Saturday, 21 November 2020

CÓ LUÔN HẢ? KHI NÀO VẬY? Chú Giải Tin Mừng CN XXXIV TN A

CN XXXIV TN A (Ed 34, 11-12. 15-17; 1 Cr 15, 20-26. 28; Mt 25, 31-46)

Phúc Âm: Mt 25, 31-46

"Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người, và sẽ phân chia họ ra".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái.

"Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng: "Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta".

"Khi ấy người lành đáp lại rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?" Vua đáp lại: "Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta".

"Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: "Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!"

"Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: "Lạy Chúa có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?" Khi ấy Người đáp lại: "Ta bảo thật cho các ngươi biết: những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta". Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu".

Bối cảnh phụng vụ: Chúa Nhật cuối năm phụng vụ được dành để mừng kính trọng thể Chúa Giê-su Ki-tô Vua Vũ Trụ. Ngài là vị vua hết sức đặc biệt về phạm vi lãnh thổ, về số lượng công dân thuộc quyền Ngài và về phương cách cai trị. Phạm vi lãnh thổ của Ngài không giới hạn bởi quốc gia châu lục nào, nhưng là trên toàn thế giới. Quốc gia của Ngài không chỉ giới hạn ở dưới mặt đất nhưng còn là trên cõi trời cao. Dân chúng trong vương quốc của Ngài không bị giới hạn bởi mầu da, ngôn ngữ, chi tộc, giai cấp, địa vị xã hội, giàu hay nghèo, nhưng là tất cả mọi người. Ngài có quyền không những trên tất cả mọi người, nhưng còn trên các thiên sứ, sinh vật và cây cỏ dưới đất và trên cõi trời cao. Phương cách điều hành đất nước của ngài cũng rất khác. Tất cả đều được dựa trên tình yêu và mục đích là làm cho quốc gia đầy ắp tiếng cười và sự bình an chứ không phải giàu có sung túc về mặt vật chất. Để trở thành một vị vua như thế, chính Ngài đã phải chứng tỏ rằng Ngài đích thực là một vị vua yêu thương và đáng được yêu. Ngài đã chọn đi con đường thập giá cho đến chết chỉ vì yêu nhân loại. Chỉ bằng con đường ấy Ngài mới đích thực là vị vua mang nhãn hiệu yêu thương. Dụ ngôn này diễn tả Đức Giê-su như là một Đấng đến xét xử nhưng liền ngay sau đó 26,1-2, Chúa Giê-su lại thông tin rằng Ngài sẽ bị nộp để chịu đóng đinh. Nghịch lý, nhưng lại hợp lý bởi đó chính là con đường mà vị vua yêu thương đã chọn đi cho trọn tình yêu với nhân loại.

Bối cảnh của dụ ngôn: đây là dụ ngôn cuối cùng trong trình thuật của Tin Mừng Matthew và là dụ ngôn cuối trong loạt 4 dụ ngôn bàn về thời cánh chung trong Tin Mừng Matthew (Dụ ngôn hai người đầy tớ: 24, 45-51; Dụ ngôn mười trinh nữ đi đón chàng rể: 25,1-13; dụ ngôn những talanton: 25,14-30). Đây cũng là trình thuật cuối cùng trước trình thuật về cuộc thương khó của Chúa Giê-su. Chương 26 bắt đầu bằng âm mưu chống lại Chúa Giê-su (26, 1-5), và tiếp sau đó là trình thuật về việc Chúa Giê-su được xức dầu (26, 6-13) và cứ như thế trình thuật về thương khó được tiếp diễn. Vị trí của dụ ngôn: cuối trình thuật về giảng dạy của Chúa Giê-su và cuối trong loạt dụ ngôn nói về cánh chung, nói lên tầm quan trọng của thông điệp của dụ ngôn này đối với Tin Mừng Matthew. Nó có thể xem như đỉnh cao về mạc khải về cánh chung cũng như chứa đựng thông điệp Tin Mừng quan trọng của Chúa Giê-su.

Tên gọi: dụ ngôn này thường được gọi là dụ ngôn “chiên và dê”. Tuy nhiên, dụ ngôn này hẳn không hề nói gì về chiên và dê cả. Chiên và dê chỉ được nhắc đến như là bối cảnh của một buổi tập trung, và phân chia của một người mục tử. Dụ ngôn này hoàn toàn nói về những con người với những biểu hiện cụ thể trong suốt cuộc đời họ. Mỗi người có thể gọi dụ ngôn này bằng một cái tên đẹp và hay như mình muốn. Thế nhưng, nên nhớ rằng nguyên gốc bản văn của Matthew, dụ ngôn này không có tên gì cả, và dù có đặt tên hay đến mấy thì cũng chỉ phản ánh được một khía cạnh nào đó của dụ ngôn này mà thôi.

Một vài điểm chú giải:

(1)          Con Người (the Son of Man)[1]: đây là danh xưng xuất hiện trong văn chương khải huyền của Daniel. Dn 7,13 nói rằng “trong thị kiến ban đêm ông thấy có ai như con người, người đến với mây trời”. Thị kiến này cho thấy Con Người đến trong vinh quang với tất cả các thiên sứ theo hầu. Con Người cũng nói với Daniel rằng “hãy hiểu rằng thị kiến đề cập đến thời gian cuối cùng” (Dn 8,17). Như vậy, hình như Con Người đến trong vinh quang trong dụ ngôn này có liên quan đến Con Người mà Daniel đã nói đến. Cả hai đều đến trong vinh quang và vào thời cuối cùng. Danh hiệu Con Người trong tiếng Hy Lạp là “ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου” dịch sang Tiếng Việt là con trai của con người. Trong tiếng Do Thái, đó là một lối diễn đạt cá nhân hóa một danh từ chung chỉ nhân loại nói chung bằng cách thêm vào cụm từ “con của”, diễn tả một con người cụ thể, một thành viên của loài người. Nghĩa của nó có thể như là “ai đó” hay “một người bất kỳ”. Cách dùng của Daniel 7,13-14 diễn tả một con người đến trong đám mây, đã trở thành một vài dạng suy đoán của Do Thái và Ki-tô giáo sơ khai, đoán trước một tác nhân siêu nghiệm thời cánh chung của cuộc phán xét và giải thoát mang tính thần linh. Trong Tân Ước, tác nhân ấy gần như được đồng hóa với Đức Giê-su Phục Sinh. Thuật ngữ này xuất hiện trong cả bốn Tin Mừng và luôn luôn phát xuất từ miệng của Chúa Giê-su. Với một ngoại lệ (Jn 5,27), các sách Tin Mừng luôn luôn dùng mạo từ xác định, như thế giới thiệu thuật ngữ như là một số lượng được biết rồi, thậm chí trong bối cảnh trong đó nó chưa được đề cập trước đó. Thuật ngữ này có thể có ám chỉ về Messiah được nói đến trong Daniel 7. Trong bối cảnh này Con Người có một vị thế hết sức quan trọng. Thậm chí Ngài còn được gọi là Đức Vua trong 25,34. Và được những người bên hữu gọi là Đức Chúa (25, 37.44). Ngài ở trong một tư thế phán xét tất cả những người khác.

(2)          Trong vinh quang cua Ngài (ἐν τῇ δόξῃ αὐτου): Trong Sách Thánh Cựu Ước, thuộc tính “vinh quang” là thuộc tính gắn liền với Đức Chúa. Nhiều lần Đức Chúa tự gọi rằng “vinh quang của ta” khi nói với dân It-ra-el. Khi Moses cầu xin Thiên Chúa tỏ vinh quang của Chúa cho ông, Đức Chúa đã trả lời: “ta sẽ khiến vinh quang của ta đi ngang qua trước mặt ngươi và ta sẽ tỏ cho ngươi biết danh ta là Đức Chúa” (Xh 33,18-19). Dân chúng nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa trong đám mây khi Aharon nói với họ (Xh 16,10). Đức Chúa cũng nói với Mô-sê rằng “anh em sẽ thấy vinh quang của Đức Chúa” khi Đức Chúa ban Manna cho dân (Xh 16,7). “Vinh quang của Đức Chúa” ngự trên núi Sinai và “sự xuất hiện của vinh quang của Đức Chúa như lửa cháy bừng trên đỉnh núi” (Xh 25, 16-17). Và nhiều lần tác giả nhắc đến vinh quang của Thiên Chúa như thế. Trong Tân Ước Luca cũng có cùng lối diễn tả “vinh quang Đức Chúa chiếu tỏa xung quanh” những người chăn chiên khi thiên sứ loan báo cho họ một tin mừng trọng đại: “một Đấng cứu độ đã sinh ra cho các ngươi hôm nay” (Lc 2,9-11). Thánh Phao-lô trong thư thứ hai gửi Tín Cô-rin-tô đã diễn tả rằng: “chúng ta, mặt không che màn, phản chiếu vinh quang Đức Chúa như qua một chiếc gương, chúng ta sẽ được biến đổi ngày càng giống hình ảnh ấy, ngày càng rực rỡ hơn, nhờ tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cr 3,18). Trong Tin Mừng Matthew, Chúa Giê-su nói đến vinh quang của Con Người một lần khác nữa. Cuối chương 19, trong bối cảnh Phê-rô hỏi Đức Giê-su về phần thưởng mà các ông sẽ hưởng khi bỏ mọi sự để theo Chúa, Chúa Giê-su cho biết rằng, các ông cũng được ngồi trên mười hai tòa của, xét xử mười hai chi tộc của Ít-ra-el, “khi Con Người được ngồi trên ngai vinh quang của Ngài” (Mt 19,27-30). Đoạn này cũng nói đến vinh quang của Con Người trong bối cảnh xét xử. Trong dụ ngôn này Matthew nhắc đến hai lần “vinh quang của Người”: Con Người đến “trong vinh quang của Người” và “ngồi trên ngai vinh quang của Người” (Mt 25,31). Cách nói “ngồi trên ngai vinh quang” rõ ràng diễn tả vị thế của một vị vua trong ngày thượng triều hoặc đăng quang. Ngoài ra, vào cuối chương 16, Đức Giê-su cũng nói đến Con Người “sẽ đến cùng với các thiên sứ của Người trong “vinh quang của Cha Ngài” (Mt 16,27). Vinh quang ở đây là vinh quang của Cha Ngài, nghĩa là của Chúa Cha. Đây cũng là bối cảnh Chúa Giê-su nói đến cuộc phán xét: “Người sẽ trả lại cho mọi người theo điều họ đã làm.” Con Người cũng đến với các thiên sứ của Người như trong dụ ngôn này. Hơn nữa, trong chương 24, Đức Giê-su lại một lần nữa nhắc đến việc Con Người đến trong mây trời. “Họ sẽ thấy Con Người đến với quyền năng và vinh quang vĩ đại” (Mt 24,30). Tính từ “πολλοῦ” (nhiều) được đặt sau danh từ vinh quang để làm tăng mức độ của vinh quang này. Đây cũng là lần hiếm thấy Matthew dùng tính từ này đi kèm với danh từ vinh quang. Trình thuật này được đặt trong bối cảnh của bài giảng những biến cố của thời cuối cùng, thời cánh chung (Mt 24,1-44).

