Thursday, 30 December 2021

TỪ ÁNH SÁNG TỰ NHIÊN ĐẾN ÁNH SÁNG SIÊU NHIÊN. Chú Giải Tin Mừng CN Chúa Hiển Linh năm A-B-C (Mt 2,1-12)

Bản Văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

1Τοῦ δὲ Ἰησοῦ γεννηθέντος ἐν Βηθλέεμ τῆς Ἰουδαίας ἐν ἡμέραις Ἡρῴδου τοῦ βασιλέως, ἰδοὺ μάγοι ἀπὸ ἀνατολῶν παρεγένοντο εἰς Ἱεροσόλυμα

 2 λέγοντες· ποῦ ἐστιν τεχθεὶς βασιλεὺς τῶν Ἰουδαίων; εἴδομεν γὰρ αὐτοῦ τὸν ἀστέρα ἐν τῇ ἀνατολῇ[1] καὶ ἤλθομεν προσκυνῆσαι αὐτῷ.

 3 ἀκούσας δὲ βασιλεὺς Ἡρῴδης ἐταράχθη καὶ πᾶσα Ἱεροσόλυμα μετ᾽ αὐτοῦ,

 4 καὶ συναγαγὼν πάντας τοὺς ἀρχιερεῖς καὶ γραμματεῖς τοῦ λαοῦ ἐπυνθάνετο παρ᾽ αὐτῶν ποῦ χριστὸς γεννᾶται.

 5 οἱ δὲ εἶπαν αὐτῷ· ἐν Βηθλέεμ τῆς Ἰουδαίας· οὕτως γὰρ γέγραπται διὰ τοῦ προφήτου·

 6 καὶ σὺ Βηθλέεμ, γῆ Ἰούδα, οὐδαμῶς ἐλαχίστη εἶ ἐν τοῖς ἡγεμόσιν Ἰούδα· ἐκ σοῦ γὰρ ἐξελεύσεται ἡγούμενος, ὅστις ποιμανεῖ τὸν λαόν μου τὸν Ἰσραήλ.

 7 Τότε Ἡρῴδης λάθρᾳ καλέσας τοὺς μάγους ἠκρίβωσεν παρ᾽ αὐτῶν τὸν χρόνον τοῦ φαινομένου ἀστέρος,

 8 καὶ πέμψας αὐτοὺς εἰς Βηθλέεμ εἶπεν· πορευθέντες ἐξετάσατε ἀκριβῶς περὶ τοῦ παιδίου· ἐπὰν δὲ εὕρητε, ἀπαγγείλατέ μοι, ὅπως κἀγὼ ἐλθὼν προσκυνήσω αὐτῷ.

 9 Οἱ δὲ ἀκούσαντες τοῦ βασιλέως ἐπορεύθησαν καὶ ἰδοὺ ἀστήρ, ὃν εἶδον ἐν τῇ ἀνατολῇ, προῆγεν αὐτούς, ἕως ἐλθὼν ἐστάθη ἐπάνω οὗ ἦν τὸ παιδίον.

 10 ἰδόντες δὲ τὸν ἀστέρα ἐχάρησαν χαρὰν μεγάλην σφόδρα.

 11 καὶ ἐλθόντες εἰς τὴν οἰκίαν εἶδον τὸ παιδίον μετὰ Μαρίας τῆς μητρὸς αὐτοῦ, καὶ πεσόντες προσεκύνησαν αὐτῷ καὶ ἀνοίξαντες τοὺς θησαυροὺς αὐτῶν προσήνεγκαν αὐτῷ δῶρα, χρυσὸν καὶ λίβανον καὶ σμύρναν.

 12 Καὶ χρηματισθέντες κατ᾽ ὄναρ μὴ ἀνακάμψαι πρὸς Ἡρῴδην, δι᾽ ἄλλης ὁδοῦ ἀνεχώρησαν εἰς τὴν χώραν αὐτῶν.

 (Matt. 2:1-12 BGT)

1 Khi Đức Giêsu sinh ra tại Bếthlehem miền Giuđaia trong những ngày của vua Êrôđê. Kìa! Có những Magos từ Phương Đông đến Jêrusalem

2 Họ nói rằng: “Vua của người Do Thái mới sinh ở đâu? Vì chúng tôi thấy ngôi sao của Người vào lúc nó mọc lên và chúng tôi đến đây để bái thờ Người”.

3 Khi nghe như vậy, vua Êrôđê rất lo sợ cả thành Jêrusalem đồng cảm với ông

4 Sau khi triệu tập tất cả các thượng tế và các kinh sư của dân, nhà vua hỏi họ nơi Đấng Kitô được sinh ra.

5 Họ nói cùng ông rằng: “Tại Bếthlehem miền Giuđaia vì vị ngôn sứ đã viết như thế”.

6 “Này ngươi, Bếthlehem, đất của Giuđaia, ngươi đâu phải là nhỏ nhất trong các lãnh tụ Giuđaia, vì từ ngươi, người lãnh đạo, người chăn dắt dân ta, Ísrael sẽ xuất thân.

7 Sau khi gọi các Magos đến cách bí mật, vua Êrôđê hỏi họ cặn kẽ về thời gian ngôi sao xuất hiện.

8 Rồi nhà vua sai họ đi Bếthlehem và nói rằng: “Sau khi đi đến đó, hãy dò hỏi kỹ càng về đứa bé; khi đã tìm thấy rồi, hãy thông báo cho tôi, để tôi cũng có thể đến bái thờ.”

9 Sau khi nghe lời nhà vua, họ khởi hành và này! Ngôi sao mà họ đã thấy vào lúc nó mọc lên lại đi trước họ, cho đến khi nó dừng lại phía trên nơi Hài Nhi ở.

