Thursday, 23 September 2021

BỊ NÉM VÀO GHEENNA HAY ĐI VÀO NƯỚC THIÊN CHÚA. Chú giải Tin Mừng CN XXVI TN B (Mc 9,38-48)


Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

38 Ἔφη αὐτῷ ὁ Ἰωάννης· διδάσκαλε, εἴδομέν τινα ἐν τῷ ὀνόματί σου ἐκβάλλοντα δαιμόνια καὶ ἐκωλύομεν αὐτόν, ὅτι οὐκ ἠκολούθει ἡμῖν.

 39 ὁ δὲ Ἰησοῦς εἶπεν· μὴ κωλύετε αὐτόν. οὐδεὶς γάρ ἐστιν ὃς ποιήσει δύναμιν ἐπὶ τῷ ὀνόματί μου καὶ δυνήσεται ταχὺ κακολογῆσαί με·

 40 ὃς γὰρ οὐκ ἔστιν καθ᾽ ἡμῶν, ὑπὲρ ἡμῶν ἐστιν.

 41 Ὃς γὰρ ἂν ποτίσῃ ὑμᾶς ποτήριον ὕδατος ἐν ὀνόματι ὅτι Χριστοῦ ἐστε, ἀμὴν λέγω ὑμῖν ὅτι οὐ μὴ ἀπολέσῃ τὸν μισθὸν αὐτοῦ.

 42 Καὶ ὃς ἂν σκανδαλίσῃ ἕνα τῶν μικρῶν τούτων τῶν πιστευόντων [εἰς ἐμέ], καλόν ἐστιν αὐτῷ μᾶλλον εἰ περίκειται μύλος ὀνικὸς περὶ τὸν τράχηλον αὐτοῦ καὶ βέβληται εἰς τὴν θάλασσαν.

 43 Καὶ ἐὰν σκανδαλίζῃ σε ἡ χείρ σου, ἀπόκοψον αὐτήν· καλόν ἐστίν σε κυλλὸν εἰσελθεῖν εἰς τὴν ζωὴν ἢ τὰς δύο χεῖρας ἔχοντα ἀπελθεῖν εἰς τὴν γέενναν, εἰς τὸ πῦρ τὸ ἄσβεστον.

 44  

 45 Καὶ ἐὰν ὁ πούς σου σκανδαλίζῃ σε, ἀπόκοψον αὐτόν· καλόν ἐστίν σε εἰσελθεῖν εἰς τὴν ζωὴν χωλὸν ἢ τοὺς δύο πόδας ἔχοντα βληθῆναι εἰς τὴν γέενναν.

 46  

 47 Καὶ ἐὰν ὁ ὀφθαλμός σου σκανδαλίζῃ σε, ἔκβαλε αὐτόν· καλόν σέ ἐστιν μονόφθαλμον εἰσελθεῖν εἰς τὴν βασιλείαν τοῦ θεοῦ ἢ δύο ὀφθαλμοὺς ἔχοντα βληθῆναι εἰς τὴν γέενναν,

 48 ὅπου ὁ σκώληξ αὐτῶν οὐ τελευτᾷ καὶ τὸ πῦρ οὐ σβέννυται.

 (Mk. 9:38-48 BGT)

38 Gioan đã nói cùng Đức Giêsu: “Thầy ơi! Chúng con thấy một ai đó nhân danh thầy mà trừ quỷ và chúng con cứ ngăn cấm anh ta, bởi vì anh ta không đang theo chúng ta.

39 Nhưng Đức Giêsu đã nói: “Đừng ngăn cấm anh ấy, không ai, người làm phép lạ nhân danh thầy và nói xấu thầy một cách nhanh chóng.

40 ai không chống lại chúng ta là, ủng hộ chúng ta.

41 Vì nếu ai cho anh em uống một cốc nước vì danh nghĩa rằng anh em thuộc về Đấng Kitô, thì thầy bảo thật anh em rằng phần thưởng của anh ta không bị hư mất

42 và nếu ai làm cớ vấp ngã cho một trong những người bé nhỏ đang tin Thầy, thì tốt hơn cho anh ta nếu cối đá lớn quanh cổ anh ta và anh ta bị ném xuống biển rồi.

43 và nếu bàn tay của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy cắt nó đi, cụt tay mà đi vào sự sống thì tốt hơn có hai bàn tay mà đi vào Gheenna vào lửa không tắt.