(3)          “sẽ được triệu tập” (συνάγω). Động từ triệu tập đượng dùng ở thì tương lai, và thể bị động. Đây rất có thể là thể bị động thần linh, rất thường thấy, với tác nhân là chính Thiên Chúa. Thiên Chúa chính là người đã triệu tập, hoặc qua trung gian các thiên sứ, hoặc là chính Người triệu tập. Nhưng cách dùng của động từ này cho thấy bàn tay chủ động của Thiên Chúa trong buổi triệu tập này. Đó không phải là một buổi triệu tập ngẫu nhiên của bất kỳ ai, nhưng là buổi triệu tập của Thiên Chúa trong bối cảnh xét xử. Tính từ “πάντα: tất cả” được đặt trước danh từ quốc gia, hay dân tộc cho thấy rằng thành phần được triệu tập không giới hạn trong một không gian lãnh thổ nào nhưng là tất cả, không trừ ai, và quốc gia nào (see Is 66,18). Trong đó, chắc chắn bao gồm tất cả các ông hoàng bà Chúa, các vương giả, phú hào, nhà quý tộc, các nguyên thủ quốc gia và hang lê dân vô danh tiểu tốt. Tất cả đều phải hiện diện. không những tất cả các dân các nước, nhưng còn là tất cả các thiên sứ trên trời đều được quy tụ theo hầu Con Người này. Thật khó để mà tưởng tượng một khung cảnh như thế trên trần gian này. Ở đâu ra một không gian như thế để chứa toàn dân trên thế giới như thế, và Đức Vua sẽ dùng hệ thống khuếch đại âm thanh như thế nào để người ta có thể nghe Ngài nói, và Ngài sẽ ngồi ở đâu để họ thấy. Nói chung là một cảnh tượng còn hơn trong phim nữa. Đó là cảnh tượng của ngày cánh chung.

(4)          “Người sẽ bố trí cho những con chiên đứng bên phải Người còn những con dê đứng bên trái Người”. Đây là kiểu phân chia mang tính song đôi rất thường được sử dụng trong các trình thuật của Matthew. Có lẽ, độc giả cũng chưa quên dụ ngôn “hai người đầy tớ” (một người trung thành, một người xấu, Mt 24,45-51); dụ ngôn “mười cô trinh nữ đi đón chàng rể” (năm cô khờ dại – năm cô khôn ngoan, Mt 25,1-13); dụ ngôn những talanton (hai người sinh lời – một người chôn dấu, Mt 25,14-30). Sự phân chia này rõ ràng cho báo trước cho độc giả về một viễn cảnh thông thường: sẽ có một nhóm người tốt và một nhóm người xấu. Hậu quả là sẽ có một nhóm người được trọng thưởng và một nhóm người bị trừng phạt. Sự phân xử này, cũng giống như cuộc phân xử trong các dụ ngôn trước, là sự phân xử mang tính chung cuộc. Không có một sự khoan nhượng nào và hiệu lực của bản án, thưởng – phạt là vĩnh viễn.

(5)           Chiên – dê – phải – trái. Theo như nhà chú giải Jerimias (Parables, 206) một đàn súc vật trộn lẫn được thả trên đồng theo thói quen của người Palestine. Vào cuối ngày, mục tử sẽ tách chiên khỏi dê vì lẽ rằng những con dê cần được giữ ấm vào ban đêm, còn những con chiên thì thích ở ngoài trời vào ban đêm. Người ta đoán rằng bởi vì những con chiên thì có giá trị cao hơn nên chúng được đặt ở vị trí tích cực hơn trong dụ ngôn này.[2] Dĩ nhiên, những con chiên và những con dê tự chúng không phải là biểu trưng cho người tốt và người xấu. K. Snodgrass cho rằng trong thời Do Thái cổ thì giá trị con chiên và con dê như nhau. Phép loại suy được xây dựng dựa trên sự phân chia bên trái, bên phải chứ không phải sự trên cá tính hay giá trị của những con dê, dù cho giá trị những con chiên có phần nhỉnh hơn.[3] Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, con chiên thường được dùng để phác họa hình ảnh dân Ít-ra-el như là dân Chúa trong Cựu Ước và văn chương Do Thái (Ez 34; 1 En 89-90) nhưng con dê thì không.[4] Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su gọi chính Ngài là mục tử và những kẻ theo Ngài là chiên của Ngài (Ga 10,14). So sánh với tác phẩm của Plato, một triết gia Hy Lạp thời Cổ Đại, chúng ta thấy được điều tương tự về trái và phải: Rep.10,614c nói rằng trong cuộc sống đời sau, có những quan tòa, những người gửi người công chính đến bên phải và đến thiên đàng trong khi kẻ bất chính họ gửi xuống bên trái; Virgil, một nhà thơ Roma Cổ, cho rằng đường dẫn đến cuộc sống đời sau phân đôi và ngã đường bên phải là đại lộ của chúng ta đi đến Elysium (thiên đàng, nơi hạnh phúc hoàn hảo) trong khi ngã bên trái dẫn xuống Tartarus vô thần.[5] Theo kinh nghiệm thường ngày, những bộ phận bên phải của cơ thể thường mạnh hơn bên trái. Ví dụ như tay phải hoặc chân phải (trừ một số trường hợp ngoại lệ). Đa số quốc gia lái xe bên phải (trừ một số ngoại lệ). Ngày nay, người ta thường nói đến báo chí lề phải và lề trái, để diễn tả hai luồng thông tin trái ngược nhau. Bên phải dự báo một số phận tốt lành còn bên trái là dấu hiệu của một số phận bi đát. Con Người, đấng tách hai nhóm người thành hai phía, được ví như một mục tử. Chúa Giê-su được ví như một mục tử. Trong trình thuật về Giáng Sinh, các thượng tế và các kinh sư đã đọc lại sách Micah 5,2 để tìm ra nơi sinh của đấng Messiah (Mt 2,6). Micah nói đến Bethlem như là nơi thủ lãnh, đấng chăn dắt Ít-ra-el sẽ ra đời. Micah rõ ràng nói đến vai trò mục tử của Chúa Giê-su.

(6)          “Vương quốc đã dọn sẵn cho các ngươi ngay từ lúc tạo thiên lập địa” (thành lập thế giới, khởi đầu của thế giới). Động từ đã được chuẩn bị được dùng ở thì vị hoàn và thể bị động. Đây rất có thể là bị động thần linh. Thiên Chúa chính là tác nhân của sự chuẩn bị này. Lời nói này của Đức Vua làm cho một số nhà chú giải suy đoán rằng: việc thừa kế vương quốc mang tính tiền định. Nghĩa là Thiên Chúa đã định trước cho ai thì người ấy đương nhiên được hưởng. Và dường như sự tiền định này đã có ngay từ khi tạo thiên lập địa. Nếu như thế thì sự phấn đấu, dấn thân của mỗi cá nhân cả cuộc đời không thay đổi được gì. Tuy nhiên, sự tiền định của Thiên Chúa ở đây đúng hơn nên hiểu là sự tiền định về vương quốc Thiên Đàng. Nghĩa là vương quốc thiên đàng vốn đã được dọn sẵn ngay từ khi tạo thiên ập địa, chứ không phải tiền định cho một số người nào cụ thể được hưởng vương quốc ấy. Công bố này của Đức Vua cũng cho thấy việc thừa hưởng vương quốc là hồng ân của Đức Vua. Đức Vua chính là chủ thể của việc trao ban quyền thừa hưởng vương quốc này.

(7)          đói…cho ăn; khát…cho uống; khách lạ… tiếp rước; trần truồng… cho mặc; ngồi tù… thăm nom”. Có năm cặp hành động song đôi được liệt kê. Và việc năm cặp hành động này được đặt sau liên từ chỉ lý do (γὰρ: bởi vì) cho thấy rõ ràng là những hành động này chính là nguyên do dẫn đưa những người bên hữu vào Thiên quốc. Nếu nói như thế thì chẳng phải những người này được thừa hưởng vương quốc là do công lao của mình đó sao? Điều này xem ra ngược lại với thần học của thánh Phao-lô về ơn công chính: “một người được công chính không do làm những gì Lề Luật dạy nhưng nhờ tin vào Đức Ki-tô Giê-su (Gl 2,16). Tuy nhiên, thánh Phao-lô nói điều này trong bối cảnh nhiều người hiểu lầm là ơn công chính có được là do công lao làm việc thiện của mình hơn là một hồng ân Chúa ban. Rõ ràng lào ơn công chính là hồng ân đức tin. Tuy nhiên, không vì thế mà các tín hữu được miễn trừ thi hành những hành động tử tế với tha nhân mỗi ngày. Năm cặp hành động này được hiểu như là biểu trưng cho tất cả những hành động tử tế mà những người bên hữu dành cho người khác trong suốt cuộc đời họ. Đó là những nhu cầu hết sức căn bản của con người: đói, khát, trần truồng, khách lạ, tù đày…Chúng biểu trưng cho tất cả nghịch cảnh của con người. Những người bên hữu làm những điều này nghĩa là họ đã làm hầu như tất cả những hành động tử tế mà họ có thể làm cho tha nhân. Năm cặp hành động này được kết với lời mời gọi phía trước: “thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị trước ngay từ khi tạo thiên lập đia” để làm thành một mô thức hoàn hảo của ơn cứu độ. Đó là vương quốc do Chúa chuẩn bị. Ngài chính là chủ thể của hồng ân này. Tuy nhiên, một người không được thừa hưởng nếu người đó không muốn thừa hưởng, bằng những biểu hiện tử tế của mình trong suốt cuộc đời họ. Văn chương Do Thái thời sơ khai khuyên dạy rất nhiều về những hành vi bác ái. Sách Sirach dạy rằng “hãy giang tay ra với người nghèo, để những chúc lành của người có thể được hoàn thành” (Sir 7,32). Sách Tobia 1,16-17 liệt kê các hành động bác ái Tobia đã làm: cho người đói ăn và cho người trần truồng mặc và chôn những xác chết bị bỏ rơi. Và Tobia cũng khuyên con mình là phải cho người nghèo thức ăn và cho những người trần truồng áo mặc (Tb 4,16). Văn chương ki-tô giáo sơ khai cũng nói nhiều về hành động bác ái. Sách Et-ra thứ tư dạy rằng: “hãy cho người túng thiếu, bảo vệ cô nhi, mặc cho người trần truồng, chăm sóc người mang thương tích và yếu đuối” (4 Ezra 2,20-21). Những câu nói của Sextus 378 nói rằng: “nếu ngươi không cho người túng thiếu khi ngươi có thể thì ngươi cũng không thể nhận từ Đức Chúa khi ngươi túng thiếu”. Tin Mừng Matthew nhấn mạnh đến điều răn yêu thương (5,43-48; 19,19; 22,34-40) và lòng thương xót (5,7; 6,2-4; 9,13; 12,7; 18,33; 23,23). Chúa Giê-su cũng khuyên người thanh niên bán của cải mình đi để cho người nghèo (Mt 19,21; Mc 10,21; Lc 18,22).

(8)          Khi nào vậy? (πότε). Trạng từ nghi vấn về thời gian được “những người công chính” lặp lại ba lần trước những tuyên dương lạ lùng của “Đức Chúa”. Sự ngây thơ của những người bên hữu càng tô điểm thêm vẻ đẹp của những hành vi tử tế của họ. Nghĩa là, họ đã thể hiện những hành vi tử tế ấy một cách tự nhiên, vô vị lợi. Họ không làm bởi vì một áp lực hay ảnh hưởng nào từ người khác. Họ đã không làm vì biết rằng đó là những kẻ bé nhỏ nhất của Đức Vua. Họ cũng không làm chỉ bởi vì họ trông chờ vào phần thưởng vương quốc. Những hành vi ấy chỉ xuất phát từ con tim tình yêu, thánh thiện của họ, sự đồng cảm và lòng thương xót của họ dành cho người khác là vô vị lợi. Chính vì thế mà họ tỏ ra ngơ ngác trước những ghi nhận của Đức Vua.

