Thursday, 29 October 2020

TÂM SỰ ANH MÙ BARTIMÊ

Tôi là Bartimê. Thật ra đó không phải là tên của tôi. Tôi có một tên khác, nhưng không một ai biết đến. Bartimê chỉ có nghĩa là con ông Timê. Họ không biết tên tôi. Có ai đó đã nói rằng tôi là con của ông Timê. Thế là từ đó, mọi người gọi tôi là “con ông Timê”. Tên ấy

nghe còn tạm được. Có nhiều người chỉ gọi tôi là “người mù”, “gã mù” (Lc 18,35). Họ gọi tôi bằng chính tật nguyền tôi đang mang. Thế đấy, hình như trong xã hội này, tôi, “gã mù ăn xin”, không hề có một danh phận, không có giấy tờ tùy thân, không có một tên gọi như bao nhiêu người khác.

Ngày ngày tôi ngồi bên vệ đường thành Giêrikhô. Thành Giêrikhô là một thành khá giả, thế mà tôi chẳng có gì cả. Tôi chỉ ngồi bên vệ đường dọc theo cổng thành Giêrikhô. Đó là chỗ ngồi dành cho những con người không có danh phận. Đó là nơi chốn chỉ dành cho những người bị đẩy ra ngoài lề xã hội như tôi. Tôi ngồi đó. Ngồi vì không còn sức để đứng nữa. Ngồi đó cũng biểu lộ một sự thiếu chỗ đứng giữa xã hội phồn hoa ồn ào náo nhiệt này.

Tôi nào thích ngồi đó đâu. Nhưng tôi là kẻ mù lòa, biết làm gì bây giờ, đành ngồi đó ngày qua ngày. Ngồi bên vệ đường để ăn xin lòng thương xót của người qua kẻ lại. Tôi ngồi đó để lượm lặt chút tiền dư bạc thừa của người qua kẻ lại để nuôi sống bản thân mình.

Tôi mù lòa. Đôi mắt của tôi chẳng nhìn thấy gì cả. May mắn là Chúa còn ban cho tôi đôi tai rất thính. Hằng ngày, tôi nghe không biết bao nhiêu chuyện của người qua kẻ lại. Nghe chứ không được quyền nói. Có ai thèm nghe tôi đâu mà nói. Mù biết gì mà lên tiếng. Ăn xin, sống nhờ tình thương của thiên hạ thì nói ai nghe.

Một trong những thông tin tôi nghe được có khả năng làm thay đổi cuộc đời tôi. Đó là thông tin về một Đức Giêsu xuất thân từ Nagiarét. Người đến để “công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4,18).

Kể từ ngày nghe tin đó, lòng tôi bừng sáng một niềm hy vọng được gặp Người, được nghe Tin Mừng làm cho tôi sáng mắt từ Người. Tôi háo hức đợi chờ người đi qua cuộc đời tôi. Người ta nói rằng: 3 điều làm nên hạnh ph1uc một đời người là: có một người để yêu; có


một công việc để làm; và có một hy vọng để nuôi. Vậy là tôi đã có 2 điều rồi, một cái hành khất, dẫu chỉ là một nghể èo uột nhưng cũng lương thiện đủ; và một niềm hy vọng được sáng mắt. Chính vì thế mà kể từ ngày ấy, tôi cảm thấy cuộc đời đáng sống, bởi tôi đã có một niềm hy vọng, một tương lai phía trước. Kể từ ấy, việc ăn xin chỉ là chuyện phụ. Tôi đến vệ đường Giêrikhô với một mục tiêu khác: đợi chờ cuộc gặp gỡ ngàn năm có một.

Rồi thời khắc ấy cũng đến. Buổi sáng hôm ấy tôi linh cảm một điều lạ thường sẽ xảy ra và háo hức đợi chờ. Tôi nghe thấy một đám đông ồn ào hơn mọi khi tiến đến. Một ai đó đã nói cho tôi biết rằng đó là Đức Giêsu Nagiarét. Vừa nghe cái tên ấy lòng tôi liền kêu lên: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!" (Mc 10,47).