10 Khi nhìn thấy ngôi sao họ quá đỗi vui mừng (nghĩa đen: Vui một niềm vui lớn cực kỳ).

11 Khi vào nhà,[2] họ thấy Hài Nhi cùng với bà Maria, Mẹ Người, trong tư thế cúi mình xuống, họ bái thờ Người và sau khi mở hộp đựng kho tàng, họ dâng những lễ vật: Vàng, hương trầm và một dược.[3]

12 Vì được chỉ dẫn trong giấc mơ đừng trở lại với vua Êrôđê, nên họ đã đi lối khác mà về vùng của mình.


Bối cảnh

Câu chuyện Mt 2,1-11 nằm trong bối cảnh rộng của các trình thuật về Giáng Sinh và thời thơ ấu của Đấng Mêsia (Mt 1 – 2). Trong bối cảnh trực tiếp, câu chuyện này tiếp ngay sau câu chuyện về “gốc tích của Đấng Mêsia” (1,18-25) và được tiếp nối bằng những trình thuật liên quan đến hành trình trốn qua Ai cập và trở về, định cư tại Nadarét dưới áp lực của những phản ứng tiêu cực của chính quyền đương thời, cụ thể là vua Êrôđê. Xét về nội dung, câu chuyện này có nhiều chủ đề nối kết chặt chẽ với câu chuyện trước đó và sau đó, cũng như toàn bộ Tin Mừng. Trong câu chuyện “gốc tích của Đức Giêsu” ngay trước câu chuyện này, độc giả đã biết được là Đức Giêsu là con ông Giuse cách hợp pháp. Chính vì thế, Người thuộc dòng tộc hoàng gia của vua Đavid. Việc Mátthêu cho biết Đức Giêsu sinh ra tại Bếthlehem liên quan trực tiếp đến nguồn gốc dòng tộc này. Hơn nữa, ngay từ câu đầu tiên của Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu được giới thiệu là “Con vua Đavid” (Mt 1,1). Câu trích nói về nơi sinh của Đức Giêsu cũng nối kết đoạn văn này với truyền thống Cựu Ước, được nói đến trong sách ngôn sứ Mikha về nơi sinh của Đấng Mêsia. Sự kiện những Magos ở Phương Đông đến bái thờ Hài Nhi Giêsu cũng báo hiệu một sứ vụ dành cho dân ngoại trong hành trình rao giảng của Đấng Mêsia. Sự xuất hiện của vua Êrôđê và nhóm các thượng tế và kinh sư với thái độ thù nghịch, báo hiệu một sự xung đột sau này giữa Đấng Mêsia và những nhà lãnh đạo Do Thái. Hành động thù ghét của Êrôđê được biểu lộ ngay sáu đó bằng hành động đuổi cùng, giết tận Hài Nhi Giêsu; hành động thù ghét của các Thượng Tế và Kinh Sư sẽ được bộc lộ trong hành trình rao giảng công khai của Người, đặc biệt là trong cuộc Thương Khó.

            Câu chuyện các nhà chiêm tinh/thiên văn theo ngôi sao lạ để tìm kiếm và triều bái “vua của người Do Thái” mới sinh có mối liên hệ chặt chẽ với câu chuyện của ngôn sứ ngoại giáo có tên là Balaam được ghi lại trong sách Dân Số (ch.24). Vua Môab tên là Balak gọi ngôn sứ Balaam đến để giúp ông nguyền rủa những người Israel. Tuy nhiên, Thiên Chúa lại bắt ông phải chúc lành cho Israel thay vì nguyền rủa. Trong nỗ lực cuối cùng để nguyền rủa người Israel, ông đã nói ngôn sứ về một vị vua tương lai sẽ xuất hiện: “Một ngôi sao xuất hiện từ nhà Giacob, một vương trượng trỗi dậy từ Israel sẽ đập vào màng tang Môab” (Ds 24,17).

Câu chuyện này cũng rất gần gũi với hình ảnh các vua mang lễ vật đến triều bái vị vua nhà Israel được nói đến trong Tv 72: “Nguyện cho các vua của Tacsít và các đảo mang cống phẩm, các vua của Shêba và Ảrập mang lễ vật đến. Nguyện xin tất cả các vua bái phục trước Người, tất cả các quốc gia phụng sự Người” (Tv 72,10-11).

Cấu trúc: Cấu trúc câu chuyện xoay quanh hành trình tìm kiếm và bái thờ Hài Nhi Giêsu của những Magos từ Phương Đông. Câu chuyện được đóng khung bằng hành trình những Magos đến Jêrusalem và rời Bếthlehem. Phần giữa của câu chuyện là những chặng đường dừng tại Jêrusalem và khởi hành đi Bếthlehem và dừng tại Bếthlehem.

Hành trình những Magos đến Jêrusalem (2,1)

Tại Jêrusalem: Dò hỏi về nơi Hài Nhi sinh ra (2,2-8)

Hành trình đi Bếthlehem: Ngôi sao dẫn đường (2,9-10)

Tại Bếthlehem: Gặp gỡ Hài Nhi và thân mẫu (2,11)

Hành trình những Magos rời Bếthlehem: Đi lối khác mà về vùng của mình (2,12)

Một số điểm chú giải

1.     “Tại Bếthlehem”: Thành phố Bếthlehem trong tiếng Do Thái là “בֵּֽית־לֶ֣חֶם” có nghĩa là “ngôi nhà bánh mì” (hay ngôi nhà lương thực), một địa danh nổi tiếng, cách Jêrusalem chừng hơn tám cây số về hướng Nam. Địa danh này thường được gọi là Bếthlehem Giuđêa (Épratha) để phân biệt với Bếthlehem Galilê (miền đất của chi tộc Dơvulun, Gs 19,15), cách Nadarét 10 cây số về phía Tây Nam.[4] Đây là địa danh gắn liền với gốc tích của vua Đavid. Giesê, cha của vua Đavid là người Bếthlehem, và cậu bé chăn chiên Đavid được xức dầu thay thế vua Saun tại đó (1 Sm 16,1-13). Ngôn sứ Mikha cho biết Bếthlehem là nơi xuất thân của một người có sứ mạng thống lãnh dân Ísrael (Mk 5,1). Như thế, Bếthlehem không chỉ gắn liền với nguồn gốc của vua Đavid mà còn gắn liền với nguồn gốc của Đấng Mêsia thuộc dòng dõi vua Đavid. Lời của ngôn sứ Mikha cũng chính là dữ liệu mà các Thượng Tế và Kinh Sư đã căn cứ để trả lời cho câu hỏi của vua Êrôđê về nơi sinh của Đấng Kitô. Chứng cứ này cũng được một nhóm người dùng để chứng minh Đức Giêsu không phải là Đấng Kitô: “Đấng Kitô mà lại xuất thân từ Galilê sao? Nào Thánh Kinh đã chẳng nói Đấng Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Đavid và từ Bếthlehem sao?” (Ga 7,42). Địa danh Bếthlehem nơi đây rõ ràng nối kết chặt chẽ với những dữ liệu trước đó về Đức Giêsu Kitô. Người được giới thiệu là con cháu vua Đavid (Mt 1,1). Thân phụ của Người là ông Giuse thuộc hoàng tộc vua Đavid (Mt 1,20). Tác giả Luca cũng cho biết Đức Giêsu sinh ra tại Bếthlehem, thành của vua Đavid (Lc 2,11). Tuy nhiên, câu chuyện của Luca xem ra ly kỳ hấp dẫn hơn. Cha mẹ Đức Giêsu sinh sống tại Nadarét, nhưng vì có lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Kaisar Augusto đúng vào lúc Đức Maria gần tới ngày sinh. Họ phải về quê quán của thánh Giuse là Bếthlehem để đăng ký tên tuổi, trong bối cảnh ấy Đức Giêsu được sinh ra tại Bếthlehem, đúng như lời của ngôn sứ Mikha (Mk 5,1).