(9)          “những anh em bé mọn nhất của ta” và “tất cả các nước”. Trong những bản văn trước của Matthew, “những anh em bé mọn” dường như là những ki-tô hữu (xem Mt 10,40-42; 18,6.14).[6] Tuy nhiên, trong bối cảnh này, những người bên phải không chỉ là những ki-tô hữu, hay là những môn đệ của Chúa Ki-tô, nhưng là tất cả mọi người, bởi họ được chọn ra từ tất cả các quốc gia trên thế gian chứ không riêng gì quốc gia ki-tô giáo. Danh từ “ἔθνος” có thể có nghĩa là các quốc gia hay là những người dân ngoại. Nó có thể đề cập đến các ki-tô hữu hoặc không ki-tô hữu. Trong Bản Bảy Mươi (bản dịch Thánh Kinh Do Thánh qua tiếng Hy Lạp), danh từ này rất thường xuyên được dùng để nói về các dân khác hơn là dân Ít-ra-el (Ex 33,16; Đnl 7,7), nhưng thỉnh thoảng nó cũng bao hàm dân Ít-ra-el (Tv 48,2; Is 25,6-7).[7] Đức Vua là vua của vũ hoàn chứ không phải chỉ là vua của Ki-tô giáo. “Những anh em bé mọn” là tất cả những người túng thiếu.

Đức vua đồng hóa chính mình với những người bé mọn nhất. Và tất cả những người bên hữu này đều gọi Ngài là “Đức Chúa” (Lord). Danh từ “người anh em” mà Đức Vua sử dụng cũng rất đáng chú ý. Nó làm thay đổi tương quan giữa những kẻ bé mọn và Đức Vua cao cả. Ngài xem họ như là người nhà của mình. Ngôn ngữ gia đình được Đức Giê-su sử dụng rất nhiều lần trong Tin Mừng Matthew. Danh từ “người anh em” (ἀδελφός) được Matthew sử dụng 38 lần trong đó 20 lần nói đến những anh em theo nghĩa đen. Tối thiểu 8 trong số 18 cách sử dụng ẩn dụ không có nghĩa “môn đệ” nhưng được sử dụng khái quát theo nghĩa là người thân cận của một ai đó (Mt 5,22 ai giận ghét anh em mình…; 5,47: nếu anh chỉ chào hỏi những người anh em của anh…; 12,48, bất kỳ ai thi hành thánh ý của cha ta trên trời người ấy là anh em và chị em và mẹ tôi; 18,35: nếu anh không tha thứ cho người anh em hoặc chị em của anh …). Đức Giê-su dạy các môn đệ gọi Thiên Chúa là cha (cha chúng con ở trên trời). Điều đó cũng đồng nghĩa với việc Ngài muốn họ nhìn nhận tất cả mọi người trên trái đất này đều là anh em vì họ có cùng một cha.

Danh xưng của vị thẩm phán trong trình thuật về cuộc xét xử này được thay đổi liên tục: Con Người – Đức Vua – Đức Chúa. Ngài là Con Người đến trong vinh quang với các thiên sứ theo hầu và tập họp dân cư trên toàn cõi đất lại. Ngài là Đức Vua khi phân chia hai nhóm người bên tả bên hữu như mục tử tách chiên với dê. Ngài cũng là Đức Vua xét xử, công bố bản án cho những kẻ bên tả và ban thưởng cho những kẻ bên hữu. Ngài cũng là Đức vua khi đồng hóa với những người bé mọn, Ngài xem họ như người nhà. Ngài là Đức Chúa trong cái nhìn của những người bên hữu và những kẻ bên tả.

(10)       “những kẻ được chúc phúc”, “những người công chính” – “những kẻ bị nguyền rủa”. Những người bên hữu được gọi bằng hai danh xưng trong khi đó những kẻ bên tả chỉ có một danh xưng mà thôi. Đối lại với danh xưng “những người được chúc phúc” là danh xưng “những kẻ bị nguyền rủa”. Trong khi danh động từ thể bị động, “những kẻ được chúc phúc” có kèm theo tác nhân là “Cha Ta”, nhấn mạnh đến tác nhân của hành động chúc phúc, còn danh động từ ở thể bị động “bị nguyền rủa” không kèm theo tác nhân nào, điểm nhấn rơi vào hành động chúc dữ. Đưc Vua chắc chắn không muốn chúc dữ cho ai. Danh xưng “những người công chính” được lặp lại 2 lần trong dụ ngôn này trong khi nhóm bên tả chỉ được nhắc đến bằng đại từ ngôi thứ ba. Những quan sát về mặt từ ngữ và cách dùng từ cho thấy sự vượt trội, ưu thế của những người bên hữu. Tính từ “công chính” được dùng như danh từ với mạo từ xác định, số nhiều đứng trước được Matthew sử dụng năm lần, hai trong năm lần đó được dùng trong dụ ngôn này. Những người công chính trong dụ ngôn này xem ra được định nghĩa bởi hai đặc tính nổi bật. Đặc tính thứ nhất là “được Cha chúc phúc”. Đặc tính thứ hai là có tình yêu và lòng trắc ẩn với “những người anh em bé mọn.” Những hành vi bác ái của họ, thể hiện một cách tự nhiên, được chuẩn nhận từ Đức Vua. Trong Mt 13,17, những người công chính được đặt cạnh những ngôn sứ với ước muốn được nghe lời giảng của Chúa Giê-su mà không được nghe. Cũng trong chương 13, những người công chính được cho là sẽ chiếu sáng như mặt trời trong vương quốc của Cha của họ (Mt 13:43). Cũng trong bối cảnh những lời giảng về cánh chung, qua dụ ngôn cỏ lùng, Đức Giê-su nhắc đến ân thưởng này của những người công chính.        

(11) “Hình phạt vô tận” và “sự sống đời đời”. Tính từ thời gian “αἰώνιος” (muôn đời, vô tận, muôn kiếp) được sử dụng kèm với bản án. Phần thưởng sự sống đời đời đối lại với hình phạt muôn kiếp. Đây là lối diễn tả của thời cánh chung. Một khi Đức Vua đã kết án thì bản án này vĩnh viễn không thể thay đổi. Nó giống như hoàn cảnh của mười cô trinh nữ trong dụ ngôn trước đó (Mt 25,1-13). Năm cô khờ dại có gõ cửa bao nhiều lần thì cửa vẫn không mở. Số phận của 3 người đầy tớ trong dụ ngôn những talanton cũng tương tự như thế (Mt 25,14-30). Người đầy tớ biếng nhác và xấu xa thì trở thành “kẻ khóc lóc và nghiến răng”. Những bản án ấy là vĩnh viễn không thay đổi được. Điều đó vừa cho thấy tính cách khắc nghiệt của bản án nếu ai đó bị trừng phạt vừa diễn tả niềm vui khôn cùng, vô tận của những người được thừa hưởng vương quốc.


Bình Luận:


Dụ ngôn chiên và dê hay là trình thuật về cuộc phán xét một lần nữa cho thấy kiểu hành văn song đôi trong Tin Mừng Matthew. Theo mô thức của kiểu hành văn này, sẽ có một nhóm bên phải, bên của những con chiên, và sẽ có một nhóm bên trái, bên của những con dê. Sự phân chia này đã bộc lộ ngay từ đầu hai tính cách và dẫn đến hai số phận khác biệt, đối lập giữa hai nhóm người. Khung cảnh của buổi triệu tập cuối cùng thật hung tráng. Tất cả các dân, các nước, mọi thành phần dân chúng không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, giai cấp, giàu nghèo đều được mời gọi tham dự. Không chỉ là tất cả các thần dân dưới đất nhưng còn là toàn bộ các thiên sứ trên cõi trời cao. Chủ trì của buổi phân xử này là Con Người, Đức Vua, là Đức Chúa. Không ai khác chính là Đức Ki-tô Phục Sinh, Đấng đã được ban toàn quyền trên trời dưới đất. Ngài đến, dĩ nhiên không phải để luận phạt, hay nói đúng hơn Ngài chắc hẳn không muốn luận phạt ai. Ngài đến để tìm và cứu những gì đã mất (Mt 15, 24; 18,14; Lc 15, 1-32). Trong buổi cánh chung, chắc hẳn rằng nhà vua muốn tất cả, hoặc ít ra đa số thần dân ấy thuộc về nhóm bên hữu. Vương quốc đã được chuẩn bị ngay từ khởi đầu cho tất cả mọi thần dân, tất cả đều được mời gọi. Tuy vậy, tiếc thay không phải tất cả mọi người đều muốn vào, muốn thừa hưởng. Không phải tất cả đều nổ lực hết sức để qua cửa hẹp mà vào. Chính vì thế mới có những người bên tả và những kẻ bên hữu; có những người được Cha chúc phúc, và những kẻ bị nguyền rủa. Hồng ân chúc phúc dĩ nhiên là thuộc thẩm quyền của Đức Vua. Tài sản thừa kế vương quốc là món quà nhưng không của Người. Vậy nhưng, điều đó không loại trừ trách nhiệm, thiện chí muốn vào của các thần dân. Đức Vua quan sát và ghi nhận tất cả những hành động tử tế mà từng người dân của Ngài dành cho những anh em bé mọn. Nhờ vậy mà Ngài có thể điểm mặt chỉ tên từng người từng việc một cách rành mạch chính xác. Có những việc lành, đôi khi chính đương sự không còn nhớ đến nữa nhưng Đức Vua thì không. Ngài ghi nhớ tất cả. Những người bên hữu đã bày tỏ tình yêu và lòng thương xót dành cho những người lâm cảnh cơ hàn, nghịch cảnh. Đó là những kẻ đói cơm, thiếu nước, không mảnh vải che thân, không cửa không nhà, tù đày… những hành vi này tượng trưng và bao quát hết tất cả những hành động tử tế cho tất cả những mảnh đời bất hạnh mà Đức Vua không muốn kể hết vì chúng quá nhiều. Họ, những người bên hữu làm những điều ấy với tất cả tình yêu và vô vị lợi. Thậm chí họ quên đi, và ngây thơ, ngỡ ngàng trước sự nhắc nhớ của Đức Vua. Ngược lại với những người bên hữu, những người bên tả đã dửng dưng với những mảnh đời bất hạnh đi qua cuộc đời họ. Họ đã chẳng mảy may nghĩ đến và ra tay cứu giúp. Họ đã không thấy Đức Vua đói, không thấy Đức Vua khát, không thấy Đức Vua trần truồng, không gặp Đức Vua là khách lạ, và không biết Đức Vua ở tù vì nếu thế thì họ đã lập tức ra tay cứu giúp vì họ mong mỏi Đức Vua sẽ đáp trả họ, sẽ mang ơn họ. Nếu như sự giải thích, vẻ ngây ngô của những người bên hữu càng tô đẹp tính cách vô vị lợi trong những việc lành của họ thì sự giải thích của những người bên tả càng tô đậm tính vị lợi trong suy nghĩ của họ. Làm cho “một trong những anh em bé mọn này” chính là làm cho Đức Vua và không làm cho “một trong những người bé mọn này” là không làm cho Đức Vua.

