tin Mừng này mô tả hai hành trình đức tin rõ rệt: Thấy và Tin, và không thấy mà vẫn tin. Hành trình thứ nhất, hành trình “thấy và tin” của Ông Thôma và các môn đệ đã kết thúc với đỉnh điểm là lời tuyên xưng của Ông Thôma. Hành trình thứ hai là hành trình của riêng “người môn đệ Chúa yêu” và chung cho các tín hữu sơ khai, cũng như các tín hữu qua mọi thời đại. Họ là những người được chúc “phúc” vì không thấy Đức Giêsu Phục Sinh mà vẫn tin. Đó là niềm tin dựa trên lời chứng của các Tông Đồ qua việc nghiền ngẫm Thánh Kinh, dưới tác động linh hứng và khai sáng của Thánh Linh. Đó là niềm tin nhờ sự tác động của Đức Giêsu và Thánh Linh qua việc lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, tham dự Thánh Lễ (Bí tích Thánh Thể) và các Bí Tích khác. Họ được mời gọi cảm nhận và tin Đức Giêsu Phục Sinh đang hiện diện cách vô hình trong từng biến cố của cuộc đời họ dù cho họ không thấy Người bằng xương bằng thịt. Chính niềm tin ấy mới làm cho Giáo Hội được tồn tại, sống động và lan rộng ngày một hơn.

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD



[1]The following events take place “on the evening of that day (ouses oun opsias te hemera ekeine)” (v. 19). As Mary went from the tomb to announce Jesus' message to the disciples (v. 18a), the place is now “where the disciples were (hopou esan hoi mathetai)” (v. 19a). Thus Mary's presence at the tomb ends (v. 18) where the following scene begins (v. 19): with the characters to whom Mary announced Jesus' message. The day, place, and characters involved in the events of vv. 19-23 were already part of the closing moments of the immediately previous scene reported in VV. 11-18” [F.J. Moloney, The Gospel of John (SP 4; Collegeville 1998) 530].

[2]  Xem thêm “những người Do Thái trong Tin Mừng Gio-an” của tác giả Lê Minh Thông, trong Sáu Đặc Điểm Của “Thế Gian Thù Ghét” Và “Những Kẻ Chống Đối Đức Giê-Su” Trong Tin Mừng Gio-An | Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam (truy cập 25/04/2025).

[3]This implies that Jesus' coming to the disciples in v. 19 is not his definitive return. His absence will be filled with the presence of the Paraclete” (F.J. Moloney, The Gospel of John, 534).

[4]Most commentators point to the parallel use of "he breathed on" (enephusesen) in I.XX Cen 2:7 (d. also LXXEzek 37:9-10; Wis 15:11), making the gift of the Spirit the beginning of the new creation” (F.J. Moloney, The Gospel of John, 534).

[5] R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI): Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 29A, 1023.

[6] Mt 1,18.20; 3,11; 12,32; 22,43; 28,19; Mc 1,8; 3,29; 12,36; 13,11; Lc 1,15.35.41.67; 2,25.26; 3,16.22; 4,1; 10,21; 11,13; 12,10.12.

[8] Ga 14,16.26; 15,26; 16,7.

[9]The difficulties involved in understanding what is meant by the disciples' mission to forgive and retain sin are eased by the association of these actions with the mission of the Paraclete to “lay bare” the goodness and evil of the world (d. 16:7-1” (F.J. Moloney, The Gospel of John, 536).

[10] R.E. Brown, The Gospel according to John (XIII-XXI): Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) 29A, 1019.

[12] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 1999) XXXVI, 385.