44

45 và nếu bàn chân của anh làm cho anh sa ngã, thì hãy cắt nó đi, cụt chân mà đi vào sự sống thì tốt hơn có hai bàn chân mà đi vào Gheenna.

46

47 và nếu mắt của anh làm cho anh sa ngã thì hãy lấy nó ra ngoài, một mắt mà vào Nước Thiên Chúa thì tốt hơn có hai mắt mà bị ném vào Gheenna

48 nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.


Bối cảnh: Đoạn (9,38-48) là đoạn cuối của chương 9. Chúng ta vẫn đang ở trong không gian riêng của Đức Giêsu và các môn đệ, không gian đó bắt đầu từ lúc Đức Giêsu cùng với các môn đệ đi băng qua vùng Galilê nhưng Người không muốn cho ai biết (Mc 9,31) vì Người đang dạy các môn đệ mầu nhiệm Khổ-Tử nạn – Phục Sinh. Ngay trước đoạn văn này là đoạn nói về cách thức sử dụng quyền lực của các môn đệ: Quyền lực là để phục vụ người khác. Người khác đó là tất cả mọi người thể hiện qua việc đón nhận, chấp nhận một trẻ em, là thành phần thường bị xem là không có địa vị, không đáng kể trong cái nhìn của người lớn. Trong đoạn này, hình ảnh “một trong những kẻ bé mọn” (ἕνα τῶν μικρῶν τούτων) nối tiếp với hình ảnh “đứa trẻ” trong đoạn trước đó. Chủ đề trừ quỷ “nhân danh Đức Giêsu” (9,38.39), cũng liên hệ chặt chẽ với việc tiếp đón một đứa trẻ vì danh Đức Giêsu (9,37) ngay trước đó (9,37). Động từ “làm cớ vấp ngã” (skandalizo) gợi nhớ đến hành động ngăn cản Đức Giêsu trong lần tiền báo về Khổ-Tử nạn – Phục Sinh thứ nhất, trong đó Đức Giêsu đã nói cùng Phêrô rằng: “Anh là cớ vấp phạm của Thầy” (Mt 16,23). Chủ đề về “Gheenna” (hỏa ngục) (9,43.45.47) là chủ đề khá phổ biến nói về hình phạt cánh chung (Mt 25,46; Lc 16,23). Hình ảnh “lửa không hề tắt” (Mc 9,43.48) được nói đến nhiều trong Mátthêu cũng như Luca (lửa đời đời [Mt 18,8;25,41]; “quăng vào lửa” [Lc 3,9]. Hình ảnh “mắt làm cớ sa ngã” gợi nhớ đến lời dạy về tầm quan trọng của con mắt trong Mátthêu và Luca. Mátthêu và Luca nói đến “con mắt” như đèn của thân thể, “nếu mắt khỏe khoắn thì toàn thân sẽ tràn ngập ánh sáng, và ngược lại (Mt 6,22.23; Cf. Lc 11,34). Chủ đề “Nước Trời” như là một phần thưởng đời đời (vào Nước Trời, Thiên Đàng) cũng là một chủ đề mang tính cánh chung tiêu biểu.

Cấu trúc: Đoạn Tin Mừng Mc 9,38-48 có thể được chia thành 3 phần nhỏ dựa theo chủ đề của từng phần. Phần thứ nhất là một cấu trúc song song gồm có hai tiểu thành phần: (a) Các môn đệ ngăn cấm một người trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu// (a’) Mệnh lệnh của Đức Giêsu: Đừng ngăn cấm anh ta; (b) Lý do ngăn cấm: Vì anh ta không theo nhóm các môn đệ// (b’) Lý do không ngăn cấm: Vì không chống là ủng hộ. Phần thứ hai nói về việc đối đãi các môn đệ vì danh Đức Giêsu và phần thưởng của việc đối đãi đó. Phần thứ ba: Các cớ gây vấp phạm và cách thức xử lý tốt nhất.