Dụ ngôn chiên và dê hay là trình thuật về buổi phân xử là trình thuật cuối cùng trong loạt bài giảng nói về thời cánh chung. Nó vừa đúc kết, vừa giải thích và hoàn trọn những thông điệp gợi mở trong những dụ ngôn phía trước. Nếu như trong dụ ngôn mười trinh nữ đi đón chàng rể (Mt 25,1-13), người ta vẫn thắc mắc về chất dầu mà năm cô trinh nữ khôn ngoan đã mang theo là gì? Và trong dụ ngôn những talanton (Mt 25,14-30) người ta cũng lại thắc mắc những talanton mà hai người đầy tớ đầu tiên đã sinh lời (một người sinh lời được năm talanton và một người sinh lời được hai talanton khác) là gì? Thì trong dụ ngôn chiên và dê người ta có thể tìm thấy câu trả lời. Chất dầu và những talanton lời ấy chính là tình yêu và lòng thương xót được thể hiện mỗi ngày trong cuộc đời mỗi người. Đó là chất dầu giúp đèn của những trinh nữ khôn ngoan luôn cháy sáng để đón chàng rể và theo chàng vào phòng tiệc cưới. Đó cũng là những talanton lời giúp cho hai người đầy tớ đầu tiên được trao phó nhiều hơn và được mời vào trong niềm vui của ông chủ. Trình thuật cuối cùng không còn nói đến những ẩn dụ sự vật như dầu, đèn hay talanton (nén bạc) nhưng nói đến những mối tương quan của những con người bằng xương bằng thịt. Những đối tượng của lòng thương xót không phải ai xa lạ mà chính là “những người anh em bé nhỏ của” Chúa. Phần thưởng của những người được chúc phúc không chỉ là chung vui tiệc cưới nhưng là sự sống vĩnh cửu. Hình phạt dành cho những kẻ bị chúc dữ là hình phạt vĩnh cữu. Nó bao hàm cả việc trở thành những kẻ “khóc lóc và nghiến răng” vĩnh cửu, không thay đổi được. Cần lưu ý rằng, tuy tình yêu và lòng thương xót dành cho những người cùng khổ được xem như là những tiêu chí trọng yếu trong cuộc phân xử cánh chung, nhưng đó không phải là tất cả. Nó không thể bao trùm và miễn trừ cho việc thực thi tất cả các giáo huấn khác của Đức Giê-su trong toàn bộ Tin Mừng Matthew, cũng như các Tin Mừng khác. Còn đó những giá trị Tin Mừng như là Bát Phúc, Hiến Chương Nước Trời, Đức tin, sự hoán cải, sự bao dung, tha thứ, lối sống khó nghèo…. mà những kẻ muốn hoàn thiện như cha trên trời phải theo đuổi mỗi ngày. Những giá trị Tin Mừng các tín hữu phải theo đuổi mỗi ngày là cả cuốn Thánh Kinh chứ không chỉ là đoạn Tin Mừng về cuộc phán xét ở Mt 25,31-46.

Những lời nhắc nhở của Chúa Giê-su về thời cánh chung là rất rõ ràng và quyết liệt. Chủ ý của Phụng Vụ Giáo Hội trong ngày cuối cùng của năm Phụng Vụ cũng rất rành mạch. Vấn đề còn lại là sự chọn lựa và đáp trả của mỗi cá nhân. Sẽ đến lúc mỗi người phải đối diện với Chúa và phải trả lời về tất cả những hành vi lớn nhỏ trong cuộc đời mình. Hình phạt muôn kiếp hay sự sống vĩnh cửu phụ thuộc vào chọn lựa và dấn thân của mỗi người ngày hôm nay.

Joseph Phạm Duy Thạch SVD



[1] x. G. W. E. NICKELSBURG, The Anchor Bible Dictionary, “Son of Man”.

[2] D. J. Harington, The Gospel of Matthew (SP 1; Collegeville 1991) 356.

[3] K.R. Snodgrass, Stories with Intent. A Comprehensive Guide to the Parables of Jesus (Grand Rapids 2008) 422.

[4] K.R. Snodgrass, Stories with Intent, 421.

[5] W. D. Davies – D.C. Allison, A Critical and Exegetical Commentary on the Gospel According to Saint Matthew (London - New York 2004) 424.

             [6] D. J. Harington, The Gospel of Matthew (SP 1; Collegeville 1991) 357.

[7] K.R. Snodgrass, Stories with Intent, 424.

Saturday, 14 November 2020

ĐƯỢC MỜI VÀO TRONG HAY BỊ QUĂNG RA NGOÀI, VUI MỪNG HAY KHÓC LÓC NGHIẾN RĂNG

CN XXXIII TNA

(Cn 31, 10-13, 19-20. 30-31; Tx 5, 1-6; Mt 25, 14-30)

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.



Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: "Có một người kia sắp đi xa, liền gọi các đầy tớ đến mà giao phó tài sản của ông. Ông trao cho người này năm nén bạc, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tuỳ theo khả năng của mỗi người, đoạn ông ra đi.

"Người lãnh năm nén bạc, ra đi và dùng tiền ấy buôn bán làm lợi được năm nén khác. Người lãnh hai nén cũng đi làm lợi được hai nén khác. Còn người lãnh một nén, thì đi đào lỗ chôn giấu tiền của chủ mình.

"Sau một thời gian lâu dài, ông chủ các đầy tớ ấy trở về và đòi họ tính sổ. Vậy người lãnh năm nén bạc đến, mang theo năm nén khác mà nói rằng: "Thưa ông, ông trao cho tôi năm nén bạc, đây tôi làm lợi được năm nén khác". Ông chủ bảo người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi". Người đã lãnh hai nén bạc cũng đến và nói: "Thưa ông, ông đã trao cho tôi hai nén bạc; đây tôi đã làm lợi được hai nén khác". Ông chủ bảo người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi".

"Còn người lãnh một nén bạc đến và nói: "Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt nơi không gieo và thu nơi ông không phát: nên tôi khiếp sợ (mà) đi chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Ðây của ông, xin trả lại cho ông". Ông chủ trả lời người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ hư thân và biếng nhác, người đã biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát: vậy lẽ ra người phải giao bạc của ta cho người đổi tiền, và khi ta trở về, ta sẽ thu cả vốn lẫn lời. Bởi thế, các ngươi hãy lấy nén bạc lại mà trao cho người có mười nén. Vì người có sẽ cho thêm và sẽ được dư dật, còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng, các ngươi hãy ném nó ra ngoài vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng".

Bối cảnh

Đoạn Tin Mừng hôm nay nằm trong bối cảnh của Chúa Nhật áp cuối của năm Phụng Vụ A. Tuần sau là Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ A, Lễ Chúa Giê-su Ki-tô, vua vũ hoàn. Trong bối cảnh ấy chủ đề phụng vụ dĩ nhiên là liên quan đến khoảnh khắc cuối cùng của mỗi con người. Hơn ai hết, mỗi ki-tô hữu ý thức rõ rằng mình là môn đệ của Chúa Giê-su và mình là con Chúa và sẽ trở về với Chúa một khi chết đi. Chính Chúa Giê-su đã nhiều lần thông báo rằng Ngài sẽ trở lại (Mt 16,27; 25,31; Mc 8,31; Lc 9,26). Mỗi Chúa Nhật, các tín hữu cũng tuyên xưng trong Kinh Tin Kính rằng: “Ngài sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Tuyên xưng không ngừng như thế, nhưng lời tuyên xưng ấy đôi khi trở thành thói quen hơn là một niềm xác tín. Cho nên, tuyên xưng như thế nhưng các tín hữu đôi khi lại thiếu sức sống, thiếu những hành động cụ thể hay những chuẩn bị cần thiết cho xác tín ấy. Đôi khi gánh nặng cuộc sống thể lý, cơm áo gạo tiền, làm cho họ quên đi việc hiện thực hóa cách sống động niềm tin này. Chính vì thế, phụng vụ giáo hội trong những tuần cuối năm và đầu năm, khởi đầu bằng Chúa Nhật Mùa Vọng, luôn nhắc nhở con cái đức tin, con cái ánh sáng về niềm xác tín về ngày trở lại của Chúa Giê-su trong vinh quang.

Trong bối cảnh của Tin Mừng Matthew, Mt 25,14-30 tiếp theo dụ ngôn “mười cô tring nữ đi đón chàng rể” (Mt 25,1-13), và dụ ngôn “người tôi tớ” (24, 45-51), là loạt 3 dụ ngôn nói về thời cánh chung, thời sau cùng của thế giới, khi Đức Giê-su trở lại lần thứ hai, và cũng là lần cuối. Chủ đề của đoạn dụ ngôn dĩ nhiên cũng như chủ đề Phụng Vụ, cũng nói về những vấn đề của thời sau hết của nhân loại. Trong các tác giả Sách Tin Mừng, chỉ có Luca chia sẻ dụ ngôn này giống như Matthew, với nhiều chi tiết khác biệt sẽ nói sau.

Một số điểm khác nhau chính yếu giữa bản văn Luca và Matthew

Có khác nhiều điểm khác biệt giữa hai bản văn của cả hai tác giả tường thuật cùng một dụ ngôn. Thứ nhất, Matthew bắt đầu bằng liên từ “γὰρ” cho thấy sự liên tục của dụ ngôn này với dụ ngôn “mười cô trinh nữ đi đón chàng rể” ngay phía trước, với câu kết là: “vì vậy, hãy coi chừng vì các ngươi không biết ngày và giờ” (Mt 25,13). Câu kết này được Matthew viết tiếp: “quả thế (γὰρ), cũng như có người kia sắp đi xa liền gọi các đầy tớ của mình lại…”. Câu khởi đầu của này của Matthew cho thấy sự nối kết rất gần gũi giữa dụ ngôn này với dụ ngôn “mười trinh nữ đi đón chàng rể” (Mt 25,1-13). Nó hoặc là minh họa cho dụ ngôn, làm rõ thêm dụ ngôn trước đó hoặc củng cố cho dụ ngôn trước đó. Bản dịch Anh Ngữ ESV còn dịch liên từ (γὰρ) như là một liên từ chỉ sự kết quả (for): “vì thế” trong khi bản dịch Pháp Ngữ (TOB), bản dịch Ý ngữ (CEI) và bản dịch Việt ngữ (CGKPV) đều dịch là “quả thế” (infatti, En effet). Dụ ngôn này được Luca đặt ngay sau tường thuật về việc Chúa Giê-su viếng thăm nhà ông Gia-kêu. Và lý do mà Luca đưa ra, bối cảnh cụ thể mà Chúa Giê-su kể dụ ngôn này là vì Chúa Giê-su lúc đó đang tiến gần đến Giê-ru-sa-lem và nhiều người nghĩ rằng Vương quốc Thiên Chúa sẽ đến ngay lập tức, nên “Chúa Giê-su mới kể cho họ nghe dụ ngôn này” (Lc 19,11). Cũng nên nhắc lại rằng Tin Mừng Luca, tường thuật về chặng đường đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem dài nhất trong tất cả các tin Mừng. Thánh Luca dành đến mười chương để tường thuật hành trình này (9,51 – 19, 44). Dụ ngôn mười nén bạc của Luca được đặt ở giao điểm giữa đoạn cuối của cuộc hành trình này và tường thuật về sự kiến Chúa Giê-su tiến vào Giê-ru-sa-lem. Matthew đặt dụ ngôn này vào trong loạt những bài giảng về thời cánh chung sau khi Ngài đã vào Giê-ru-sa-lem vinh quang.

Thứ hai, thánh Matthew chỉ nói là “một người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ mình lại chia….” Không cụ thể là ai và đi đâu để làm gì. Trong khi đó Luca xác định khá rõ địa vị của người này. Ông ta là một người đàn ông quý tộc (εὐγενὴς). Và lý do cũng rất cụ thể là ông này đi xa để lãnh nhận vương quyền và sẽ trở về.

Thứ ba, số người mà ông ta gọi đến để trao nén bạc là mười đầy tớ và số tiền mà ông đưa cho họ chung chung là mười người lãnh nhận mười mna.[1] Nhưng sau đó, Luca lại chỉ đề cập đến ba người báo cáo về số tiền mà chủ giao mà thôi. Bảy người còn lại không biết đi đâu. Matthew xem ra chặt chẽ hơn khi nói rằng ông chủ trao cho ba người đầy tớ mỗi người một số lượng khác nhau. Người thì năm talanton[2] người thì ba talanton và người khác nữa thì một talenton. Matthew còn nói rõ là mỗi người tùy theo khả năng của họ, chứ không phải ai cũng như ai.

Thứ tư, theo Luca thì ông này ra lệnh cho mười đầy tớ của mình là “hãy lấy số tiền này đầu tư cho đến khi tôi trở về”. Matthew không ghi lại mệnh lệnh này. Thay vào đó, ông cho thấy hành động cụ thể của ba người đầy tớ. Trong đó, người thứ nhất đã lấy năm talanton đi làm ăn kinh doanh ngay lập tức và đã sinh lời được năm talenton khác. Người đã lãnh hai talanton cũng sinh lời được hai talanton khác. Còn người thứ ba, người nhận một talanton thì đem đi đào lỗ và chôn dấu.