2.     “Những ngày của vua Êrôđê”: Êrôđê được hoàng đế Rôma đặt làm vua vùng Idumea – Giuđêa – Samari – Galilê trong khoảng thời gian từ năm 40 – 4 BCE. Ông là người Êđom. Vua Êrôđê chết vào năm 4 BCE, khoảng thời gian ông âm mưu giết Đức Giêsu có thể là khoảng một đến hai năm trước khi ông mất. Vì lẽ đó, ngày nay đa số các học giả đồng ý rằng Đức Giêsu sinh vào khoảng năm 6 BCE, nghĩa là lệch đi sáu năm so với cách tính của tu sĩ Điônixio lúc đầu. Tu sĩ Điônixio được lệnh của Giáo Hoàng Gioan I tính năm sinh của Đức Giêsu, từ đó làm mốc điểm cho năm thứ nhất của kỷ nguyên Kitô giáo. Theo ông Đức Giêsu sinh vào khoảng năm 753 theo lịch Rôma. Như thế, năm 754 sẽ là năm thứ nhất của kỷ nguyên Kitô giáo.

Nhân vật vua Êrôđê được nhắc đến trong câu chuyện này nhằm diễn tả phản ứng của một vị vua đương quyền trước tin tức về một vị vua Mêsia, Đấng Kitô mới sinh ra. Phản ứng đầu tiên và chi phối cho mọi hành động của ông sau này là “lo sợ”. Cảm xúc lo âu sợ sệt của ông cũng rất bình thường, bởi vì có một vị vua nào đó mới sinh ra, mà lại không thuộc dòng tộc của ông. Những hành động tiếp theo của ông lần lượt là:

(i)             Triệu tập các Thượng Tế và Kinh Sư để hỏi nơi Đấng Kitô phải sinh ra. 

(ii)           Bí mật[5] mời những Magos đến để hỏi kỹ lưỡng về thời gian Đấng Kitô sinh ra, căn cứ theo thời gian ngôi sao của Người xuất hiện.

(iii)         Sai những Magos đi dò hỏi kỹ lưỡng về Hài Nhi, để ông cũng đến bái thờ.

Tất cả những động thái này cho thấy rất sự ranh mãnh, xảo quyệt của ông. Ông đang âm mưu thủ tiêu Hài Nhi Giêsu với một kế hoạch hoàn hảo. Tuy nhiên, ông có thể đánh lừa hết mọi nhân vật trong câu chuyện. Khi nói với các Thượng Tế và Kinh Sư, ông gọi Hài Nhi là “Đấng Kitô” một danh xưng bình thường mà những người Do Thái thường dùng để diễn tả Đấng mà họ đang mong đợi. Ông cho thấy một mức độ thân thiện, đồng cảm với những người Do Thái khi hỏi thăm về Đấng mà họ đang quan tâm. Đối với những Magos, ông nói xạo rằng mình cũng có chung mục đích với họ: Cũng muốn đến bái thờ Hài Nhi Giêsu với họ. Khi nghe nhà vua nói như vậy, họ yên tâm ra đi, và có thể họ định lòng sẽ làm như nhà vua dặn, không một chút nghi ngờ. Âm mưu của vua Êrôđê bị bại lộ, và bộc lộ rõ ràng khi ông thấy những Magos không trở lại gặp ông nữa. Ông đã dùng tất cả dữ liệu mà ông đã điều tra kỹ càng trước đó để giết cho bằng được Hài Nhi Giêsu: Ông khoanh vùng cả thời gian (từ hai tuổi trở xuống) và không gian (Bếthlehem và vùng lân cận) (Mt 2,16). Với kế hoạch kỹ lưỡng như thế, chỉ có Chúa mới giải thoát Hài Nhi Giêsu được.

3.     Những Magos: Trong tiếng Hy Lạp “Magos” (μάγος) có nghĩa là nhà thiên văn học, người khôn ngoan, thông thái. Nhóm CGKPV dịch là “nhà chiêm tinh”, còn dịch giả Nguyễn Thế Thuấn dịch là “các đạo sĩ”.[6] Dựa vào cách họ nhận biết các ngôi sao, có thể họ là những người tinh thông về thiên văn học. Tuy nhiên, theo mục đích của hành trình họ đang đi, người ta có thể nghĩ rằng họ có đặc tính gì đó hơn là những nhà khoa học đơn thuần. Họ tôn trọng nhân tài, và có thể họ là những người tìm Chúa. Nơi chốn Phương Đông có thể là sa mạc Ảrập, sa mạc Syria, nước Babylon hoặc Ba Tư.[7] Yếu tố rõ ràng nhất có thể nói là họ đến từ ngoài đất nước Do Thái, và rất có thể họ là những người ngoại vì họ không biết nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra. Gốc ngoại giáo của những Magos phù hợp với chương trình phổ quát của Tin Mừng Mátthêu. Họ là những người đại diện cho tất cả “thiên hạ đến từ Đông Tây để vào Nước Trời” (Mt 8,11) và cũng báo trước cho sứ vụ của các môn đệ đến với muôn dân sau này (Mt 28,19).[8] Truyền thống Kitô giáo thường tin rằng có tất cả là ba người dựa trên số lễ vật mà họ mang theo (vàng, nhũ hương và một dược).[9] Tuy nhiên, con số bao nhiêu người vẫn là điều không rõ ràng. Truyền thống cho rằng họ là những vị vua có lẽ dựa trên bối cảnh trong sách Thánh Vịnh nói về vương quyền của Mêsia vua: “Từ Tácsit[10] và hải đảo xa xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ảrập, Sheba[11] cũng đều đến tiến dâng lễ vật” (Tv 72,10).[12]