I.      Bối cảnh: Một ai đó trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu (9,38a)

(a) Các môn đệ ngăn cấm (9,38b)

(b) Lý do ngăn cấm: không theo (9,38c)

(a’) Đức Giêsu ra lệnh “đừng ngăn cấm” (9,39a)

(b’) Lý do không ngăn cấm: không chống là ủng hộ (9,39b-40)

II.            Cho uống một cốc nước vì danh Đức Kitô và phần thưởng (9,41)

III.          Cớ sa ngã và giải pháp: Điệp khúc 4 lần “Nếu… thì”

(a) Con người – buộc cối đá và ném xuống biển

(b) Bàn tay – chặt – đi vào sự sống

(c) Bàn chân – chặt – đi vào sự sống

(d) Con mắt – móc – đi vào Nước Thiên Chúa

Một số điểm chú giải

1.     Trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu: Quyền trừ quỷ là quyền riêng của Đức Giêsu. Đây là một trong những năng lực để nhận ra Người là Con Thiên Chúa. Dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa con người (Lc 11,20; Mt 12,28). Trong bối cảnh gần nhất, Người vừa mới trục xuất tên quỷ câm gây ra bệnh kinh phong (Mc 9,24-29). Tuy vậy, Người cũng chia sẻ quyền này cho các môn đệ (Mc 6,7: Người ban cho các ông quyền trừ quỷ). Nhờ đó, các môn đệ “trừ được nhiều quỷ” (Mc 6,13; Lc 10,17). Cuối cùng, những người tin cũng có thể trừ được quỷ nhân danh Đức Giêsu (Mc 6,17: Đây là những dấu lạ kèm theo những người tin, nhân danh Thầy họ sẽ trừ được quỷ; họ sẽ nói được những ngôn ngữ mới). Công thức trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu được thánh Phaolô sử dụng khi trục xuất quỷ khỏi một đầy tớ gái: “Nhân danh Đức Giêsu Kitô, tôi truyền cho ngươi phải xuất khỏi người này” (Cv 16,18). Cụm từ giới từ “trong danh” (hay nhân danh)[1] được dùng khá nhiều trong bối cảnh chương 9: “Bất cứ ai đón nhận đứa trẻ nhân danh Đức Giêsu là đón nhận Người” (9,37); Trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu (9,38.39); Cho các môn đệ uống một cốc nước nhân danh rằng anh em thuộc về Đức Kitô” (9,41). Như thế, những người không thuộc nhóm các môn đệ, nhưng cũng có thể trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu, miễn là họ tin vào Người. Bất cứ điều gì được làm nhân danh Đức Giêsu đều là điều tốt và được Đức Giêsu ủng hộ.

2.     Ngăn cấm: Các môn đệ ngăn cấm người trừ quỷ vì họ không theo nhóm các môn đệ. Cả hai động từ “ngăn cấm” và “đi theo” cùng được dùng ở thì vị hoàn (chưa hoàn thành), diễn tả một sự tiếp diễn: Các môn đệ “đang ngăn cấm” vì người này “không đang theo” họ. Có thể họ ngụ ý là không gia nhập nhóm của các môn đệ.[2] Điều này ngụ ý rằng trong suy nghĩ các môn đệ, hành động trừ quỷ “nhân danh” Đức Giêsu đã được Gioan hiểu như là độc quyền của các thành viên nhóm các môn đệ (Mc 6,7-13). Không ai khác có thể làm. Câu nói về sự ngăn cấm này đến từ Gioan. Điều này cũng không lạ lắm, vì Gioan và Giacôbê được mệnh danh là “con của thần sấm” (Boenêghê) (Mc 3,17). Chính Gioan và Giacôbê cũng xin lệnh thiêu hủy thành Samari, khi họ không đón tiếp Đức Giêsu (Lc 9,54), nhưng Đức Giêsu đã không đồng ý và quở trách các ông (Lc 19,55). Sự thể hiện uy quyền, và bảo vệ đặc quyền đã xuất hiện trong các môn đệ. Trong chương tiếp theo, các môn đệ cũng ngăn cấm trẻ em đến với Đức Giêsu và Đức Giêsu cũng ra lệnh là “đừng ngăn cấm chúng” (Mc 10,13-14). Mệnh lệnh của Đức Giêsu cho thấy cách nghĩ của Người hoàn toàn khác với các môn đệ. Thêm một bài học về sự đón nhận cách người khác cho các môn đệ. Đức Giêsu vô hiệu hóa lệnh cấm của các môn đệ. Lý do Người đưa ra là: Không ai nhân danh Người làm phép lạ, rồi lại nói xấu Người ngay lập tức. Nghĩa là, ít nhất họ cũng tôn trọng Người và hiểu biết rằng sở dĩ quỷ bị trục xuất là nhờ danh của Đức Giêsu. Các môn đệ đưa ra lý do là “không theo”, Đức Giêsu lại lấy lý do là không lập tức “nói xấu”. Có vẻ như, Đức Giêsu muốn nói rằng không cần đi theo, chỉ cần không nói xấu là được. Quyền trừ quỷ không còn là độc quyền của nhóm các môn đệ nữa, nhưng được ra cho nhiều người khác. Câu chuyện này gợi nhớ đến câu chuyện trong sách Dân Số, trong đó ông Giôsuê xin ông Môsê ngăn chặn Eldad và Medad nói tiên tri, vì họ không thuộc nhóm bảy mươi kỳ mục được Thần Khí ngự xuống. Ông Môsê đã đáp trả rằng: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Thiên Chúa ban Thần Khí trên toàn dân, để họ đều là ngôn sứ” (Ds 11,26-29). Nhóm các môn đệ ở đây giống như nhóm bảy mươi kỳ mục, còn người trừ quỷ này ở ngoài nhóm. Luca dường như nhận ra câu chuyện Eldad và Medad nhấn mạnh Mc 9,38-40, bởi vì câu chuyện song song của ông với câu chuyện này của Máccô (Lc 9,49-50), gần như được theo sau bởi câu chuyện Đức Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ đi rao giảng (Lc 10,1). Có nghĩa là, chuyện rao giảng và làm phép lạ không phải là độc quyền của một nhóm nhỏ các môn đệ.