Thứ năm, phần thưởng mà ông chủ dành cho các đầy tớ biết sinh lời cũng khác nhau giữa hai phiên bản của Luca và Matthew. Trong khi, các đầy tớ của Luca được trao quyền lãnh đạo trên số thành tương ứng mới số minas mà họ sinh lời. Các đầy tớ của Matthew được lời hứa là sẽ được trao nhiều (vốn) hơn và được mời gọi là hãy vào hưởng niềm vui của chủ ngươi.

Thứ sáu, Luca tường thuật chi tiết những người công dân của ông ghét ông nên sai một phái đoàn đến sau ông để nói rằng “chúng tôi không muốn rằng ông này làm vua chúng tôi.” (Lc 19,14). Đây là chi tiết không hề tồn tại trong tường thuật của Matthew. Chi tiết này cùng với chi tiết “người đàn ông quý phái đi xa để lãnh nhận vương quyền” (Lc 19,11) và chi tiết “giết chết những người dân” (Lc 19,27) theo trình thuật của thánh Luca được sử gia Josephus liên tưởng đến sự kiện lịch sử liên quan đến Archelaus. Số là, sau khi vua Hê-rô-đê cả băng hà, Archelaus cùng đoàn tùy tùng của mình đã đến Roma để thuyết phục hoàng đế Cesar chấp nhận cho ông ta làm kế thừa vua cha. Trong khi đó một phái đoàn năm mươi người Do thái tại từ Israel, hợp với tám ngàn người Do Thái tại Roma, đã đến trước Cesar để tranh luận nguy cơ làm vua của Archelaus. Theo những bản văn của Josephus, Archelaus đã giết chết 3000 người do thái gây rối trước khi đến Roma.

Thứ bảy, Luca kết thúc dụ ngôn của mình với việc ông chủ ra lệnh giết chết  những kẻ không muốn ông làm vua (Lc 19,27). Matthew thì kết thúc một cách hợp lý hơn, người đầy tớ vô dụng đã bị tống ra ngoài nơi tối tăm, và ở đó anh phải khóc lóc và nghiến răng (Mt 25,30)



Một vài điểm chú giải

1.             Người người kia đi xa: Ý tưởng một người kia (một ông chủ vắng mặt) trong dụ ngôn này nhằm làm nổi bật cốt truyện trong đó trách nhiệm của người đầy tớ được đặt nặng. Rõ ràng Matthew không muốn nói gì đến mục đích đi xa của ông này và thậm chí danh tánh, địa vị của ông Matthew cũng không đề cập đến. Chi tiết cần thiết mà nhất đọc giả cần biết đến là ông ta “đi xa” (apodemeo). Ông chủ đi xa có nghĩa là trách nhiệm trông nhà, trông cửa thuộc về các đầy tớ. Và ông chủ vắng bóng càng cho thấy mức độ trưởng thành và trung tín của một người đầy tớ. Có những người đầy tớ chỉ trung thành giả tạo khi có mặt ông chủ. Còn những người đầy tớ đích thực, thì họ tôn trọng chính bản thân và nhân phẩm đầy tớ của mình. Họ có lòng tự trọng, và luôn có tinh thần trách nhiệm cao nhất dù có ông chủ ở đó hay không. Người Việt nam có câu: “chủ vắng nhà gà vọc nêu tôm”. Một khi chủ vắng mặt thì những cái xấu xa, vô trách nhiệm của một đầy tớ rất dễ phơi bày. Mc 14,34-36 cũng nói đến một ông chủ đi xa và giao nhà, giao việc cho các đầy tớ, mỗi người mỗi việc và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức. Rõ ràng, chi tiết một người kia đi xa rất quan trọng trong dụ ngôn này. Nó để lại không gian hành động và trách nhiệm của các đầy tớ. Ông chủ của Matthew tín thác tài sản mình trong tay các đầy tớ và chờ đợi một kết quả tích cực.

2.          Trao cho họ tài sản của mình (τὰ ὑπάρχοντα). Danh từ được dịch là tài sản trong dụ ngôn này cũng rất đáng chú ý. Trong ngôn ngữ gốc Hy Lạp, đây là một động từ thêm -ing (participle), được dùng như một danh từ có mạo từ xác định đi trước. Nó phát xuất từ động từ “ὑπάρχω” có nghĩa là tồn tại, hiện diện, là…giống như động từ eimi. Như vậy, cái mà ông chủ trao cho đầy tớ có thể là một tài sản bình thường như tiền bạc, đất đai, nhà cửa, nhưng cũng có thế quý giá hơn nữa, là chính bản thân ông, chính sự hiện hữu, sự tồn tại của ông. Danh từ tài sản này gợi nhớ đến Mt 24,7, nơi mà ông chủ cũng hứa trao toàn bộ tài sản của mình cho đầy tớ thông minh và trung thành coi sóc.

3.             Trao talenton… mỗi người theo khả năng của mình. Không biết ngẫu nhiên hay hữu ý, trong ngôn ngữ hiện đại đơn vị tiền tệ này được dịch là talent, cũng có nghĩa là tài năng tự nhiên. Món quà tài năng này được trao không phải như nhau cho tất cả mọi người nhưng mỗi người tùy theo khả năng sử dụng nó để sinh lời. Thật hợp lý, khả năng mỗi con người không giống nhau. Ông chủ chắc chắn biết rõ điều ấy và trao số lượng talanton đúng với khả năng của mỗi người. Nếu trao thiếu thì người đây tớ ấy không phát huy hết khả năng của mình. Còn nếu trao dư thì người đầy tớ sẽ không dùng hết đâm ra uổng phí. Thánh Phao-lô có những ý tưởng tương tự như thế. Rm 12,3-8 “nói về mức độ đức tin mà Chúa trao gửi cho anh ta” và “món quà khác nhau theo ân sủng đã được ban cho chúng ta”. Ep 4,7-8 và 1 Pt 4,10 đề cập đến việc khi mỗi người đã lãnh nhận một món quà, hãy tận dụng nó vì nhau, như là những người phục vụ ân sủng muôn hình vạn trạng của Chúa”.

4.             Lập tức… lấy… làm việc… và sinh lời. Bốn động từ liên tục được sử dụng cùng với trạng từ chỉ mức độ nhanh chóng, gấp rút, dồn dập của người đầy tớ thứ nhất, người trao được năm nén, cho thấy sự nhiệt thành, trách nhiệm và chịu thương chịu khó của người đầy tớ này. Trạng từ “tương tự như thế” (ὡσαύτως) đặt ngay trước biểu hiện của người đầy tớ thứ hai, người nhận được hai talanton. Tuy tác giả không lặp lại những động từ dày đặc và trạng từ chỉ tính gấp rút trong hành động của người thứ nhất. Tuy nhiên, trạng từ “tương tự như thế” đã thay thế cho tất cả các cách diễn tả ấy. Nghĩa là cả hai người đầy tớ này đều trung thành, trách nhiệm, nhiệt thành cách gấp rút, nhanh nhất có thể để làm cho những talanton mà chủ ban cho mình được sinh lời gấp đôi. Và họ đã thành công.

5.             Hành động của người thứ ba, người đã nhận được một talenton. Đi, đào lỗ, chôn số bạc của chủ anh ta. Anh cũng có ba hành động nhưng không được bắt đầu bằng trạng từ vội vã. Giả định rằng anh ta cứ bình chân, không lấy gì làm vội vã trong các hành động của mình. Và những hành động của anh ta đều mang tính tiêu cực. Đào và chôn bạc. Chôn dấu bạc dưới đất là một thói quen của người thời xưa. Nếu anh ta đào và chôn dấu số bạc của mình thì đó là chuyện bình thường. Ngạn ngữ xưa có câu: “tiền bạc chỉ được canh giữ bằng cách chôn dưới đất”. Theo như Jeremias (Parables, 61), thì chôn tiền được xem như bảo đảm tốt nhất để chống trộm. Ai chốn dấu tiền thì thoát khỏi trách nhiệm pháp lý, trong khi đó ai gói tiền ký thác trong vải thì chịu trách nhiệm cho việc mất.[3] Nhưng đây là số bạc mà chủ đã giao phó cho anh trước lúc đi xa. Rõ ràng là anh này không hiểu rõ ý chủ của mình. Nếu chủ đưa bạc cho anh chỉ để cất dấu thì không cần chia talanton từng người tùy theo khả năng của mình. Ông chủ chắc chắn cũng có kho để cất dấu của mình, không cần trao cho từng người đầy tớ mỗi người một số lượng khác nhau như thế.

6.             Sau một thời gian dài (πολὺν χρόνον). Đây là kiểu nói thể hiện sự trì hoãn, tương tự như chúng ta đã gặp trong những dụ ngôn trước Mt 24,48 và 25,5. Đây rất có thể là thời gian giữa lúc Chúa Giê-su lên trời và trở lại trong vinh quang. Nó kết hợp “người đàn ông đi xa” trong phần đầu tiên của dụ ngôn để làm thành một hành trình của nguoi2 chủ: ra đi và trở lại sau một thời gian dài. Đây là thời gian có đủ để các đầy tớ sinh lời theo đúng khả năng và số vốn mà Chúa trao phó.

7.             Đầy tớ tài giỏi và trung thành: Cả hai người đầy tớ đầu tiên cùng được ông chủ khen với cùng những loại phẩm tính: “tài giỏi và trung thành”. Cả hai anh tài giỏi và trung thành trong cách thức sinh lời gấp đôi, kịp lúc trước khi chủ trở về. Và họ xứng đáng được trao nhiều talanton hơn thế nữa bởi vì họ đã trung thành khi đã được giao ít.

8.             Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh. Cùng với lời khen và lời hứa được giao nhiều hơn là một lời mời gọi hết sức hậu hỷ: “hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ ngươi”. Đó có thể là lời mời gọi vào dự tiệc Messiah trong thời cánh chung. Cũng như năm cô trinh nữ khôn ngoan vì đã sẵn đèn dầu nên được vào dự tiếc cưới với chàng rể, hai người đầy tớ tài giỏi và trung thành cũng được vào hưởng niềm vui của chủ các anh. Lời mời gọi này không có trong bản dụ ngôn của Luca. Bản tiếng Việt (CGKPV), bản tiếng Pháp (TOB) và bản tiếng Ý (CEI) đều dịch có ý rằng “hãy vào và hưởng niềm vui của chủ anh”. Trong khi đó bản nguyên ngữ tiếng Hy Lạp thì chỉ nói là “hãy vào bên trong (εἰς, vào trong) niềm vui của chủ anh). Có thể có nghĩa là chia sẽ chung niềm niềm vui với chủ của anh. Anh được hòa vào trong niềm vui của chủ anh, được chung phần với chủ. Đó là niềm vinh dự của người tôi tớ vì tôi tớ thường dù có làm gì thì cũng là việc bổn phận. Từ đi vào (εἰσέρχομαι) cộng với giới từ bên trong (εἰς) được dùng ở đây giống y chang như động từ và giới từ được dùng trong dụ ngôn mười người trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể. Năm cô trinh nữ khôn ngoan, những người đã sẵn sàng di vào bên trong phòng tiệc cùng với chàng rể. Đây là lối diễn tả chung cuộc của buổi cánh chung. Sự đi vào bên trong niềm vui của chủ không phải là trong chốc lát nhưng là kéo dài vĩnh viễn. Có người bên trong được chung vui thì chắc chắn cũng có những kẻ bên ngoài buồn bã. Đó là năm cô trinh nữ khờ dại hay là người tôi tớ thứ ba trong dụ ngôn này.