4.     Vua của người Do Thái”: Tước hiệu “vua dân Do Thái” của Đức Giêsu đã được giới thiệu trong trình thuật về gia phả của Người (Con vua Đavid). Tước hiệu này sẽ được quan Philatô lặp lại trong buổi thẩm vấn như là một câu hỏi chính yếu. Và Đức Giêsu đã thừa nhận tước hiệu này (Mt 27,11). Quân lính cũng nhạo báng tước hiệu này bằng cách đội lên đầu Người một vương miện bằng gai, trao vào tay Người một cây sậy và nhạo rằng: “Vạn tuế đức vua dân Do Thái” (Mt 27,29). Bản án trên đầu Người, trên cây thập giá, cũng ghi chú “người này là Giêsu, vua dân Do Thái” (Mt 27,37). Tước hiệu “vua” (βασιλεὺς) được dùng bốn lần trong đoạn văn này: Ba lần nó được dùng cho Êrôđê (2,1.3.9), và một lần dùng cho Hài Nhi Giêsu (2,2). Việc tác giả giới thiệu bối cảnh thời gian “những ngày của vua Êrôđê”, rồi dùng danh hiệu vua Êrôđê đến ba lần, cùng lúc với danh hiệu “vua dân Do Thái” dành cho Đức Giêsu cho thấy một tương quan xung đột quyền lực thế gian giữa vua Mêsia và vua Êrôđê. Vua Êrôđê không dùng lại danh hiệu “vua dân Do Thái” mà những Magos đã dùng để hỏi các Thượng Tế và Kinh Sư (Vua Êrôđê hỏi cho biết “Đấng Kitô” phải sinh ra ở đâu). Khi gọi như vậy, cách nào đó vua Êrôđê có thể muốn tránh đi tước hiệu “vua”, tước hiệu chỉ dùng cho một mình ông mà thôi. Hơn nữa, như đã nói trên, có thể ông cũng hiểu truyền thống Do Thái tin rằng Đấng Mêsia (Kitô) cũng là vua. Gọi “Đấng Kitô” hay gọi “vua dân Do Thái” cũng là một.

5.      Ngôi sao của Người: Dấu hiệu để những Magos nhận biết vị vua mới sinh là “ngôi sao”. Danh từ ngôi sao được cụ thể hóa bằng tính tsở hữucủa ông ta” (ngôi sao của ông ta). Điều này chứng tỏ khả năng về thiên văn/ chiêm tinh của những người này. Họ biết ngôi sao ấy thuộc về một ông vua mới, bởi trước kia họ không thấy. Những nghiên cứu của họ ít nhất cho thấy truyền thống trong thời cổ xưa về việc nối kết giữa các hiện tượng siêu nhiên hay thiên văn với sự ra đời của một nhân vật quan trọng.[13] Từ ngữngôi sao” (ὁ ἀστήρ) xuất hiện bốn lần trong đoạn văn này. Theo lời của các Magos, ngôi sao ấy chính là yếu tố thúc đẩy họ lên đường và dẫn đường cho họ: “Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người vào lúc nó mọc lên” (hay xuất hiện ở Phương Đông) và chúng tôi đến để triều bái Người” (2,2). Thời gian ngôi sao ấy xuất hiện là dữ liệu quan trọng để vua Êrôđê khoanh vùng thời gian chào đời của Hài Nhi Giêsu, đ âm mưu thủ tiêu Người (2,7). Như thế, ngôi sao có thể soi sáng cho nhóm Magos để tìm Chúa để bái thờ, ngôi sao cũng có thể là dữ liệu để cho vua Êrôđê âm mưu làm điều đen tối. Sau khi họ rời cung điện của vua Êrôđê, ngôi sao ấy lại xuất hiện, dẫn đường cho nhóm Magos đến Bếthlehem (2,9.10). Tác giả dùng một lối nói rất đặc biệt để diễn tả niềm vui của nhóm Magos khi họ nhìn thấy lại ngôi sao: “khi trông thấy ngôi sao, họ vui cực kỳ, một niềm vui lớn” (2,10). Đây là lần duy nhất trong Tân Ước một niềm vui được diễn tả với cường độ mạnh như vậy. Họ đã nhận biết nơi Hai Nhi sinh ra là Bếthlehem nhờ vào dữ liệu của các Thượng Tế và Kinh Sư, dựa vào sách ngôn sứ Mikha (Mk 5,1). Theo lý, họ không cần ngôi sao dẫn đường nữa. Tuy nhiên, ngôi sao lại xuất hiện và họ vui mừng khôn tả. Chi tiết này có thể cho thấy rằngngôi saolà yếu tố dẫn đường chính yếu trong hành trình của họ. Đặc biệt, trong lầntái xuất hiệnnày, ngôi sao đã đi trước họ cho đến nơi Hài Nhi ở và dừng lại trên nơi Hài Nhi ở. Cách diễn tả của tác giả cho thấy ngôi sao thật sự di chuyển như là một người dẫn đường chứ không còn đứng im như lần trước, khi nhóm Magos nhìn thấy nó ở Phương Đông. Có thể nói rằng, có một nhân vật thần linh đang hướng dẫn cho hành trình của họ.[14] Đức Giêsu đã nói rằng: “Không ai có thể đến được với Ta trừ khi Chúa Cha, Đấng đã sai Ta lôi kéo” (Ga 6,44). Nói như tác giả J. Razinger (GH Biển Đức XVI), đó là cáchvũ trũ nói về Đấng Kitô”.[15] Hiểu biết tự nhiên đã dẫn đến cảm nghiệm siêu nhiên. Ngôi sao đã vắng bóng một khoảng thời gian vì nhóm Magos đã lạc hướng. Họ tưởng rằng nhà vua mới phải sinh ra trong thành đô, có thể là trong cung điện của vua Êrôđê. Sau khi họ mày mò một thời gian. Với hướng dẫn của lời ngôn sứ của Chúa (lời ngôn sứ Mikha), họ lại trở lại đúng đường và ngôi sao lại dẫn đường cho họ. Con đường của họ đi từ lúc đó không còn là con đường vật chất, nhưng là con đường tâm linh được thần linh soi dẫn.

Khoảng thời gian ngôi sao vắng bóng cũng là khoảng thời gian quý báu để các nhân vật như vua Êrôđê, các Thượng Tế và Kinh Sư, cũng như toàn thể cư dân trong thành biết được tin tức một vi vua mới sinh ra, và bày tỏ cảm xúc, phản ứng của họ. Nếu như nhóm Magos được ngôi sao hướng dẫn từ quê hương của họ đến thẳng nơi Hài Nhi, thì đó chỉ là câu chuyện của riêng họ. Không một ai có thể tham gia vào câu chuyện này và độc giả cũng chẳng biết phản ứng của vị vua đương quyền và giáo quyền Do Thái trước tin tức về vị vua mới sinh.