Mọi người đều ngạc nhiên, chưng hửng khi nghe một giọng nói lạ phát ra từ miệng tôi. Họ thấy lạ bởi lâu nay tôi đâu có nói gì. Có nhiều người chắc lần đầu tiên nghe tiếng của tôi. Họ thấy lạ rằng sao tôi dám lên tiếng và gọi Đức Giêsu. Và họ thấy lạ rằng sao tôi lại biết Đức Giêsu là con vua Đavít. Họ đâu biết rằng từ khi nghe kể những câu chuyện về Đức Giêsu tôi đã luôn suy gẫm trong lòng. Rồi từ những dữ liệu Thánh Kinh, tôi chợt nhận ra rằng: Đây chính là con vua Đavít, là Đấng Mêsia mà Sách thánh Cựu Ước đã tiền báo. Người chính là Đấng duy nhất có thể mang lại cho tôi niềm vui sáng mắt.

Ngay lập tức, nhiều người quát nạt, bảo tôi im đi. Đó là chuyện thường ngày mà. Tôi sống nhờ vào tình thương của người qua đường nên ai cũng có thể nạt nộ tôi như thế. Như tôi đã tâm sự. Tôi chỉ nghe chứ không có quyền nói. Người mù ăn xin không có quyền nói. Nói cũng chẳng ai thèm nghe. Ngày thường thì tôi sẽ ngoan ngoãn vâng nghe lời của họ mà yên phận thủ thường.

Thế nhưng, hôm nay tôi quyết không thể im lặng được. Bởi lẽ tôi biết rằng đây là cơ hội quý báu nhất của đời tôi và có thể là cơ hội duy nhất trong đời tôi. Tôi sợ Người sẽ đi qua và không bao giờ trở lại nữa. Vì thế, mặc cho tiếng nạt nộ “câm mồm!” của đám đông, tôi càng la to hơn nữa: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10,48).

Đó là tiếng kêu tràn đầy khao khát hy vọng. Đó cũng là một tiếng kêu đánh đổi cả chén cơm, cả mạng sống của mình. Bởi lẽ, sau tiếng kêu ấy, có thể đám đông sẽ không còn bố thí cho tôi chút tiền dư bạc thừa, cơm thừa canh cặn. Tiếng kêu ấy có thể đẩy tôi vào một tình trạng cùng khổ trăm bề, thậm chí là nguy hại đến tính mạng vì tôi đã dám cãi lời đám đông ấy.

Một tiếng kêu đơn giản như thế nhưng đối với người mù ăn xin như tôi là một sự thách thức vượt lên chính mình. Có thể nói đó là một canh bạc sống con, một vụ đầu tư được ăn cả ngã về không. Tôi hồi hộp đến hoảng hốt. Không khí ồn ào náo nhiệt trở nên ngột ngạt đối với tôi.

Bỗng tôi nghe tiếng bước chân dừng lại. Tôi nín thở chờ đợi phản ứng của Đức Giêsu. Và rồi, Đức Giêsu đã lên tiếng: “Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10,49a). Tôi thở phào nhẹ nhõm và thầm kêu lên khe khẽ, nhưng không dấu nỗi sự rung lên vì sung sướng của cơ thể mình: Yeah! Thành công rồi! Một câu nói của Người không những làm cho tôi nhẹ nhõm mà còn làm thay đổi thái độ của đám đông đối với tôi. Đám đông bắt đầu quan tâm đến tôi. Một số người còn khích lệ tôi, trấn an tôi với lời lẽ thật êm đềm: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” (Mc 10,49b).

Tôi không thể chờ đợi thêm một phút giây nào nữa. “Tôi đứng phắt dậy, vất áo choàng lại và đến với Đức Giêsu” (Mc 10,50). Một hành vì hiên ngang đầu tiên trong đời của “gã mù ăn xin” giữa đam đông hành giả. Tôi cũng không còn thiết gì chiếc áo choàng, là vật sở hữu quý giá nhất cuộc đời tôi. Đó là tấm áo choàng che mưa, che nắng, giữ ấm cho cơ thể tôi.