3.     Không chống …ủng hộ: Đức Giêsu thêm một mệnh đề chỉ lý do nữa để đảm bảo chắc chắn cho lý do trước: ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta. Đây có thể là một câu tục ngữ người ta thường dùng thời ấy. Một bản văn giấy cói có niên đại khoảng cuối thế ký thứ ba hoặc đầu thế kỷ thứ tư (P. Oxy.1224), có thể là một mảng của một Tin Mừng ngụy thư, thêm đoạn giải thích rằng: “Người hôm nay xa, ngày mai sẽ gần”. Đây cũng có thể là biểu lộ niềm hy vọng cánh chung của cộng đoàn Máccô về một sự gia nhập của cộng đoàn của những người ở ngoài.[3] Giới từ “ὑπὲρ” + túc từ ở thuộc cách có nghĩa là “thay cho”, “nhân danh”, “vì”. Người này trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu là làm vì Người và thay cho Người. Như vậy, hành vi trừ quỷ của người này có ý nghĩa là làm thay cho Đức Giêsu, cùng làm với nhóm các môn đệ.

4.     Một cốc nước…không mất phần thưởng:[4] Một cốc nước như là một hình ảnh hết sức bình thường và đơn giản của đời người, mà vẫn không mất phần thưởng. Đức Giêsu thường nối kết một hình ảnh thấp nhất với hình ảnh cao nhất để dạy mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Trước đó, Người đã nối kết giữa sự đón nhận một đứa trẻ không chút địa vị, hay vị thế xã hội với sự đón tiếp chính Người và đón tiếp Chúa Cha. Hình ảnh “cho uống một cốc nước” tưởng là bình thường nhưng “trong danh nghĩa người ấy thuộc về Đức Kitô” thì lại được đáp trả bằng một phần thưởng. Một nghĩa cử đơn giản trong danh Đức Kitô có thể trở hành một hành động đáng quý trọng. Danh từ “phần thưởng” (μισθὸς) theo nghĩa đen là sự báo đáp về tài chính cho những dịch vụ được thực hiện hay có thể dịch là “lương bổng” (Mt 20,8; Ga 4,36). Trong Tân Ước, nó được hiểu cách ẩn dụ như là một phần thưởng là phúc lành cánh chung, mà những người làm việc cho Chúa hay chịu đau khổ vì đức tin sẽ được lãnh nhận (Mt 5,12 // Lc 6,23; Lc 6,35).[5] Hành vi trao tặng người môn đệ một cốc nước đơn giản, sẽ nhận được phần thưởng cánh chung là phúc lành của Chúa Cha. Hành động cho uống một cốc nước vì lẽ các môn đệ thuộc về Đức Kitô, song song với hình ảnh một người trừ quỷ nhân danh Đức Kitô. Họ có thể là người ở ngoài, không thuộc về nhóm các môn đệ. Tuy nhiên, hành động của họ làm lại là hành động của một người môn đệ, vì họ làm nhân danh Đức Kitô. Nếu hành động cho “những người thuộc về Đức Kitô uống một cốc nước” được nhận phẩn thưởng cánh chung thì sứ vụ “trừ quỷ” còn đáng được nhận phần thưởng gấp bội. Hành động cho người khác uống một cốc nước, nhắc nhớ đến bối cảnh cánh chung nơi Đức Giêsu ban phần thưởng đời đời cho những người đã cho “kẻ khát” uống nước (Mt 25,35.37) và trừng phạt kẻ không cho “người khát” uống nước (Mt 25,42.44).