Ngôi sao xuất hiện trùng với ngày sinh của Đức Giêsu xưa này được lý giải theo nhiều cách thức khác nhau. Đó có thể là một ngôi sao mới, một ngôi sao chổi, một sự giao nhau giữa các hành tinh như Mộc Tinh và Thổ Tinh.[16] Tuy nhiên, ngôi sao này có lẽ mang ý nghĩa thần học hơn là một hiện tượng thiên văn và được gợi hứng từ truyền thống Cựu Ước.[17] Sách Dân số nhắc đến một ngôn sứ khá đặc biệt tên là Bilơam, người Ammon. Dù là một ngôn sứ ngoại bang nhưng ông lại chỉ nói điều Thiên Chúa muốn và chúc lành cho dân Ísrael, mặc dù vua Môáp muốn ông chúc dữ cho dân Ísrael. Một trong những lời chúc lành đó có liên quan đến ngôi sao của nhà Giacóp: “Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc, tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên; Một ngôi sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ísrael sẽ đập vào màng tang Môáp, đánh vỡ sọ tất các con cái Sết” (Ds 24,17). Đức Giêsu chính là ngôi sao xuất thân từ dòng tộc Giacóp.

6.      Đ bái thờ Người: Mục đích của nhóm Magos là đến để triều bái. Động từπροσκυνέω vừa có nghĩa là “triều báitrước một vị vua, hay một người quyền cao chức trọng, vừa có nghĩa là “thờ phượng”, “bái thờtrước thần linh. Trong câu chuyện này động từ này xuất hiện tất cả ba lần và túc từ của động từ này trong cả ba lần đều là Hài Nhi Giêsu. Lần đầu tiên, nhóm Magos tỏ ý muốn đến đtriều bái” “vua dân Do thái mới sinh” (2,2). Lần thứ hai, vua Êrôđê cũng ngỏ ý muốn đếntriều báiHài Nhi Giêsu như những Magos (2,8). Lần thứ ba, nhóm Magos triều bái Hài Nhi tại nhà của Người ở Bếthlehem (2,11). Trong lần thứ ba, động từtriều bái” đi kèm với một động từ khác – “sụp xuống, cúi rạp xuống” - ở dạng phân từ, có chức năng của một mệnh đề trạng ngữ chỉ thời gian: “Sau khi cúi rạp xuống, họ triều bái Người”. Đây là một lối nói, diễn tả sự thành tâm, trang trọng đúng mức của nhóm Magos. Hành độngtriều báitrong bối cảnh này có thể hiểu như là hành động của một thần dân, hay vua các nước chư hầu dành cho vua cai trị. Tuy nhiên, nó cũng có thể báo hiệu cho một sự thờ phượng của dân ngoại dành cho Đấng Mêsia, Con Thiên Chúa làm người. Sự bái lạy mà người phụ nữ Canaan ở vùng Tia và Xiđon dành cho Đức Giêsu là một ví dụ (Mt 15,25). Lời tuyên xưng long trọng của người đại đội trưởng cùng đồng bạn: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa” (Mt 27,54) cũng nhấn mạnh sự nhìn nhận thần tính nơi Đức Giêsu. Sựbái thờcủa nhóm Magos vừa biểu trưng cho niềm tin của những người ngoại trong sứ vụ của Đức Giêsu vừa diễn tả về niềm tin của các Kitô hữu gốc ngoại giáo trong cộng đoàn Mátthêu. Có nhiều bản văn cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, nơi mà sự kết hợp giữa hai động từcúi rạpvà “thờ lạy” được dùng cho một hành vi thờ phượng Chúan 3,5-6.10-11; Cv 10,25; 1 Cr 14,25; Kh 4,10; 7.11; 22,8).

7.     Các Thượng Tế và các Kinh Sư của dân: Khi nghe nhóm Magos hỏi về nơi sinh ra củavua dân Do Tháivua Êrôđê “lo sợvà cả thành Jêrusalem với ông có cùng cảm xúc với ông. Động từlo sợ” được dùng chung cho cả vua Êrôđê và cả thành Jêrusalem. Cả thành Jêrusalem có thể là toàn thể cư dân trong thành. Trong cuộc xử án Đức Giêsu, cuối cùng toàn dân cư thành Jêrusalem đã sẵn sàng chịu trách nhiêm cho cái chết của Đức Giêsu: “Máu của ông ấy cứ đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi” (Mt 27,25).[18] Tuy nhiên, những nhân vật có khả năng lo lắng hơn cả phải là những người lãnh đạo Do Thái các Thượng Tế và Kinh Sư. Điều này báo hiệu cho một sự thù ghét của những lãnh đạo Do Thái dành cho Đức Giêsu trong tương lai. Các Thượng Tế và Kinh Sư là hai nhóm người gây cho Đức Giêsu nhiều đau khổ (Mt 16,21); Hai nhóm này sẽ kết án xử tử Đức Giêsu (Mt 20,18); Họ tức tối khi thấy những việc lạ lùng Đức Giêsu đã làm và thấy những đứa trẻ reo hò trong đền thờ: “Hoan hô Con vua Đavid” (Mt 21,15). Trong bối cảnh này, họ được nhắc đến như những người biết rõ nơi Đấng Kitô sinh ra, nhưng lại không có một phản ứng gì trước tin tức Đức Giêsu mới sinh tại Bếthlehem. Hành trình xa xôi của nhóm Magos đến để triều báivua dân Do Tháidường như trái ngược lại với thái độ dửng dưng của nhóm các Thượng Tế và Kinh Sư. Hình ảnh này cũng báo hiệu cho sự tương phản trong sứ vụ của Đức Giêsu: Người ngoại đón nhận, trong khi nhiều lãnh đạo Do Thái chối từ Người.

8.     Khi vào nhà”: Đây là điểm khác biệt khó dung hòa giữa trình thuật Giáng Sinh của tác giả Mátthêu và tác giả Luca. Luca mô tả Đức Giêsu Giáng Sinh trong cảnh cơ hàn. Không có chỗ trong các nhà trọ dành cho cha mẹ Người. Người được sinh ra và được bọc tả, đặt nằm trong máng cỏ (Lc 2,7). Chi tiết máng cỏ làm người ta mường tượng đến một chuồng bò, lừa, và cũng có thể là một hang đá nào đó trong vùng Bếthlehem.[19] Theo trình thuật của Mátthêu, dường như cha mẹ Đức Giêsu có nhà tại Bếthlehem. Đức Giêsu sinh ra tại Bếthlehem là chuyện bình thường. Tuy nhiên, Mátthêu sẽ phải giải thích là tại sao Đức Giêsu lại lớn lên ở Nadarét (Mt 2,19-23). Ngược lại, đối với tác giả Luca, vì cha mẹ Đức Giêsu ở Nadarét, nên việc Người lớn lên ở Nadarét là chuyện bình thường. Tuy nhiên, ông phải lý giải tại sao Đức Giêsu sinh ra tại Bếthlehem (Lc 2,1-14).[20]