9.             Người đầy tớ lười biếng… xấu xa… và vô dụng. Anh đầy tớ này có một lý giải khá suôn sẻ và hợp lý và không làm hao hụt số vốn mà chủ giao. Tuy vậy, lối lý giải ấy không thuyết phục được ông chủ. Như đã nói trên, trong khi hai người đầy tớ đầu tiên đã hiểu được ý chủ và dấn thân sinh lời gấp đôi ngay lập tức thì tên đầy tớ này lừng khừng, không hiểu, và chỉ làm theo suy nghĩ của anh. Đầy tớ thì phải làm theo ý chủ, đoán ý chủ mà làm. Đầy tớ này được chủ kết luận là lười biếng[4], bởi anh ta đã không làm gì trong suốt thời gian dài chủ đi vắng. Đối nghịch lại với hai phẩm tính tốt mà ông chủ dành cho hai người tôi tớ trước (tài giỏi và trung thành) là hai tật xấu dành cho người đầy tớ thứ ba: xấu xí và biếng nhác. Anh bị cho là xấu xa có thể là do anh đã nghĩ sai về chủ của anh, hoặc anh đã lấy ý anh làm ý chủ. Còn có ý trách vì ông chủ như thế nên anh ta làm như vậy. Vì ông chủ hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi nên anh ta mới đâm sợ và đi chôn dấu số bạc. Nói cách khác anh quy trách nhiệm cho lỗi lầm của anh là vì chủ anh chứ không phải do anh lười biếng. Rõ ràng một đầy tớ không biết ý chủ, lấy ý mình làm ý chủ, lười biếng, không làm gì trong suốt thời gian dài, là một đầy tớ vô dụng, hết xài. Và anh không những phải bị sa thải ngay lập tức mà còn bị trừng phạt nghiêm khắc.

10.           Hãy ném tên đầy tớ vô dụng ra bên ngoài vào trong nơi tối tăm.” Trái ngược với số phận dành cho những đầy tớ tài giỏi và trung thành: được mời vào bên trong niềm vui của chủ, những đầy tớ biếng nhác, xấu xa và vô dụng bị quăng ra bên ngoài vào nơi tối tăm. Như đã nói trên, có người bên trong thì sẽ có kẻ bên ngoài. Đó là cấu trúc của dụ ngôn của Matthew. Có năm cô trinh nữ khôn ngoai thì có năm cô khờ dại. Những người vào bên trong thì được mời “hãy vào”, những người ra bên ngoài thì bị “quăng”. Quăng, ném là động từ dành cho một sự vật chứ không dành cho một con người. Quăng, ném giả định một sự túm lấy, trói lại rồi mới quăng đi. Anh ta vô dụng nên bị quăng đi như một đồ vật phế thải. Những người tài giỏi và trung thành thì đi vào niềm vui của chủ, còn tên đầy tớ vô dụng thì đi vào nơi tối tăm. “vào nơi tối tăm bên ngoài” diễn tả sự phán xét chung cuộc.[5] Hình phạt của tên đầy tớ vô dụng còn được diễn tả một cách chi tiết rùng rợn hơn: khóc lóc và nghiến răng hoài hoài. Bản dịch Việt Ngữ (CGKPV) là: “ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng”. Cách dịch này diễn tả hành động nhưng không gột tả hết được ý nghĩa của bản văn. Bản văn gốc không dùng động từ khóc lóc và nghiến răng mà dùng hẳn động từ eimi (là) cùng với hai danh từ với mạo từ xác định: kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng. Anh ta sẽ là kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng. Từ nay anh ta được gọi là “kẻ khóc lóc” và “kẻ nghiến răng”. Cùng lúc anh ta làm hai hành động và không phải một lúc nhưng suốt đời. Nó bao trùm cả số phận, tình trạng, cho suốt phần đời còn lại của anh. Cũng như thế, những đầy tới chung vui với chủ là vui suốt cả phần đời còn lại của họ. Đó là cách thức diễn tả một tình trạng chung cuộc của thời cánh chung. Lối diễn tả hình phạt khóc lóc và nghiến rằng được Matthew sử dụng nhiều lần khác. Trong Mt 8,12 Chúa Giê-su cảnh báo rằng thiên hạ sẽ từ đông tây đến dự tiệc với Abraham, Isaac và Gia-cóp trong Nước Trời, còn con cái vương quốc thì bị quăng ra ngoài nơi tối tăm và sẽ trở thành kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng.

11.           “Người đã có thì sẽ được cho thêm và sẽ có dư tràn, còn kẻ không có thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi.” Đây là câu giải thích cho bối cảnh cụ thể, khi người đã có mười talanton đã được cho thêm một talanton nữa. Điều này là hiện thực hóa lời hứa của ông chủ ở 25,21 dành cho người đầy tớ tài giỏi và trung thành vì anh đã trung thành trên số ít được giao. Cũng lý giải cho việc người đầy tớ biếng nhác có ít nhất (chỉ có một đồng), thì đã bị lấy đi. Tiếng Việt rất lợi thế trong việc truyền tải hai động từ bị động trong câu này. Trong khi động từ cho thêm được dịch ở thể bị động là “được cho thêm” với một ý nghĩa tích cực, động từ lấy đi, tước đi ở thể bị động được dịch là “bị lấy mất” với ngụ ý rất tiêu cực. Cách dịch này trong Tiêng Anh, Tiếng Ý hay Tiếng Pháp, không hề thấy rõ. Thể bị động trong các động từ này được gọi là bị động thần linh. Có nghĩa là Chúa chính là tác nhân của các hành động này. Chúa sẽ “ban thêm” cho kẻ đã có nhiều và Chúa sẽ “lấy đi” cái đang có của kẻ có ít. Đó cũng là hình phạt dành cho những kẻ làm gương mù, gương xấu và phá luật (Mt 13,12), rồi hình phạt dành cho kẻ đầy tớ xấu xa, chè chén say sưa đánh đập tôi trai tớ gái (Mt 24,51). Luca cũng nói đến cùng hình phạt dành cho quân làm điều bất chính (Lc 13,28).

 

Bình luận

Dụ ngôn những talanton nằm trong loạt ba dụ ngôn nói về thời cánh chung của Matthew: dụ ngôn hai đầy tớ Mt 24,45-51; dụ ngôn mười người trinh nữ đi đón chàng rể Mt 25,1-13; và dụ ngôn những talanton Mt 25, 14-30. Dụ ngôn những talanton của Matthew có cấu kết chặt chẽ và mạch lạc hơn dụ ngôn có cùng chủ đề của Lc 19,11-27. Ta có thể chia dụ ngôn thành 3 phần. (1) Ông chủ đi xa và trao talanton (Mt 25,14-15); (2) hành động của ba người đầy tớ (25,16-18); (3) báo cáo của ba đầy tớ, phần thưởng và hình phạt (25,19-30). Ông chủ đi xa diễn tả một khoảng thời gian vắng bóng của ông chủ, đồng nghĩa với việc ông trao lại cho các đầy tớ không gian và thời gian tự do thể hiện trách nhiệm của mình. Và khoảng thời gian ông chủ đi vắng được diễn tả là rất lâu. Các đầy tớ được giả định có đủ thời gian phát huy tài năng của mình. Hơn thế nữa, ông còn trao cho họ những talanton phù hợp theo khả năng của mình. Ông biết rõ khả năng từng người và trao đúng số lượng cần thiết, không hơn không kém. Người tôi tớ khôn ngoan, nhiệt thành và trách nhiệm sẽ tận dụng thời gian ngay lập tức, nhanh nhất có thể để đầu tư sinh lời. Quả thật, hai đầy tớ đầu tiên đã làm như thế và đã làm rất hiệu quả. Mỗi người đều sinh lời được gấp đôi. Còn người đầy tớ thứ ba thì lười biếng, lừng khừng, không muốn đầu tư, không muốn làm việc. Anh ta đã chôn dấu talanton của chủ và dự định sẵn một phương án để đối phó với ông chủ. Mọi chuyện xảy ra đúng như logic của nó. Những người nhiệt tâm và siêng năng đã được ông chủ khen thưởng như những đầy tớ tài năng và trung thành. Ngoài những mỹ từ ca tụng đức hạnh này, ông chủ còn hứa là sẽ trao thêm vốn liếng và cơ hội cho những đầy tớ này nữa. Bằng chứng cụ thể là ông đã trao thêm cho người có mười talanton một nén nữa. Hơn nữa họ còn được mời gọi cách long trọng là “vào niềm vui của chủ anh”. Đó là một phần thưởng được đồng bàn, được chia sẻ được đồng hưởng niềm vui và sự sung túc của chủ. Người tôi tớ thiếu nhiệt thành, lừng khừng bị mắng nhiếc bằng những từ thậm tệ: xấu xa và biếng nhác. Anh bị tước lấy talenton mà anh đang có, bị công bố là kẻ vô dụng, hết xài. Ngoài ra, anh còn bị tống ra ngoài nơi tối tăm. Hơn nữa, anh phải trở thành người khóc lóc và nghiến răng trọn kiếp. Đức Giê-su sẽ trở lại trong ngày tận thế. Khoảng thời gian trước khi Ngài trở lại được ví như khoảng thời gian ông chủ vắng bóng, đi xa. Ngài trao cho mỗi tín hữu thời gian và cơ hội để họ hoàn thiện đời mình. Cái mà Thiên Chúa trao cho mỗi người tín hữu, những talanton mà người trao gửi vào tay từng người là chính sự sống, sự hiện hữu của người. Ngài trao cho họ hình ảnh của Ngài, hơi thở của Ngài, cùng với những ân sủng cần thiết để con người có thể trở nên hoàn thiện như chính chính Chúa là Đấng hoàn thiện. Lời mời gọi nên hoàn thiện phải luôn được thể hiện ngay lập tức, gấp rút và từng phút giây. Mỗi người không những phải tự sửa đổi nhưng thói hư tật xấu nơi mình mà còn phải hướng đến kẻ khác với con tim yêu thương, thể hiện bằng những hành động tử tế đối với đồng loại, đặc biệt là với những người yếu đuối, nghèo hèn. Sự hoàn thiện bản thân của con người còn phải được thể hiện qua thái độ sống trách nhiệm với vũ trụ, với thế giới, với tài nguyên thiên nhiên và môi trường mà Thiên Chúa, tạo hóa đã ban tặng và trao cho mỗi người trách nhiệm trông nom giữ gìn ngay từ khởi thủy. Lời mời gọi hãy nên hoàn hảo như cha anh em trên trời là đấng hoàn hảo được thánh Matthew đặt vào cuối chương 5 (5,48). Đây là chương đầu tiên của Bài Giảng Trện Núi (Mt 5 – 7). Và chương 5 được khởi đầu bằng tám mối phúc thật, trong đó những lời chúc phúc được đảo ngược dành cho những kẻ khó nghèo về tinh thần; những người hiền lành; những người sầu khổ; những người khao khát sống cuộc đời công chính; những người thương xót người khác; những người có tâm hồn trong sạch;  những người xây dựng hòa bình; những người bị bách hại vì lẽ công chính. Và lời mời gọi khó khăn nhất cuối chương 5, cũng là điều kiện để mỗi tín hữu chứng tỏ mình là con của Cha trên trời, là “hãy yêu mến kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ anh em” (Mt 5,44-45). Đời người được ví như thời gian ông chủ đi xa, như Thiên Chúa vắng bóng. Ngài nhường lại không gian, thời gian và trao cho mỗi người những tài năng theo đúng khả năng của mỗi người. Thời điểm ông chủ trở về, lúc Chúa đến, là giờ chết của mỗi người, hay là ngày tận thế. Sự phán xét vào lúc ấy là chung cục không thể thay đổi gì nữa. Người được mời gọi vào hưởng niềm vui của chủ và kẻ bị quăng ra ngoài nơi tối tăm và trở thành kẻ khóc lóc và nghiến răng. Tất cả ranh giới này là vĩnh viễn. Phụng vụ Lời Chúa vào cuối năm phụng vụ mời gọi mỗi người rà soát lại túi của mình xem mình đã sinh lời được những gì và đánh mất những gì và cần phải làm thêm gì nữa để hoàn thiện mỗi ngày. Chắc chắn rằng, lời mời gọi này, Chúa Giê-su đã mời gọi hơn 2000 năm và còn mời gọi, nhắc nhở chúng ta mỗi ngày chứ không chỉ là cuối năm phụng vụ. Vấn đề là các tín hữu của Ngài có để tâm và nhiệt tâm hay không mà thôi.