Đó là vật mà theo luật Môsê, không một chủ cầm cố nào có quyền giữ qua đêm: “Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, thì ngươi phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn. Nó chỉ có cái đó để đắp, để làm áo che thân; nó sẽ lấy gì mà ngủ? Nó mà kêu cứu Ta, Ta sẽ nghe nó, vì Ta vốn nhân từ” (Xh 22,25-26).

Tôi quyết định vất áo choàng lại vì tôi biết rằng Đức Giêsu có thể cho tôi những thứ quan trọng gấp ngàn lần chiếc áo choàng ấy. Người thanh niên giàu có đã “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi” (Mc 10,22) trước lời mời gọi: “hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời” (Mc 10,21). Còn tôi, tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả để đến với Đức Giêsu.

Tôi nhảy chồm trong đêm tối của mù lòa để đến cùng Đức Giêsu nhanh nhất có thể. Đó là một cú nhảy liều lĩnh của kẻ có niềm tin. Có tiếng gọi của Đức Giêsu dường như tôi quên hết mọi sợ hãi, xé tan bóng đêm đang bao phủ đời tôi để chạy đến cùng Người.

Đức Giêsu đã không làm cho tôi thất vọng. Người quan tâm đến chính nhu cầu của tôi. Người ân cần hỏi tôi: "Anh muốn tôi làm gì cho anh?". Đó là một câu hỏi tôi chưa từng được hỏi trong đời. Lần đầu tiên có một người quan tâm đến điều tôi cần. Lần đầu tiên có người hỏi ý kiến của tôi. Một cuộc đối thoại song phương giữa hai con người lần đầu tiên diễn ra với tôi. Thế ra, tôi cũng có quyền muốn gì hay sao? Tôi cũng có quyền yêu cầu điều gì hay sao? Tôi cũng có quyền trình bày nguyện vọng của mình hay sao? Tất cả đều rất lạ lẫm đối với “gã ăn xin mù lòa” này. Tôi cần thời gian để thích nghi với chuyện này.

 Nguyện vọng cả đời của tôi được trao gửi cho Đức Giêsu, niềm hy vọng duy nhất của tôi: "Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được" (Mc 10,51). Tôi cứ ngỡ rằng Người có một phương thần dược gì đó để chữa cho tôi, hay ít ra Người cũng đụng chạm vào mắt tôi. Nhưng không! Người chỉ nói cùng tôi: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!"(Mc 10,52). Đúng là như những gì người ta nói: “Họ sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì lời của Người có uy quyền” (Lc 4,32). Chỉ cần một lời nói của Người thì tức khắc, tôi liền nhìn thấy tỏ tường.

Lời nói của Người làm cho tôi suy nghĩ thật nhiều. Sao Người lại nói cùng tôi “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!". Lẽ ra, Người phải nói rằng: “Anh hãy nhìn thấy đi”, giống


như Người đã từng nói cùng người bị bệnh phong hủi: “Tôi muốn, anh sạch đi” (Mc 1,41). Tôi nghĩ rằng hẵn Người có một dụng ý nào đó dành cho tôi. Có lẽ, đó là một mệnh lệnh “hãy ra đi” mà Người dành cho tôi. Người không muốn tôi phải ngồi bên vệ đường ăn xin nữa. Người muốn tôi phải lên đường để làm chứng nhân cho Tin Mừng. Tin Mừng về điều mà ngôn sứ Isaia đã loan báo từ ngàn xưa: Đấng Mêsia đã đến. Người đã đang và sẽ “công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức”.