9.     Lễ vật: Vàng, hương trầm và một dược: Như đã nói trên. Số lượng ba lễ vật là chi tiết mà truyền thống suy ra là nhóm này có ba người. Tuy nhiên, không nhất thiết cứ có ba lễ vật là có ba người. Có thể chỉ có hai người nhưng mang ba lễ vật và nhóm bốn (năm) người cũng có thể mang ba lễ vật. Những lễ vậtvàngvà “hương trầmcó thể đến từ gợi ý của Is 60,6: “Tất cả những người từ Sheba đến. Họ mang theo vàng và hương trầm và mang tin vui, những lời ca tụng Chúa”. Như đã đề cập phía trên, Tv 72,10-11 không nhắc đến loại lễ phẩm cụ thể nhưng nhắc đến các vua Tacsít, Ảrập, Sheba, đến dâng cống phẩm và lễ phẩm. Vàng thường là biểu tượng cho tínhvương đế”; Hương trầm dùng trong việc phụng thờ Thiên Chúa; Và “một dượcliên tưởng đến cái chết của Đức Giêsu, vì đây là chất dùng đ ướp xác chết. Đây là chất mà ông Giuse Nicôđêmô mang theo một trăm cân, trộn lẫn với hương liệu (từ cây lô hội) đ ướp xác Đức Giêsu trước khi mai táng (x. Ga 19,39). Những lễ vật này vừa cho thấy căn tính vương đế của Đấng Mêsia, vừa cho thấy căn tính thần linh của Người, và báo hiệu mầu nhiệm sự chết mà Người sẽ trải qua trong tương lai. Những lễ vật này cho thấy hai bức tranh đối nghịch trong cuộc đời Đức Giêsu: Được đón nhận bởi rất nhiều người nhưng cũng bị chối từ, chịu đau khổ và bị giết chết bởi một số người khác, đặc biệt là những quan quyền Do Thái.[21]

10.  Được chỉ dẫn trong giấc mơ: Động từχρηματίζω” (khrematizo) trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “mặc khảihaychỉ dẫn”. Động từ này được dùng ở thể bị động, cùng với cụm giới từtrong giấc mơ”. Tác nhân của hành động này rất có thể là sứ giả của Thiên Chúa. Ngữ giới từtrong giấc mơ” được dùng rất nhiều lần trong Tin Mừng Mátthêu, đặc biệt là trong chương 2 (1,20; 2,12.13.19.22; 27,19). Nhân vật thường xuất hiện trong giấc mơ thường là “sứ giả của Thiên Chúavà ông Giuse là người được nhận thông điệp trong giấc mơ nhiều nhất (1,20; 2,13.19.22). Đặc biệt, Mátthêu cũng cho thấy cả người ngoại cũng nhận được thông điệp từ Thiên Chúa, không những một lần mà đến hai lần. Nhóm Magos nhận thông điệp là “đừng trở lại với vua Êrôđê” (2,12). Ngoài ra, người vợ của Philatô cũng nhận được thông điệp gì đó mà bà diễn tả là “hôm nay tôi đã chịu khổ nhiều bởi ông ta trong giấc mơ” (Mt 27,19). Có thể hiểu đó như là mộtcơn ác mộngkhiến vợ của ông Philatô lo sợ nên trong lúc ông Philatô đang ngồi xử án bà đã can ngăn chồng mình “đừng làm gì với người công chính nàyức Giêsu)”. Những Magos đã được ngôi sao hướng dẫn cách lạ lùng, đặc biệt ngôi sao đã đi trước họ cho đến nơi nhà của Hai Nhi ở Bếthlehem. đây, nhân vật thần linh lại chỉ dẫn cho họ trong giấc mơ.[22] Những chi tiết này cho thấy Thiên Chúa vẫn tác động trên dân ngoại, những người thành tâm tìm kiếm Người và dân ngoại là một đối tượng quan trọng trong sứ vụ cứu độ của Đức Giêsu.

11.  Đi lối khác: Hành động đi lối khác (ἄλλης ὁδοῦ ἀνεχώρησαν), trước tiên có thể hiểu là không trở lại Jêrusalem như lời dặn của vua Êrôđê (2,8). Hơn nữa, hành động “đi lối khácvới sự chỉ dẫn của tác nhân thần linh, cũng có nghĩa là về quê mình với một lối sống mới, lối sống của những người sau khi đã gặp gỡ Hài Nhi Giêsu và bái thờ Người. Đó là lối sống của những người tin cậy vào Chúa và sống ngay lành. Họ có thể được xem là những người được đón nhận món quà bình an của Thiên Chúa dành cho những người lòng ngay.

Bình luận tổng quát

Câu chuyện Mt 2,1-12 thường được đọc vào Lễ Chúa Hiển Linh (hay truyền thống gọi là Lễ Ba Vua). Chính vì bối cảnh phụng vụ này mà nhiều người thường nghĩ rằng đây là câu chuyện về Ba Vua tìm Chúa. Hoàn toàn không phải như thế. Thực ra, đây là trình thuật của tác giả Mátthêu (khác với Luca) về cảnh Giáng Sinh của Đức Giêsu. Cảnh Giáng Sinh này được bắt đầu sự kiện các nhà thông thái từ Phương Đông đến tìmvua của Người Do Thái mới sinhvà được tiếp nối bằng sự kiện vua Erôđê thảm sát tất cả các hài nhi trong vùng từ hai tuổi trở xuống nhằm giết chết Hài Nhi Giêsu. Vì lý do đó, Hài Nhi Giêsu phải được cha mẹ mang trốn qua Ai Cập và sau đó trở về lại sau khi Êrođê băng hà. Cảnh Giáng Sinh của tác giả Mátthêu rõ ràng khác với cảnh Giáng Sinh của tác giả Luca (Lc 2,1-20). Trong khi tác giả Luca mô tả Đức Giêsu như là Đấng Cứu Đ, sinh ra trong thành của vua Đavid, bọc tả, đặt nằm trong mang cỏ, được các mục tử đến viếng thăm và trở về với niềm hân hoan vui sướng; tác giả Mátthêu mô tả Đức Giêsu như là “vua của người Do Thái, được các vua vùng chung quanh đến bái thờ, dâng lễ phẩm quý và vị vua Êrôđê tìm cách loại trừ. Vì Đức Giêsu được mô tả như là một vị vua mới của người Do Thái, nên Người được những vua trong vùng đến triều bái và dâng lễ phẩm. Cũng vì Người được gọi là vị vua mới, nhưng không thuộc dòng dõi Êrôđê, nên Người phải bị đuổi cùng giết tận. Cảnh Giáng Sinh của tác giả Mátthêu báo hiệu một viễn cảnh của cuộc thương khó trong tương lai của Đức Giêsu, Đấng Kitô-vua. Tất cả dường như là sự kiện lịch sử, nhưng hoàn toàn nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Trong mọi biến cố, Mátthêu luôn nhắc đi nhắc lại điệp khúc: “Để lời Chúa nói qua vị ngôn sứ có thể được hoàn trọn” (Mt 2,15); “Điều được nói qua ngôn sứ Jêrêmia được hoàn trọn” (2,17); “Điều được nói qua các ngôn sứ được hoàn trọn” (2,23).