Joseph Phạm Duy Thạch SVD

 



[1] Mna (μνᾶ, μνᾶς) là một đơn vị tiền tệ trong tiếng Hy Lạp. Theo Friberg, nó có giá trị tương đương 60 drachmas, hay là 1/60 talenton. Trong Ước, nó có giá trị tương đương với 100 shekels. Danker còn nói thêm là nó có thể mua được 20-100 con bò tùy theo thời giá.

[2] Khác với Luca, Matthew dùng đơn vị talenton (τάλαντον). Theo Friberg thì một talenton có giá trị cân nằng bằng 26-28 kilogram hay tương đương với 3000 shekels Do thái. 5 talenton xap xi 30, 000 đồng Rô-ma. 2 talenton, xấp xỉ 12,000 đồng Rô-ma.

[3] D. J. Harington, The Gospel of Matthew (SP 1; Collegeville 1991) 352.

[4] ὀκνηρός tính từ này thường được dịch là lười biếng nhưng nó cũng có một nghĩa khác đó là chần chừ, do dự, ngại, sợ. Cách hiểu này xem ra hợp lý hơn theo cách ngụy biện của tên đầy tớ này. Nhưng nó lại không đúng với sự thật là anh ta biếng nhác.

[5] D. J. Harington, The Gospel of Matthew (SP 1; Collegeville 1991) 353.

Saturday, 7 November 2020

DỤ NGÔN MƯỜI TRINH NỮ ĐI ĐÓN CHÀNG RỂ , THIÊN ĐÀNG HỎA NGỤC HAI BÊN











 Bối cảnh: là một tiệc cưới. Nó diễn tả một niềm vui cho tất cả mọi người. Không ai phải buồn. Ống kính được chỉa vào một nhóm 10 cô trinh nữ trong đêm hôm ấy. Họ có bổn phận phải đón chàng rể và tháp tùng chàng vào phòng tiệc cưới và chung vui với chành rể. Muốn làm được nhiệm vụ ấy và hưởng được niềm vui của chú rể cách trọn vẹn họ phải có sự khôn ngoan, chuẩn bị một cách chu đáo. Dụng cụ quan trọng nhất trong cuộc đón rước này là những chiếc đèn. Và đèn chỉ có tác dụng khi nó cháy sáng. Đèn muốn cháy sáng thì phải có dầu. Đời vốn không như giấc mơ. Chàng rể đến đúng giờ thì tốt rồi nhưng khổ nỗi chàng rễ có lúc đến trễ. Các trinh nữ tháp tùng không có quyền hỏi là, sao chàng rể đến trể vậy?. Điều họ có thể làm là trang bị cho mình đầy đủ nhất có thể thì dù cho chàng rể có đến trễ thì họ cũng có thể sẵn sàng. Họ có thể ngủ nhưng đèn thì phải luôn cháy sáng.

Những điểm chú giải:

1.   Động từ diễn tả sự cảnh báo cao độ: hãy canh chừng, coi chừng (gregoreo Mt 24,42-43; 25,13; 26,38.41 trong vườn cây dầu). Chúng ta gặp thấy động từ này trong Mt 24,42-43. Trong Mt 24,42 Chúa Giê-su cảnh báo là hãy coi chừng vì anh em không biết Chúa của anh em đến ngày nào. Đây cũng là động từ được Chúa Giêsu dùng để cảnh báo các môn đệ trong vườn cây dầu (Mt 26,38.41). Họ đã không nghe lời cảnh báo của Chúa Giêsu. Họ ngủ li bì trong giờ khắc quyết định, khi Đức Giêsu phải cầu nguyện, lo lắng đến đổ mồ hôi máu. Dĩ nhiên, đây không chỉ nói về giấc ngủ về thể lý nhưng là giấc ngủ về phương diện thiêng liêng. Họ thiếu sự cầu nguyện, niềm tin, lòng can đảm, tín thác và trung thành với Chúa. Và rõ ràng cuối cùng họ đã sa ngã. Họ chạy tán loạn, mỗi người mỗi ngã, mảnh ai nấy chạy bỏ lại thầy bơ vơ một mình.

2.   Tính từ khôn ngoan (phronimos Mt 24,45;25,2.4.8.9). Matthew dùng tính từ này nhiều hơn bất kỳ tác giả sách Tân Ước nào. Matthew dùng đến 7 lần trong khi Luca dùng có 2 lần (Lc 12,42; 16,8) và cả Máccô và Gioan đều không dùng lần nào. Nó được dùng 5 lần trong các thư của thánh Phaolô (Rm 11:25; 12,26; 1 Cr 4,10; 10,15; 2Cr 11,19). Tính từ khôn ngoan được dùng đến 4 lần trong dụ ngôn này. Lần đầu tiên nó đi kèm với danh từ số năm (năm người khôn ngoan), 3 lần sau được dùng như là những danh từ với mạo từ xác định chỉ những kẻ khôn ngoan (những trinh nữa khôn ngoan). Ngoài dụ ngôn này, Matthew còn dùng tính từ này 3 lần khác nữa. (1) Mt 7:24 so sánh một người nghe lời Chúa Giêsu và đem ra thực hành với một người khôn ngoan xây nhà trên đá. Nhờ vậy, ngôi nhà được chắc chắn dù cho mưa, gió, lũ cũng không thể giật sập được. Sự khôn ngoan của người biết nghe và thực hành Tin Mừng của Chúa. (2) Trong Mt 10,16 Chúa Giêsu dạy các môn đệ là Ngài sai các môn đệ như chiên đi vào giữa bầy sói, cho nên các ông phải “khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu”. Đó là sự khôn ngoan để phản ứng, cư xử trước những kẻ bắt bớ.  (3) Mt 14:45 nói đến hai hình ảnh của hai người đầy tớ và số phận của họ. Một người thì khôn ngoan và trung tín. Anh ta sẽ được ông chủ đặt lên coi sóc mọi việc, mọi gia nhân trong nhà. Người kia thì xấu xa và sẽ bị ông chủ phanh thây, quăng vào chung với những kẻ giả hình. Ở đó anh ta phải khóc lóc và nghiến răng. Tính từ khôn ngoan rõ ràng là tính từ có tính quyết định trong dụ ngôn này. Sự khôn ngoan của các trinh nữ ở đây được cụ thể hóa bằng việcchuẩn bị thêm một bình dầu. Người việt nam hay gọi là sơ-cua. Một bình dầu sơ-cua. Người khôn ngoan và cẩn thận luôn luôn dự trù mọi phương án xấu nhất có thể và chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ. Thế giới hiện đại, pin dự phòng là một trong những phương tiện không thể thiếu trong những chuyến đi xa. Sự khôn ngoan, chuẩn bị giúp cho đương sự không phải bị động, lúng túng và nhiều khi bế tắc trong nhiều tình huống. Tình huống lúng túng, bị động, phụ thuộc vào người khác của các cô trinh nữ khờ dại trong dụ ngôn này là một ví dụ điển hình. Người ta có thể vay mượn từ người khác, hoặc xin xỏ từ người khác, nhưng người khác không bị bắt buộc phải giúp bất cứ ai hỏi xin mình. Đó là quyền tự do riêng tư của họ. Trong trường hợp này những trinh nữ khôn ngoan đã trả lời là “không đủ cho cả các chị và cả chúng em”. Dĩ nhiên rồi, người ta chỉ chuẩn bị đủ cho người ta thôi, đâu có ai dự tính đến là những người khác sẽ thiếu và chuẩn bị cả cho người khác. Những cô trinh nữ khờ dại trở nên lúng túng bị động vì họ đã không chuẩn bị. Họ có thể đi mua, và thực tế họ đã đi mua, và mua được dầu nhưng có mua được cũng không có tác dụng gì nữa. Chàng rể đã vào phòng tiệc cưới và cửa đã đóng lại. Nhiệm vụ đi đón chàng rể của họ đã thất bại thảm hại. Họ phải đón chàng rể chứ không phải chàng rể đón họ. Chàng rể vào rồi thì còn cầm đèn để đón ai nữa. Trong cuộc đời, nhiều người thường hay lâm vào tình trạng bị động như thế và những điệp khúc “giá như” chuẩn bị trước, “phải chi” biết trước… cứ lặp lại cách tiếc nuối mà chẳng có tác cụng gì.

3.   Tính từ khờ dại, ngu ngốc (moros). Tính từ này được thánh Matthew sử dụng ít hơn (6 lần) so với tính từ khôn ngoan (7 lần). Ngoài 3 lần trong dụ ngôn này (ít hơn khôn ngoan 1 lần), Matthew cũng sử dụng tính từ này thêm 3 lần nữa. Trong Mt 5,22 “sự ngu ngốc” được xem như là hình thức chống lại người khác ở mức độ nghiêm trọng nhất (Chúa Giêsu liệt kê theo thứ tự 1. Ai giận anh em mình… 2. Ai mắng chửi anh em mình… 3. Ai nói (với anh em mình) là “đồ ngốc”). Hình phạt dành cho kẻ mắng anh em mình là “đồ ngốc” cũng là  hình phạt cao nhất: “đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” trong khi hình phạt dành cho hai sự xúc phạm đầu tiên lần lượt chỉ là: “đáng bị xét xử” và “đáng bị đưa ra tòa”. Trong Mt 7,26 đối lại với những người nghe lời Chúa Giêsu và đem ra thực hành - những người được ví như người khôn xây nhà trên đá - những kẻ nghe lời Chúa Giêsu nhưng không đem ra thực hành thì được ví như người ngu dại xây nhà trên cát. Nhà của họ sẽ bị sụp đổ tan tành trước những trận mưa, lũ và gió bão. Trong Mt 23,17 Chúa Giêsu dùng tính từ này cùng với tính từ mù quáng để lên án những kinh sư và người pha-ri-sêu, là những là những kẻ dẫn đường mù quáng, vì họ cho rằng người ta có thể thề bằng đền thờ mà không bị trói buộc, trong khi thờ bằng vàng trong đền thờ thì bị trói buộc. Chúa Giêsu cho rằng vàng trong đền thờ thì không quan trọng bằng đền thờ là nơi làm cho vàng được thánh hiến. Như thế, ngu ngốc là một đặc tính đáng nguyền rủa và không thể chấp nhận được theo giáo huấn của Chúa Giê-su.

4.   Tính từ sẵn sàng (hetoimos 24,44; 25,10). Đây là một tính từ đặc trưng của Tin Mừng Matthew. Tính từ này có nghĩa là được chuẩn bị, hay là sẵn sàng. Trong bối cảnh này nó được dùng như danh từ có mạo từ xác định: những kẻ đã chuẩn bị, những kẻ đã sẵn sàng, theo chàng rể vào tiệc cưới. Tính từ này xuất hiện 3 lần khác nữa trong Tin Mừng Matthew. Trong một dụ ngôn về Nước Trời cũng liên quan đến tiệc cưới (22, 4.8), tiệc cưới, cỗ bàn được ông chủ thông báo với thực khách là đã “được chuẩn bị”, “đã sẵn sàng”. Nhưng nhiều thực khách đã không sẵn lòng đến dự. Mt 24,44 là một lời mời gọi mang tính cảnh báo “hảy sẵn sàng” vì Con Người sẽ đến vào ngày và giờ chúng ta không ngờ.