Người muốn cho tôi hiểu rằng Người có khả năng làm cho người mù sáng mắt, nhưng không phải tất cả những người mù đều lãnh nhận được hồng ân ấy. Điều gì làm nên sự khác biệt? Thưa! Điều làm nên sự khác biệt chính là niềm tin: “niềm tin của anh đã cứu chữa anh”. Dĩ nhiên là Chúa chữa lành. Nhưng sự chữa lành ấy chính là đáp ứng lại nguyện vọng, niềm khát khao, sự tin tưởng và tôi đã dành cho Người. Tôi đã mạnh dạn gọi tên Người giữa những tiếng cản ngăn, nạt nộ; Tôi đã sẵn sàng vứt bỏ lại tấm áo choàng, tải sản quý giá duy nhất đề đến với Người; Tôi đã mạnh dạn, can đảm lao di trong đêm tối, như người con tin tưởng nhảy ra trong đám khói mù, để lọt vào vòng tay người cha đang chờ đón, dẫu rằng nó không hề nhìn thấy cha mình.

Người cũng giúp tôi hiểu rằng, việc chữa lành đôi mắt thể lý ấy chẳng nghĩa lý gì cả nếu như tôi không gia tăng niềm tín thác vào Người và sống ơn gọi làm người như Người mong muốn.

Sau khi “nhìn thấy được” tôi đã “bước theo Người trên con đường Người đi” (Mc 10,52). Sau lời mời gọi ấy, sau dấu lạ ấy, tôi đã biết mình không có con đường nào khác ngoài con đường mà Đức Giêsu đang đi. Người cho tôi sáng mắt để tôi bước theo Người, chứ không phải để thỏa mãn những nhu cầu riêng tư của bản thân. Dẫu cho tôi biết rằng “con đường Người đi” là con đường lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết, tôi cũng quyết bước theo Người. Đó là con đường mà Người mời gọi tôi “hãy đi” và đi cho trọn. Đó cũng là con đường tốt nhất, mang lại cho tôi sự sáng mắt trọn vẹn, dẫn đến sự sống đời đời.

fR. Joseph Phạm Duy Thạch SVD.

 

Saturday, 18 July 2020

Cỏ lùng trong ruộng lúa, cỏ lùng trong đời và cỏ lùng trong lòng (Mt 13, 26-30.36-43)

 

1.       Hat giống lúa: Chúa Giê-su đã lý giải cho các môn đệ là, chính Con Người, tức là Chúa Giê-su đã gieo hạt giống. Giống Chúa Giê-su gieo chắc chắn là giống tốt. Đó là con cái Nước Trời. Con cái Nước Trời là những người tin vào Chúa, nghe lời Chúa Giê-su giảng dạy và thực hiện theo.

2.       Hạt giống cỏ lùng: cũng giống như một ruộng lúa bình thường. Người nông dân gieo vào ruộng của mình những hạt giống tốt nhất. Họ không gieo cỏ lùng. Nhưng rồi cỏ lùng tự nó mọc lên và nhiều khi còn mạnh hơn cả những cây lúa. Người nông dân không hề ngạc nhiên và đặt câu hỏi, cỏ lùng ở đâu mà ra. Họ chỉ biết rằng, muốn có thu hoạch thì phải làm cỏ, bỏ phân cho lúa. Thường thì họ phải làm cỏ đến hai lần chứ không phải một lần là đủ. Người đầy tớ trong dụ ngôn lại đặt câu hỏi về nguồn gốc của cỏ lùng một cách khác thường. Và câu hỏi là có nên nhổ cỏ lùng hay không cũng vô cùng lạ lùng. Cho nên, những chi tiết này xem như không có thật trong đời thường của một nhà nông chinh hiệu. Đối với nhà nông thì việc nhổ cỏ và bón phân cho lúa là điều không cần bàn hỏi. Nếu không làm cỏ thì làm gì có lúa mà ăn. Có những chi tiết khác biệt này là bởi vì đây là một câu chuyện về Nước Trời chứ không phải là một ruộng lúa bình thường. Trong ruộng lúa nước trời ông chủ xử lý khác thường, bởi lẽ nó không còn là câu chuyện của cỏ cây hoa lá nhưng là chuyện của những con người có lý trí, ý chí và tình yêu. Không phải là chuyện của việc thu hoạch thóc lúa nhưng là cánh chung và ơn cứu độ, quyết định số phận của con người.