5.     Cớ vấp ngã (người, tay, chân, mắt): Một loạt bốn cớ vấp ngã được Đức Giêsu đưa ra. Động từ “σκανδαλίζω” (skandalizo) được lặp lại bốn lần, ở giả định cách, trong “mệnh đề điều kiện” (nếu…). Đây là loại câu điều kiện diễn tả sự mong đợi dựa trên một quan điểm chung hoặc cụ thể tồn tại trong hiện tại.[6] Động từ skandalizo có nghĩa là làm cho ai đó phạm tội, hoặc làm cớ cho ai đó sa ngã.[7] Cấu trúc của những câu nói về cớ vấp ngã gần như giống nhau hoàn toàn: Cớ vấp ngã + Giải pháp (Mệnh lệnh) + Giải thích. Ngoại trừ câu văn nói về cớ vấp phạm thứ nhất không có lời giải thích, còn lại cả 3 câu còn lại đều có đầy đủ 3 thành phần. Cấu trúc được lặp lại nhiều lần như một điệp khúc.

Cớ vấp ngã thứ nhất là một con người: “Nếu ai đó làm cớ vấp ngã” và đối tượng có nguy cơ bị vấp ngã cũng là một người (người nhỏ bé đang tin). Giải pháp tốt hơn cho người này là “treo miếng trên của cối đá quanh cổ mà ném xuống biển cho rồi”. Nghĩa là, nếu phải chọn giữa việc làm cho một người bé nhỏ đang tin Đức Giêsu phải sa ngã và buộc miếng trên của cối đá mà ném xuống biến, thì chọn lựa sau vẫn tốt hơn. Đó là một giải pháp quá nặng nề, dường như không còn lối thoát cho người ấy. Miếng trên của cối đá là vật rất nặng, con lừa phải kéo mới xoay được.[8] Với cối đá như thế trên cổ mà rơi xuống biển thì chết chắc.[9] Động từ “ném” (βέβληται) cũng có nghĩa rất mạnh. Động từ này được dùng ở thì hoàn thành, trong câu điều kiện để diễn tả một hành động giả định, không có thực. Nói tóm lại, làm cho một người bé nhỏ bị sa ngã là một điều rất nặng, thà chết ngộp dưới biển còn hơn là làm cớ cho người ấy sa ngã. Hình ảnh ném xuống biển gợi nhớ đến hình ảnh hai ngàn con heo bị quỷ nhập rơi xuống biển và chết ngộp (Mc 5,13). Biển sâu và nơi chốn của ma quỷ. “Một trong những người bé nhỏ đang tin” Đức Giêsu trong bối cảnh này rất có thể là “đứa trẻ”.[10] Trước đó Đức Giêsu đã đặt đứa trẻ giữa các môn đệ và Người đang dạy các môn đệ bài học về sự đón nhận (Mc 9,36-37). Tuy nhiên, những người bé mọn này cũng có thể được mở rộng ra cho tất cả những Kitô hữu hiền lành, đơn sơ và giản dị.[11]

Những cớ vấp phạm còn lại là những phần thân thể tiêu biểu của con người: Bàn tay, bàn chân, con mắt. Bàn tay là công cụ cụ thể để hoàn tất những mục đích của con người[12]. Con mắt chính là đèn của thân thể, nếu mắt tốt khỏe thì toàn thân sẽ sáng, còn mắt xấu thì toàn thân sẽ tối (x. Mt 6,22-23; Lc 11,34). Người Việt Nam cũng hay nói rằng “con mắt là cửa sổ của tâm hồn con người”. Sách Huấn Ca dạy rằng: “Chớ nhìn người trinh nữ một cách chăm chú kẻo ngươi bị sa ngã và gánh lấy án tử vì nàng” (Hc 9,5). Đức Giêsu cũng dạy rằng: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,28). Đó là những sa ngã đến từ con mắt. Người Việt Nam liên hệ bàn tay với thói ăn cắp “ăn cắp quen tay”. Trong tài liệu của các Rabbi Do Thái gọi là Babylon Talmud (b. Nid. 13a-b, tk.III-VI CE), cớ sa ngã “bàn tay” được hiểu như là tật thủ dâm của đàn ông.[13] Giải pháp để tránh những cớ vấp ngã này rất nặng nề và ghê rợn: Chặt bàn tay, chặt bàn chân, món con mắt. Thế nhưng, những chọn lựa này lại tốt hơn là để cho những bộ phận này làm cớ cho một người vấp ngã. Lý do những vấp ngã nghiêm trọng có thể dẫn đến mất sự sống đời đời. Còn mất một phần thân thể, mà tránh được vấp ngã thì sẽ được đi vào sự sống hay đi vào Nước Thiên Chúa. Mục đích tối hậu là sự sống và Nước Thiên Chúa. Dĩ nhiên ai cũng muốn vẹn cả đôi bề: Muốn vào sự sống và Nước Thiên Chúa với một thân thể lành lặn. Tuy nhiên, nhiều lúc người ta phải chọn lựa, hy sinh để đi đến một kết cục cao đẹp.