5.   Động từ trì hoãn (chronizo) được dùng hai lần trong Tin Mừng Matthew (Mt 24,48; 25,5). Mt 24,48 nói đến việc người đầy tớ có suy nghĩ rằng chủ anh ta trì hoãn, chưa đến, nên anh ta cứ mặc sức đánh đập các đầy tớ đồng môn và ăn uống xay xỉn. Chàng rể trong dụ ngôn này cũng trì hoãn, không đến đúng giờ nên các trinh nữ mệt và ngủ thiếp đi. Hành động trì hoãn  này có hai tác dụng: (1) Tính bất ngờ và (2) cơ hội để kiểm chứng sự tốt xấu của các đầy tớ (hay là các trinh nữ trong dụ ngôn này) qua sự chuẩn bị chu đáo và sẵn sàng của họ. Động từ này rất quen thuộc với những ai di chuyển bằng tàu hay máy bay trong thời hiện đại. “delay” (trì hoãn) là điều chẳng ai muốn nhưng hành khách chẳng thể làm được gì ngoài việc sẵn sàng và chờ đợi. Sự bất ngờ thể hiện rõ trong lời căn dặn rằng không ai biết ngày hoặc giờ (Mt 24,36.42.44.50; 25,13). Đây cũng là ý tưởng rất đặc trưng của Tin Mừng Matthew. Trong Tin Mừng Matthew, Chúa Giêsu căn dặn đến năm lần sự bất ngờ này. Nói theo kiểu người Việt là “năm lần bảy lượt” Chúa Giêsu nói đến sự bất ngờ này. Như vậy, nó rất quan trọng, buộc những người đọc Tin Mừng Chúa phải quan tâm lưu ý nằm lòng, nếu không hậu quả sẽ khó lường.

6.   Kiểu mẫu hai nhóm người: Trong Tin Mừng Mattheu người ta thường thấy kiểu kể chuyện đặt song hành hai nhóm người. Nhóm này khôn – nhóm kia dại, nhóm này sẵn sàng – nhóm kia không, nhóm này vào – nhóm kia ở ngoài, nhóm này bị chối từ – nhóm kia được đón nhận, nhóm này chung vui – nhóm kia buồn bã, thất vọng. Mt 7,13-20 cũng nói đến hai nhóm: nhóm này chọn cửa rộng – nhóm kia chọn cửa hẹp; dẫn đến nhóm này được cứu và nhóm kia bị diệt vọng; một nhóm cây tốt sinh quả tốt và nhóm cây xấu sinh quả sâu. Đặc biệt Mt 7,24-27 nói đến việc một nhóm người nghe và thực hành lời Chúa, được ví như người khôn xây nhà trên đá và dù cho mưa, lũ, gió cũng không làm sập được; nhóm khác nghe lời Chúa Giê-su mà không thực hành thì giống như người ngu xây nhà trên cát, khi mưa, lũ, gió đến nó sẽ sụp đổ tan tành. Mt 24,45-51 nói đến hai đầy tớ, một đầy tớ trung thành và khôn ngoan người sẽ được ông chủ đặt lên coi sóc mọi việc trong nhà và một đầy tớ xấu, sẽ bị ông chủ phanh thây, quẳng vào với những tên giả hình và nơi đó anh ta phải khóc lóc nghiến răng. Mt 24,40-41 nhấn mạnh đến việc một người bị đem đi còn người kia bị bỏ lại. Cấu trúc diễn ta hai nhóm người rất phổ biến trong Tin Mừng Matthew và nó diễn tả một cách sống động giữa hai sự chọn lựa và dẫn đến hai kết quả trái ngược nhau.

7.   Ghi chú về văn hóa: Tục rước đón dâu của miền Trung Cận Đông cổ đại có thế có hai dạng. Thứ nhất, chàng rể có thể ở tại nhà cha mình trong khi cô dâu được hộ tống bởi một đoàn tùy tùng đến nhà chú rể và chú rể chỉ việc rước cô dâu vào tiệc cưới nhà chú rể. Thứ hai, chú rể có thể cùng đoàn tùy tùng đến rước cô dâu từ nhà cha mẹ cô dâu đến nhà cha mẹ chú rể. Trong thời hiện đại, tiệc cưới được tổ chức chung một nhà hàng đặt sẵn, các đôi hôn nhân công giáo thường di chuyển từ thánh đường đến nhà hàng và phần rước dâu dường như không tồn tại. Trong dụ ngôn này có thể là trường hợp thứ hai.Đám cưới có thể được tổ chức ở nhà cô dâu, và chàng rể cùng nhà trai đến nhà cha mẹ cô dâu. Những cô trinh nữ sẽ được nhà gái chuẩn bị để đón chàng rể quý này vào phòng tiệc. Trong dụ ngôn này, tuy cô dâu không được nhắc đến, nhưng ta không thể tưởng tượng được một đám cưới thiếu cô dâu. Những trinh nữ chờ đợi được hiểu là đón chàng rể cùng với cô dâu chứ không phải một mình chàng rể. Đó là những vai phụ không thể thiếu được để tăng thêm niềm vui và long trọng trong ngày tân hôn của chú rể. Trong các tiệc cưới hiện đại, đoàn bưng quả cho chú rể thường được tuyển chọn rất kỹ lưỡng với những trai tân, gái trinh có ngoại hình và có chiều cao đều nhau theo cặp. Đó có thể được xem như là các trinh nữ trong truyền thống cổ xưa. Chỉ khác là tất cả đều được làm ban ngày nên họ không cần đèn. Thế nhưng, họ cũng phải chờ đợi chàng rể y chang như thế, nếu chàng rể không đến kịp giờ họ cũng phải chờ, đến khi nào hoàn thành nhiệm vụ thì thôi.

Luận giải: Dụ ngôn mười trinh nữ đi đón chàng rể nằm trong bối cảnh những bài giảng về thời cánh chung (thời cuối cùng) của Tin Mừng Matthew (ch.24 – 25). Đây là một trong những dụ ngôn chỉ có trong Tin Mừng Matthew mà thôi.[1] Có nhiều nhà chú giải cho rằng dụ ngôn theo nguyên gốc có thể nói về Tiệc Cưới Nước Trời trong đó Chúa Giê-su là chàng rể, chính là Thiên Chúa đến viếng thăm dân Người và mời gọi họ vào tiệc vui với Ngài. Đối tượng người nghe lúc Chúa Giêsu giảng dạy có thể là những người đồng hương Do Thái. Đó cũng là một khả thi. Tuy nhiên, theo cách bố trí của Tin Mừng Matthew (dụ ngôn năm trong chương 24-25: bài giảng về thời cánh chung) thì dụ ngôn này rất có thể là nói về thời cánh chung, thời Chúa Giêsu đến lần thứ hai để phán xét và ban thưởng luận phạt những người có công và kẻ có tội. Và đối tượng mà dụ ngôn nhắm đến là tất cả mọi người tin trên toàn thế giới qua mọi thời đại. Dụ ngôn phân rõ ranh giới giữa hai nhóm trinh nữ có cùng nhiệm vụ và cùng vị trí thế nhưng sự chu đáo, sự khôn ngoan thì quá sức khác biệt. Năm người khôn ngoan thì biết chuẩn bị cho mình phương án dự phòng để họ có thể xoay sở trong tình huống khó khăn. Ngược lại, năm người khờ dại thì rõ ràng thiếu sự tiên liệu và không lo lắng cho đủ. Và hậu quả là như ông bà ta thường nói: “Người không biết lo xa, ắt sẽ buồn gần”. Kết quả đã cho thấy những người có phương án dự phòng cách khôn ngoan thì luôn có khả năng thành công trong mọi việc. Còn kẻ thiếu khôn ngoan, không biết lo lắng thì nguy cơ thất bại luôn rình chờ. Trong đời, có những may mắn thế nhưng không có nhiều và không phải lúc nào cũng gặp may được. Người khôn ngoan thì tự tạo ra sự chắc chắn cho mình chứ không phải cứ trông vào may mắn hay cậy dựa vào người khác. Trên đường đời luôn có những người tốt, thế nhưng, không phải lúc nào gặp khó khăn thì cũng có người tốt để cậy nhờ. Sự từ chối của những cô khôn ngoan không hẳn là sự ích kỷ, nhưng là không đủ cho cả hai, dầu của họ chỉ đủ dùng cho nhiệm vụ của họ. Dầu dùng cho ngày cánh chung được tích góp, chuẩn bị bằng cả cuộc đời của mỗi tín hữu chứ không phải là mua, hay xin xỏ trong chốc lát. Quả thế, những hành động yêu thương, bác ái; những cử chỉ thân thiện, tử tế với bạn hữu; những hy sinh của bản thân; những gọt dũa cho giống hình ảnh Thiên Chúa… tất cả những hoa trái ấy (dầu đèn của đức tin) mỗi cá nhân tự sinh ra mỗi người trong cuộc đời họ, không thể vay mượn của ai được. 

Sự xuất hiện cách bất ngờ của chàng rể đã làm cho các trinh nữ giật mình. Và dẫu vậy thì những kẻ đã có sự chuẩn bị chu đáo vẫn có thể trở tay kịp. Còn những kẻ thiếu sự tiên liệu thì trở tay không kịp. Lời cảnh báo của Chúa Giêsu “hãy coi chừng” cùng với lý do là “không biết giờ nào, ngày nào”, được lặp đi lặp lại nhiều lần cho thấy tầm quan trọng của nó đối với đời người. Đó không đơn giản chỉ là bài học cho sự thành công của những công việc đời thường. Nhưng là, chọn lựa sống còn của con người cả đời này và đời sau nữa. Chàng rể là Chúa Giêsu đến lần cuối và những ai được vào tiệc cưới với Ngài là vào vĩnh viễn, còn những ai bị đứng ngoài là đứng ngoài thiên thu vạn đại. Tất cả đều phụ thuộc vào chọn lựa và sống mỗi ngày của chúng ta. Việc vào nước trời không phải là một chọn lựa nhất thời. Như kiểu các trinh nữ khờ dại, thấy chàng rể đến thì mới lật đật đi mua dầu. Đó là thái độ của những kẻ toan tính nhất thời. Đời sống ki-tô hữu phải là những chọn lựa và chiến đấu liên lỷ, không phải là một toan tính vào giờ chót của cuộc đời mình. Dĩ nhiên, Chúa ban ơn cứu độ cho nhiều người vào giờ chót như kẻ trộm lành chẳng hạn. Tuy nhiên, đó là giây phút gặp gỡ và quay về thật sự, chứ không phải anh ta toan tính rằng cả đời mình cứ làm ác, sống thoải mái, phạm đủ thứ tội đi rồi đến gần cuối đời quay trở về là vừa. Đó là toan tính của những kẻ bất chính và những người khờ dại. Vì Chúa đến bất ngờ, chẳng có ai làm chủ được mạng sống của mình và quyết định được giờ chết của mình. Những trinh nữ khôn ngoan chuẩn bị mọi sự chu đáo để làm tròn sứ mạng đón rước chàng rể và được phần thưởng là chung vui với chàng rể. Những người tín hữu phải có sự chuẩn bị hơn thế nữa bởi lẽ người họ chờ đón không chỉ là chàng rể của một buổi tiệc cưới nhưng là người cha yêu thương của họ. Phần thưởng của họ không chỉ là một buổi tiệc cưới với những món ăn ngon và niềm vui trong một đêm, nhưng là niềm vui, sự hạnh phúc viên mãn đến tròn kiếp sau. Người ki-tô hữu khôn ngoan, luôn sống đẹp tình Chúa tình người, cư xử tử tế và đúng mực trong mọi việc với mọi người thì không cần quan tâm ngày giờ nào Chúa đến, vì thực tế Chúa đang ở trong tâm và trong từng hành động của họ rồi.

Joseph Pham Duy Thạch SVD



[1] Những dụ ngôn còn lại chỉ có trong Matthew mà thôi là: dụ ngôn cỏ lùng (13,24-30.36-43); dụ ngôn kho tàng và ngọc quý (13,44.52); dụ ngôn người tôi tớ không biết tha thứ (18,23-35), dụ ngôn những người nông dân làm vườn nho (20,1-16); dụ ngôn hai người con (21, 28-32) và dụ ngôn sự phán xét của các quốc gia (25,31-46).