3.       Cách xử lý: Cứ để cả hai cùng mọc lên. Con cái Nước Trời và con cái Ác Thần cùng lớn lên. Thật kỳ lạ! nhưng nó lý giải được thực tiễn của chuyện thế gian. Thế gian luôn có kẻ tốt người xấu lẫn lộn và nhiều khi số lượng Lý Thông lại nhiều hơn số lượng Thạch Sanh nhiều lần. Và thế gian sao lắm mụ phù thủy mà lại quá ít nàng Bạch Tuyết. Ấy là thế gian. Và nhiều lần nhiều người vẫn đến thưa với Chúa rằng: sao Chúa không vặn cổ, nhổ răng, trụng nước sôi, chiên giòn những kẻ đâm cha, giết chú, cướp bóc, ám hại dân lành. Và những ngày gân đây người ta bức xúc trước cảnh con các ác thần tấn cong, đốt nhà thờ, đốt tượng Mẹ Maria trên đất Mỹ. “người đầy tớ” sẽ hỏi rằng sao Chúa không phạt tụi nó chết nhăn răng đi. Thế nhưng, Chúa vẫn ôn tồn: “ấy ấy, chớ đụng vào chúng, cứ để cả hai cùng mọc lên”. Tại sao lại thế? Liệu lúa sẽ bật rễ lên khi người ta nhổ cỏ lùng như cách ông chủ giải thích? Liệu người tốt sẽ bị ảnh hưởng nếu Thiên Chúa diệt trừ thẳng tay kẻ xấu? Quả thực, lúa có bật rễ lên, nhưng nó không làm cho lúa chết, sau khi được bón phân, và không còn sự tranh giành của cỏ lùng, lúa sẽ hồi phục và lớn nhanh. Thế nhưng, kẻ xấu, con cái ác thần, liệu có mãi mãi luôn luôn là con cái ác thần hay không? Và liệu con cái Nước Trời, tất cả và luôn luôn là con cái Nước Trời? Con người là một mầu nhiệm. Không ai được sinh ra và định sẵn sẽ là con cái ác thần cho đến chết. Tất cả đều được Thiên Chúa sinh ra và không ai được định sẵn là sẽ thánh thiện đến cuối cuộc đời. Tất cả đều được mời gọi thay đổi và tiến bước trên hành trình đức tin luôn mãi. Lòng trung thành, sự hướng thiện, niềm tin, niềm hy vọng giúp cho người ta bước vào Nước Trời. Chúa không diệt kẻ xấu ngay bởi Chúa biết họ vẫn có thể trở thành con cái Nước Trời. Biết bao nhiêu vị thanh đã từng ung dung bước vào quê trời sau một thời gian dài chìm đắm trong tội lỗi. Và đâu là giá trị thật sự của con các Nước Trời khi họ chỉ sống trong môi trường toàn là người tốt? làm sao có được những niềm tin sắt son nếu không có thời cấm cách, bách hại? Đó là mầu nhiệm Nước Trời, cứ để cả hai cùng mọc lên. Với ý chí, lý trí, và tự do của mình con người phải phân định, chọn lựa và kiên định cho đến hơi thở sau cùng. Cứ để cả hai cùng mọc lên vừa là cơ hội cho mỗi con người vừa biểu lộ long thương xót kiên nhân trao ban cơ hội đến tận cùng của Chúa. Con cái Nước TRời được mời gọi chứng tỏ sức mạnh của mình khi cùng lớn lên bên cạnh cỏ lùng. Và họ có sứ mạng biến đổi người xấu trở thành con cái Nước Trời như Chúa Giê-su đã làm: Người thường lui tới ăn uống, thu phục những người thu thuế và những tội nhân.

Jos. Phạm Duy Thạch, SVD


Friday, 15 May 2020

CÒN YÊU THẦY KHÔNG!?


Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật 6 Phục Sinh năm A, tiếp tục lời từ biệt của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ, trước lúc Người bước vào cuộc khổ nạn. Những lời nói lúc biệt ly thầy-trò dĩ nhiên là những lời chân tình tự đáy lòng. Từng câu từng chữ của Chúa Giê-su đều rất quan trọng và thấm thía. Tất cả đều xoay quanh mối tương quan của thầy-trò.
1.     Yêu thì phải giữ điều răn; và giữ điều răn chứng tỏ là yêu (Ga 14:15.21).
Đoạn Tin mừng Ga 14:15-21 có sự khởi đầu và kết thúc nối kết với nhau một cách rất chặt chẽ. Câu đầu tiên, Chúa Giê-su nói: “Nếu anh em yêu Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (14:15) và câu cuối cùng Chúa Giê-su lặp lại: “Ai giữ có và giữ các điều răn của Thầy, kẻ ấy là người yêu Thầy” (14:21). Điều quan trọng nhất trong mối liên hệ thầy-trò giữa Chúa Giê-su và các môn đệ là tình yêu. Các môn đệ đã được Chúa Giê-su yêu thương, chọn lựa, dạy dỗ và sai đi. Nhưng đã đến lúc Chúa Giê-su “phải rời bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha” (Ga 13:1). Thánh Gioan đã bộc lộ cho chúng ta biết “Người yêu thương những kẻ thuộc về mình ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1). Bằng chứng là trong bữa ăn tối cuối cùng ấy, Người đã cởi áo khoác, lấy dây thắt lưng, quỳ xuống rửa chân cho từng môn đệ, không trừ một ai; kể cả Phê-rô, kẻ sẽ chối Người 3 lần; kể cả Giu-đa, kẻ sẽ nộp Người (Ga 13: 4-12). Người yêu thương tất cả họ và cho đến cùng.

Thursday, 9 April 2020

RỬA CHÂN CHO NHAU NGHĨA LÀ GÌ?


Tôi muốn mở đầu bài chia sẽ hôm nay bằng một hình ảnh làm chấn động thế giới trong những ngày qua. Đó là hình ảnh ngày 11.4.2019, Đức Giáo hoàng Phanxico bất ngờ cúi xuống hôn lên giầy của tổng thống, phó tổng thống, và hai vị lãnh đạo phe đối lập của quốc gia Nam Su đăng. Thông điệp mà Đức Giáo Hoàng muốn gửi cho các vị lãnh đạo này là: “tôi xin các vị là những người đã ký hiệp ước hoà giải với nhau, như những anh em, các vị hãy duy trì nền hoà bình này”. Hành động hôn chân của Đức GH không hề xa lạ bởi mỗi thứ năm tuần thánh hằng năm ĐGH vẫn có thói quen rửa chân cho các bệnh nhân hoặc cho các tù nhân không phân biệt lương giáo và hôn chân từng người. Thế nhưng việc ĐGH quỳ xuống hôn chân các vị lãnh đạo nam Su Đăng làm người ta không khỏi giật mình, vì đó không phải là nghi thức rửa chân mà là trong một buổi tiếp kiến của đời thường. Vị giáo Hoàng cho thấy khát mong, mưu cầu hạnh phúc và hoà bình của mình cho người khác lớn như thế nào. Ngài cảm thấy khuyên răn bằng lời thì không đủ. Ngài phải làm một điều gì đó để lay động lòng họ. Và ngài quỳ xuống hôn chân từng vị lãnh đạo. Phải nói là Đức Giáo hoàng đã hiện tại hoá nghi thức rửa chân của Thứ Năm Tuần Thánh, trong cuộc sống đời thường của mình.

Thursday, 12 December 2019

"Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?"


CNIIIMVA (Xp 3,14-18a; Pl 4,4-7; Lc 3,10-18)


"Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: Vậy chúng tôi phải làm gì? Ông trả lời: Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy. Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì? Gioan đáp: Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi. Các quân nhân cũng hỏi: Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì? Ông đáp: Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình.
Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng? Gioan trả lời cho mọi người rằng: Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt! Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.