Câu chuyện Giáng Sinh của tác giả Mátthêu mở ra ở địa danh Bếthlehem và đóng lại ở địa danh Nadarét. Đây là hai địa danh quan trọng trong cuộc đời của Đức Giêsu (Mt 2,1-23). Người được sinh ra tại Bếthlehem và lớn lên tại Nadarét. Trong khi Bếthlehem là nơi Người sinh ra như một vị vua, thuộc dòng dõi vua Đavid được dân Do Thái mong đợi; Nadarét lại là nơi Người lớn lên, chuẩn bị cho sứ vụ rao giảng, của sứ giả Tin Mừng cho dân ngoại ở Galilê. Thông tin Đức Giêsu sinh ra tại Bếtlêhem nối kết gốc tích của Người với gốc tích của Đấng Mêsia mà Cựu Ước đã nói tới. Người đã sinh ra trong thời của vua Êrôđê, người được đặt làm vua chư hầu của đế quốc Rôma, cai quản vùng đất IdumêaGiuđêaSamariaGalilê. Bối cảnh lịch sử đó là bức tranh tiền cảnh cho một sự đối đầu không khoan nhượng giữa quan quyền trần gian và vua Mêsia. Đành rằng Đức Giêsu không hề có ý tranh giành vương quốc với Êrôđê, nhưng sự hoảng sợ mất ngai vàng từ phía ông đã thúc đẩy ông chuẩn bị một kết hoạch tinh vi nhằm thủ tiêu vị vua mới. Sự xuất hiện của các Thượng Tế và các Kinh Sư, dù vô tình, như là những người dẫn đường cho âm mưu đen tối của nhà vua báo hiệu cho một sự xung đột giữa giới lãnh đạo Do Thái và Đức Giêsu. Ngược lại với thái độ thù nghịch, dửng dưng của vua Êrôđê và cả thành Jêrusalem, nhóm Magos từ phương xa đã đọc được điềm lành từ dấu hiệu vũ trụ, báo hiệu một vị vua mới trong nhân gian rất đáng tôn thờ. Họ đã đi một quãng đường dài, mang theo những lễ vật quý giá đã được chọn lựa cận thận dành cho buổi triều yết. Đó là hình ảnh cho một thế giới dân ngoại đông đúc tìm thấy niềm tin và hy vọng nơi Đức Giêsu không những trong thời Người thi hành sứ vụ công khai, mà còn kéo dài đến thời các Tông Đồ thi hành sứ vụ và qua muôn thế hệ. Hài Nhi Giêsu chính là ngôi sao của nhà Giacóp mà ngôn sứ Bilơam đã nói đến. Ánh sáng của ngôi sao này đã soi đường cho dân ngoại. Nhóm Magos đã được ánh sáng của ngôi sao dẫn đường đ đến gặp gỡ và bái thờ Hài Nhi. Ánh sáng của Hài Nhi đã soi lối mở đường cho quãng đường còn lại của họ. Khi “đi lối khác”, họ vừa tránh được âm mưu thâm độc của vua Êrôđê vừa thoát khỏi bóng đêm tội lỗi và bước vào đường nẻo bình an.

Câu chuyện Giáng Sinh của vị vua Mêsia cho thấy hai thái độ trái ngược nhau: Đón nhận và chối từ. Sự chối từ, sự thù ghét đã làm cho vua Êrôđê cũng như “tất cả Jêrusalemluôn bất an. Họ bất an, lo sợ vì nghĩ rằng Hài Nhi Giêsu sẽ chiếm lấy địa vị xã hội, cũng như vinh hoa lợi lộc của họ. Nỗi lo sợ thái quá dẫn người ta đến những âm mưu xảo quyệt, ác độc, đánh mất tình người: Âm mưu làm sao tiêu diệt được đối thủ, dù đối thủ đó chỉ là một đứa trẻ không có khả năng chống cự, bảo vệ chính mình. Âm mưu đen tối, với ác tâm, sẽ dẫn người ta đi vào bóng tối của sự chết, và sẽ không bao giờ có được sự bình an đích thực. Ngược lại, sự đón nhận, yêu mến, làm cho nhóm Magos đã dùng tất cả những phương tiện mình có, từ trí tuệ, kiến thức khoa học, trong việc nghiên cứu về ngôi sao đặc biệt để nhận ra sự xuất hiện của Đấng Cứu Tinh. Tình yêu và lòng nhiệt thành khiến họ không quản ngày đêm, vượt quãng đường xa, khó khăn, đồi núi gập ghềnh để tìm cho bằng được chủ nhân của ngôi sao mà họ đã nhìn thấy. Với lòng kính trọng, quý mến họ đã không ngần ngại bái thờ Hài Nhi và dâng những lễ vật quý giá. Sự đón nhận đã giúp nhóm Magos luôn đi trong ánh sáng và trở về quê với một lối sống mới, lối sống ngay lành, thiện tâm. Nhờ đó, họ sẽ đón nhận được ơn cứu độ mà Đấng Cứu Thế dành cho muôn dân. Có thể nói, hành trình của nhóm Magos là hành trình đi về phía ánh sáng. Họ khởi đầu bằng việc nhìn thấy ánh sáng ngôi sao tự nhiên. Chính ngôi sao ấy đã dẫn họ đến Jêrusalem nhưng lại biến mất cách lạ lùng một khoảng thời gian. Ngôi sao tự nhiên ấy sau đó lại tái xuất hiện cách lạ lùng hơn trong bộ dạng một nhân vật siêu nhiên, sống động, để có thể “đi trước dẫn đườngcho nhóm Magos đến chính xác nơi Hài Nhi ở. Khởi đầu họ có ý định đi tìm một ôngvua dân Do Tháinhưng cuối cùng họ lại được gặp gỡ vua của đất trời. Từ việc theo đuổi ánh sáng tự nhiên, soi sáng đôi mắt thể lý, họ đã được dẫn đến ánh sáng siêu nhiên soi sáng nội tâm của mình. Từ hành trình tìm kiếm thể lý, họ đã bước vào hành trình tâm linh, được Chúa dẫn đường, và cuối cùng trở về bằng lối đi khác (được chỉ dẫn trong giấc mơ). “Lối di kháctượng trưng cho một lối sống mới, lối sống của người đã gặp được Hài Nhi Giêsu bằng xương bằng thịt. Họ không quay về với vua Êrôđê bởi lẽ, nếu quay về lối ấy, họ có nguy cơ đưa lối dẫn đường cho âm mưu thâm độc của vua. Đường của họ đi bây giờ là đường của Chúa, đường dẫn đến cõi phúc thiên thai.