Phải hiểu thế nào về các mệnh lệnh như chặt bàn tay, chặt bàn chân và móc mắt? Các nhà chú giải ngày nay có trích dẫn hình phạt chặt tay trong Cựu Ước (Đnl 21,11-12) hay móc mắt (Xh 21,23-25; Lv 24,20; Đnl 19,21) nhưng cũng không quên kèm theo cách hiểu theo nghĩa ẩn dụ của các tác giả Do Thái thời sơ khai (Philo Special Laws, 3.179; Các rabbi, Babilon Talmud, b.B. Qam. 83b-84a).[14] Cũng rất hợp lý khi hiểu theo nghĩa đen những mệnh lệnh này. Xét về tâm linh, nếu người ta muốn vào sự sống, vào Nước Thiên Chúa, là nơi ở tốt nhất thì nếu có phải đánh đổi một hay vài phần thân thể liệu nào có xá gì? Các thánh tử đạo đã chẳng sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình, để làm chứng cho niềm tin của mình đó sao? Mạng sống mà người ta còn hy sinh được huống hồ một phần thân thể? Trong truyền thống Do Thái, chúng ta cũng tìm gặp được một tinh thần đáng thán phục của bà mẹ có bẩy người con bị giết trong một ngày: “Bà mẹ là người rất mực xứng đáng cho ta khâm phục và kính cẩn ghi nhớ. Bà thấy bảy người con trai phải chết nội trong có một ngày, thế mà bà vẫn can đảm chịu đựng nhờ niềm trông cậy bà đặt nơi Đức Chúa. Bà dùng tiếng mẹ đẻ mà khuyến khích từng người một, lòng bà đầy tâm tình cao thượng; lời lẽ của bà tuy là của một người phụ nữ, nhưng lại sôi sục một chí khí nam nhi; bà nói với các con: Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con hơi thở và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Đấng Tạo Hóa càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con hơi thở và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình” (2 Mcb 7,20-23). Xét về ý nghĩa thể lý, người ta chẳng phải hy sinh một cái tay, cái chân, con mắt, bộ ngực để chữa trị những căn bệnh ung thư đó sao? Đó chẳng phải là hy sinh một phần thân thể để cứu mạng sống đó sao? Nhưng mà nếu làm thế, thì chắc là hầu hết các Kitô hữu tàn tật về mặt thể lý hết. Có người cụt tay, có người cụt chân, có người mất mắt… các giáo xứ sẽ trở thành nhà khuyết tật hết. Ngày này người ta đề cao ý chí, lý trí và tự do của con người nhiều hơn. Những hình thức tu khổ hạnh như là “đánh tội” ngày xưa đã bị Giáo Hội cấm đoán từ lâu. Những người khấn đời sống khiết tịnh trong đời tu không phải là những hoạn nhân, nhưng phải có sức khỏe hết sức bình thường. Nếu là hoạn nhân thì chẳng cần khấn đức khiết tịnh, vì có khả năng làm chuyện ấy đâu mà khấn làm gì.[15] Mỗi người phải dùng lý trí để phân định những điều đúng sai và phải dùng tự do để chọn lựa điều tốt và dùng ý chí để dứt khoát với tội lỗi của mình. Các tín hữu phải ý thức rõ nguy hại của sự sa ngã để làm hết sức mình, một cách liên lỉ để vượt thắng nó. Sự vượt thắng những thói quen xấu đòi hỏi những hy sinh và can đảm dứt khoát.[16]  Thánh Phanxicô được cho là đã lăn vào cụm hoa hồng có gai trong cơn cám dỗ xác thịt của người. Vì vậy, ngày nay trong khuôn viên dòng tu nơi ngài đã sống trước đây có một vườn hoa hồng không có gai.