Gợi ý suy niệm:


Phụng vụ Chúa Chúa Nhật thứ III mùa vọng ngập tràn niềm vui của người con Chúa. Nó khởi đầu bằng lời mi gọi của ngôn sứ Xô-phô-nia: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy reo vui! Hỡi Israel, hãy cất tiếng reo hò! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoannhảy mừng hết tâm hồn!”. Xô-phô-nia mời gọi thiếu nữ Sion (Giê-ru-sa-lem) và dân thánh đô của Ít-ra-el, bằng những mệnh từ rất mạnh mẽ. Trong một câu ngắn gọn, bốn động từ mời gọi “đi bão” được sử dụng theo  cấp độ tăng dần và nếu dịch ra tiếng việt thì không biết dịch làm sao cho gột tả được mức độ tăng dần của nó. Cuối cùng là trạng ngữ “hết tâm hồn”. Vui từ bên trong, thể hiện ra bên ngoài, một niềm vui toàn th, tuyệt đối. Có thể ví hơn cả niềm vui vỡ òa của người dân Việt nam trong thời khắc trọng tài thổi hồi còi kết thúc trận chung kết bóng đá nam, Seagames 30, chính thức công bố Việt nam đoạt huy chương vàng môn bóng đá nam lần đầu tiên trong lịch sử. Vâng! Ngay cả niềm vui ấy cũng không bằng niềm vui mà Xô-phô-nia mời gọi. 

Và lời mời gọi vui mừng ấy tiếp tục được gia tăng mạnh mẽ trong thánh lệnh của thánh Phao-lô: “anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên! Hãy để cho sự tử tế (gentleness), lòng tốt của anh được tỏ hiện trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần đến.” Trong cùng một câu ngắn gọn thánh Phao-lô lặp hai lần động từ “hãy vui mừng”. Và sự vui mừng mà thánh Phao-lô muốn cộng đoàn ki-tô hữu cử hành và lan tỏa đó là “sự tự tế, lòng tốt”. Sự tử tế sẽ đem đến niềm vui đích thực và niềm vui đích thực lại kích hoạt sự tử tế. Quả vậy, niềm vui của người ki-tô hữu, niềm vui thật sự, không phải là một sự chờ đợi ban phát từ người khác nhưng là niềm vui đến từ sự chủ động trao ban, hành động cụ thể của từng người. Đó là thông điệp của đoạn Tin Mừng CNIIIMVA (Lc 3,10-18). Từng người (dân chúng, những người thu thuế, các quân nhân) đến hỏi Gioan Tẩy Giả rằng: “Vậy chúng tôi phải làm gì?”. Gioan đã ân cần đưa ra chỉ dẫn cụ thể cho từng nhóm người. Dân chúng: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy”; những thuế vụ: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi”; các quân nhân: “Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của minh”. 

Rõ ràng là chịu phép rửa ăn năn sám hối thôi thì chưa đủ để đem lại niềm vui đích thực. Đi Lễ, nghe giảng tĩnh tâm, xưng tội, rước Lễ, tất cả điều rất quý nhưng chưa đủ để đem đến niềm vui trọn vẹn đích thực. Cần phải hỏi rằng: “tôi phải làm gi?”. Là linh mục, tôi phải làm gì? Là cha, là chồng, tôi phải làm gì? Là vợ, là mẹ tôi phải làm gì? Là công nhân, kỹ sư, bác sĩ,… tôi phải làm gì? Và hơn tất cả mọi vai trò, là con Chúa, tôi phải làm gì? Mỗi người hãy chọn cho minh một việc làm cụ thể để sinh hoa trai xứng với lòng sám hối. Trong những hoa trai tốt lành phát xuất từ sự tử tế mà người này dành cho người kia, chắc chắn có sự hiện diện của Chúa Giê-su Hài Đồng, Đấng là nguồn vui trọn vẹn cho mọi cá nhân, mọi gia đình, mọi cộng đoàn.


Joseph Phạm Duy Thạch, SVD

Thursday, 28 November 2019

“họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày"

CNI_MV_A (Is 2,1-5; Rm 13,11-14; Mt 24,37-44)



Kính thưa quý OBACE!