Ngày nay, những Hai Nhi mới chào đời, hay sắp chào đời cũng thường đối diện với hai thái độ trái ngược tương tự: Đón nhận và chối từ. Có những con người vì mong mỏi có được một đứa con đã không tiếc tiền của, thời gian để chạy chữa, tìm mọi cách đ được một lần làm mẹ, làm cha. Cũng có những nhóm người ra sức cổ vũ sự sống và bảo vệ trẻ em. Chính vì thế mà có những ngôi nhà mang tênmái ấm hy vọng”, nơi nuôi dưỡng những thai phụ có ý định phá thai nhằm nuôi hy vọng sóng sót cho các thai nhi và nhằm làm thức tỉnh lương tâm người mẹ. Tương tự, có những nghĩa trang mang tênhoa hồngnhằm chôn cất các thai nhi, những sinh linh bé bỏng, vô tội, chưa được chào đời. Đó là những con đường ánh sáng, đưa đến sự sống cho nhân loại. Tiếc thay, cũng có biết bao nhiêu người, nhân danh tự do với khẩu hiệu như “cơ thể của tôi do tôi chọn lựa” (free choice); hoặc nhân danh sự hạnh phúc tương lai của gia đình, con cái với khẩu hiệu như “gia đình có hai con, vợ chồng hạnh phúc”; hoặc vì sĩ diện; hoặc vì ích kỷ của bản thân, vì sợ khó, sợ khổ, đã cướp đi sinh mạng của những đứa bé chưa chào đời, hoặc vứt bỏ những sinh linh bé bỏng mới chào đời nơi gốc cây, xọt rác nào đó. Đó là những dấu hiệu rõ nét về sự hiện diện của nền văn minh của sự chết, nền văn minh của bóng tối dẫn đưa nhân loại đến chỗ diệt vong và đau khổ triền miên, vô tận. Tiếng khóc ai oán của những thai nhi bị giết hại sẽ luôn ám ảnh những người đã cướp đi quyền sống của chúng, khiến cho họ cả đời không thể sống bình yên được. Xem ra, câu chuyện về sự ra đời của Hài Nhi Giêsu hơn hai ngàn năm trước vẫn là câu chuyện thời sự cho nhân loại ngày hôm nay. Người đến đ đem bình an, niềm vui cho nhân loại chứ không phải để tranh giành quyền lực làm cho người ta phải lo sợ. Tuy nhiên, chỉ có những ai chọn lựa đi về phía ánh sáng thì mới thật sự đón nhận được sự bình an vĩnh cửu của Người.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD

 



[1]ἐν τῇ ἀνατολῇ” (2,2.9) cụm giới từ này được nhiều dịch giả hiểu là “trong phương Đông/ hướng Đông” (VUL, TOB, VIE, CGKPV, NTT), trong khi một số dịch giả khác hiểu là “mọc lên”: “when it rose” (ESV); “at its rising” (NAB, NRS); “spuntare la sua stella” (CEI).

[2] Khác với trình thuật của tác giả Luca, hài nhi được bọc tả, đặt nằm trong máng cỏ, vì không có một chỗ cho họ trong nhà trọ (Lc 2,7.12).

[3] Trước đây thường được hiểu là “mộc dược”, nhưng theo tác giả Huỳnh Trụ thì “một dược” là từ đúng hơn: “Myrrha nên dịch cho đúng là một dược (沒藥), chứ không phải mộc dược (沐藥)”, xem MOT-DUOC.pdf

[4] D.J. Harrington, The Gospel of Matthew (SP 1; Collegeville 1991) 41.

[5] Herod’s secrecy (λάθρᾳ, “in secret”) may be designed to keep the Jews from warning the magi of Herod’s treachery (D.A. Hagner, Matthew 1-13. (WBC; Dallas 2002) Vol. 33A, 30).

[6] D. Harrington cho rằng Magi nguyên gốc đề cập đến một đẳng cấp của những tư tế Ba Tư, với những khả năng đặc biệt về giải thích những giấc mơ. Ở đây, họ xuất hiện như những nhà chiêm tinh/ thiên văn học, những người quan sát sự di chuyển của các ngôi sao như là một chỉ dẫn cho những sự kiện chính yếu (D.J. Harrnington, The Gospel of Matthew, 42).

[7] R.E. Brown, The Birth of the Messiah. A Commentary on the Infancy Narratives in the Gospel of Matthew and Luke (New York – London – Toronto – Sydney – Auckland 1993) 168-170.

[8] R.T. France, The Gospel of Matthew (NICNT; Grand Rapids 2007) 67.

[9] D.A. Hagner, Matthew 1-13. (WBC; Dallas 2002) Vol. 33A, 27.

[10] Nơi dọc theo bờ biển Địa Trung Hải, được nhắc đến nhiều lần trong Cựu Ước (Gr 10,9; Ed 27,12; Gn 1,3; 4,2; St 10,4).

[11] Phía Nam Ảrập, ngày nay là Suđan.

[12] D.A. Hagner, Matthew 1-13, 31.

[13] X. U. Luz, Matthew 1 -7. A Continental Commentary (Minneapolis 1989) 137; W.D. Davies – D.C. Allison, Matthew I, 233.

[14] It seems then that the star’s movement gave them the final supernatural direction they needed to the specific house “where the child was” (R.T. France, The Gospel of Matthew, 74); “The real point is that by divine guidance they are able to complete their quest and find the child (D.A. Hagner, Matthew 1-13, 30).

[15] J. Ratzinger, Jesus of Nazareth. The Infancy Narratives (New York 2012) 100.

[17] D.J. Harrnington, The Gospel of Matthew, 42; R.E. Brown, The Birth of the Messiah, 190.

[18] R.T. France, The Gospel of Matthew, 70.

[19] “The point of Luke’s mention of the manger is not therefore that Jesus’ birth took place outside a normal house, but that in that particular house the “guest-room” was already occupied (by other census visitors?) so that the baby was placed in the most comfortable remaining area, a manger on the living-room floor. There is therefore no reason why they should not be in the same “house” when Matthew’s magi arrive” (R.T. France, The Gospel of Matthew, 75).

[20] X. D.J. Harrnington, The Gospel of Matthew, 43.

[21] R.E. Brown, The Birth of the Messiah, 183.

[22] Dreams, like stars, were for magi an expected form of divine revelation, and God communicates with them in the terms they would understand (R.T. France, The Gospel of Matthew, 76).