6.     Gheenna (địa ngục): Thường được chuyển ngữ qua các ngôn ngữ hiện đại như là “địa ngục”, “hỏa ngục”. Thực ra, Gheenna là chuyển tự tiếng Hy Lạp từ tiếng Aram (גי הנם) (ghe-himnom: Thung lũng Hinnom). Thung lũng này được đồng hóa với “một vòng sâu và rộng mang tên Wadi er-Ranabeh quanh thành cổ Jêrusalem về phía Nam và phía Tây. Thung lũng trở thành biểu tượng tiêu cực, vì những vị vua của Giuđa (vd. Akhát và Manasse – tham gia vào việc sát tế trẻ em cho thần Môléc tại đó (2 Sbn 28,3; 33,6). Khi vua Giôsia (640-609) làm cuộc cải cách tôn giáo, ông đã cho phá hủy các đền thờ thần ngoại trong đó có đền thờ thần Môléc (2 V 16,3; 21,6; 23,10). Nơi này trở thành nơi trừng phạt bắt đầu từ thời ngôn sứ Jêrêmia, người đã đổi tên nó thành “thung lũng tàn sát” và đã dự báo rằng nó sẽ được lấp đầy bởi những xác chết, trở thành mồi cho chim trời và giã thú suốt thời Jêrusalem bị phá hủy (Gr 7,30-34; 19,1-13).[17]

7.      Sự sống - Nước Thiên Chúa: Nước Thiên Chúa là một chủ đề rất quan trọng trong giáo huấn của Đức Giêsu. Có thể nói đây là chủ đề trung tâm của giáo huấn Đức Giêsu. Chủ đề này được Đức Giêsu giới thiệu ngay từ lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu: “Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần, anh chị em hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Đó là nơi chốn mà các môn đệ phải tìm kiếm trước hết (Mt 6,3: Trước hết phải tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người). Đức Giêsu dùng rất nhiều dụ ngôn để giải nghĩa về Nước Thiên Chúa: “Người gieo giống” (Mc 4,1-9; 13-20); “Hạt giống tự mọc lên và sinh hoa trái” (Mc 4,26-29); “Cây cải” (Mc 4,30-32). Trong bối cảnh gần câu chuyện này nhất, Đức Giêsu tuyên bố Nước Thiên Chúa là của những ai giống như những đứa trẻ (Mc 10,14-15; Lc 18,16). Mục đích của Đức Giêsu được sai đi là “loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành” (Lc 4,43; Mt 9,35). Các môn đệ cũng chung sứ vụ rao giảng Nước Thiên Chúa như Đức Giêsu vậy (Lc 9,2). Trong bài giảng về các mối phúc, có hai lần phần thưởng Nước Trời[18] được Đức Giêsu nói đến:(i) Cho những người có tinh thần nghèo khó (Mt 5,3); (ii) Cho những người bị bách hại vì sống công chính (Mt 5,10). Sự công chính của các môn đệ phải vượt trên sự công chính của các kinh sư và Pharisêu thì mới vươn tới Nước Trời (Mt 5,20).