Hôm nay, ngày đầu năm phụng vụ mới, có thể nói là ngày tết của người Công Giáo, ngôn sứ Isaia dẫn đưa chúng ta về một khung cảnh êm đềm, bình yên, hạnh phúc đích thực. Đó là nơi mà “dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi.” Nghĩa là một nơi sum vầy cho nhiều người, nhiều dân tộc trên trái đất này. Ở nơi ấy, không còn bóng dáng của chiến tranh, của hận thù ghen ghét, vì lúc bấy giờ “họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau nữa, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.” Tất cả những gì mà trước đây họ dùng để làm hại nhau, thì nay được biến thành những công cụ để làm lợi cho nhau, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhau. Đó quả là một viễn ảnh rất đẹp, một khung cảnh bình yên mà biết bao người mơ ước.

“lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”


Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng năm A (Is 2,1-5; Rm 13,11-14; Mt 24,37-44)


“lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.


Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy. Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi. Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến.”

“Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”.


Gợi ý suy niệm:


Chúng ta vừa kết thúc năm phụng vụ với tuần 34 mùa thường niên năm C. Chúa Nhật này chúng ta lại bắt đầu lại chu kỳ phụng vụ 3 năm, và quay trở lại từ năm A. Trong năm A, Tin Mừng mỗi Chúa Nhật thường sẽ trích từ Tin Mừng Mát-thêu. Phụng vụ Lời Chúa ngày đầu tiên của năm phụng vụ bắt đầu bằng lời tiền báo của ngôn sứ Isaiah (bài đọc I), diễn tả một viễn ảnh trên cả tuyệt vời, khi mà nhiều dân nước kéo nhau lên “núi nhà Đức Chúa”, để nghe luật CHúa và sống theo Lời Chúa. Và rồi “họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày và rèn giáo mác nên liềm nên hái”. Một cảnh tượng hòa bình viên mãn được mở ra khi tất cả mọi dân đều sống theo Lời Chúa và biến tất cả các vũ khí chiến tranh thành công cụ làm ăn sinh sống. 

Trong bài đọc II, thánh Phao-lô cũng mời gọi các tín hữu hạy “mặc lấy Chúa Ki-tô, và chớ lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt”, “hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sư, không chơi bời dâm đãng”, “vì giờ đây ơn cứu độ của chúng ta đã đến gần hơn lúc chúng ta mới tin đạo”. Dẫu biết rằng, mỗi ngày chúng ta tiến gần hơn đến ngày “con Người đến” nhưng chúng ta lại mù tịt thông tin về ngày giờ và địa điểm. Điều chúng ta có thể làm và phải làm là “hãy tỉnh thức” và “phải sẵn sàng”. Nếu chúng ta chờ đợi Chúa và luôn sẵn sàng thì việc Chúa đến giờ, hay ở đâu không quan trọng lắm. Thế nhưng, rất nhiều người không sẵn sàng nên hằng năm Giáo Hội lại khởi động lại, lên giây cốt trong thời gian Mùa Vọng để mọi người ý thức hơn, sẵn sàng hơn. Sự bất ngờ của ngày Chúa đến không phải đến từ sự độc đoán, hay rình rập từ Chúa. Thế nhưng, cuộc sống chúng ta được đan kết bằng một chuỗi những sự chọn lựa và dấn thân. Nó không phải là là một cuộc bán mua, đổi chác, toan tính trong chốc lát. Để rồi, nếu tôi biết ngày mai Chúa đến thì hôm nay tôi đi xưng tội. Nếu tôi biết tháng sau Chúa đến thì cứ ăn chơi đến cuối tháng đi xưng tội là vừa đủ. Nếu mỗi thành viên trong một quốc gia, một giáo xứ, cộng đoàn, một gia đình… biết mặc lấy Đức Ki-tô, đi theo đường lối Chúa thì sợ gì ngày Chúa đến, hay thậm chí còn mong ước, thắc mắc sao Chúa không mau đến nữa kìa.

Joseph Pham Duy Thach SVD