Phần thưởng “đi vào Nước Thiên Chúa” song song hoặc giao thoa với “đi vào sự sống”. Cụm động từ “đi vào sự sống” (εἰσελθεῖν εἰς τὴν ζωὴν) được dùng 2 lần (9,43.45) trong khi đó “đi vào Nước Thiên Chúa” (εἰς τὴν βασιλείαν) được dùng một lần (9,47). “Đi vào sự sống” được dùng với cớ vấp phạm là bàn tay và bàn chân; “Đi vào Nước Thiên Chúa” gắn với cớ vấp phạm con mắt. Cả hai cụm từ đều được nhắm đến như một mục tiêu tốt đẹp mà một người phải đạt được ngay cả khi phải hy sinh một phần thân thể để tránh đi cớ vấp phạm. Nước Trời là cùng đích cuối cùng của một con người và sự sống cũng vậy. “Sự sống” ở đây có thể là cách nói ngắn gọn của sự sống vĩnh cửu. Chỉ có sự sống ấy mới đáng để cho người ta đánh đổi, ngay cả những phần thân thể của mình. “Sự sống đời đời” là ao ước cả đời của mỗi người: “Thưa Thầy! Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10,17; Mt 19,16; Lc 18,18). Đó cũng là phần thưởng hậu hĩ nhất Đức Giêsu hứa cho những ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, hay ruộng đất vì danh Người (Mt 19,29; Mc 10,30 và Lc 18,30 còn thêm chữ “đời sau”); là phần thưởng dành cho những người công chính trong cuộc phán xét cuối cùng (Mt 25,46). Đó có thể chỉ là hai cách dùng khác nhau để diễn tả cùng một thực tại của phận người. Nước Thiên Chúa chỉ một nơi chốn nơi có Chúa là cha hiện diện và “đi vào sự sống” là sống vĩnh cửu, hạnh phúc với Chúa.[19] Có thể hiểu là “đi vào Nước Thiên Chúa và sống sống vĩnh cửu với Chúa trong Nước của Người. Thực tại này đối nghịch lại với hình phạt khủng khiếp là “đi vào Gheenna” (9,42) hay “đi xuống biển” (9, 43.45.46) là nơi lửa không hề tắt và dòi bọ không hề chết (9,48). Đây là lối diễn tả cho hình phạt đời đời, đối lại với sự sống đời đời. Cụm giới từ “vào trong Gheenna” được lặp lại 3 lần như một điệp khúc rùng rợn khiến cho những độc giả yếu tim phải rợn tóc gáy. Động từ “ballo” (βάλλω, ném, quăng: Ném xuống biển, ném vào Gheenna), được dùng 3 lần làm cho hình phạt càng tăng thêm sự nặng nề đáng sợ.

Bình Luận Tổng Quát

Đức Giêsu đang dạy các môn đệ một bài học về sự đón nhận. Đón nhận người bé mọn nhất là đón nhận Người, đón nhận Người là đón nhận Đấng đã sai Người. Các môn đệ dường như vẫn cảm thấy khó đón nhận một người khác, một người đang trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu. Họ vừa được dạy là đón nhận một em nhỏ nhân dành Người là đón nhận Người (Mc 9,37). Như vậy, trừ quỷ nhân danh Người chẳng phải là làm vì Người đó sao, mà làm vì Người là làm vì Chúa Cha. Có lẽ, họ vẫn muốn quyền trừ quỷ phải là quyền dành riêng cho họ, những người được Chúa chọn. Trong thế giới dân ngoại, có biết bao nhiêu người làm những việc tốt lành vì danh Chúa, liệu họ cũng muốn cấm đoán hết hay sao? Nhóm nhỏ của họ sẽ bao việc hết hay sao? Môsê đã từng nhắc nhở môn đệ Giôsuê cũng vì ghen thay cho thầy khi thấy những người không thuộc nhóm 72 kỳ mục cũng nói tiên tri. Đức Giêsu còn nhấn mạnh thêm, ai cho anh em uống một cốc nước, vì lẽ anh em thuộc về Đức Kitô thì phần thưởng dành cho người ấy sẽ không bị hư mất. Vấn đề không phải là thuộc nhóm này hay nhóm kia nhưng là có làm vì danh Đức Kitô hay không. Những việc tốt lành vì danh Chúa sẽ nối kết mọi người xa lạ lại với nhau. Thánh Phaolô đã từng nhắc nhở các tín hữu thành Côrintô về sự “ghen tương, cãi cọ” (1Cr 3,3), khi họ nói rằng: “Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về Apôlô, tôi thuộc về Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô” (1 Cr 1,12). Thánh Phaolô cho rằng thái độ đó làm cho Đức Kitô bị chia năm sẻ bảy rồi (1Cr 1,13). Sự chia rẽ không được nhấn mạnh ở đây nhưng sự bao gồm và đón nhận và đừng xem mình như là những người tốt nhất cho sứ vụ là những điều đáng phải lưu tâm. Trong đại dịch Covid tại TpHCM người ta đang cảm thấy an ủi, ngưỡng mộ vì hình ảnh những tu sĩ Phật Giáo, Tin Lành, và Công Giáo đã kề vai sát cánh bênh nhau trong các Bệnh viện hồi sức cho bệnh nhân Covid. Có thể nói rằng chỉ có virus Covid mới quy tụ, nối kết họ lại một cách quy mô và rầm rộ như vậy, bởi xưa nay mỗi nhóm vẫn làm nhiệm vụ yêu thương một cách riêng rẽ. Các tín hữu Kitô liệu có thể than trách, cấm đoán các tín hữu khác vì họ không thuộc nhóm của họ, không cùng đức tin với họ hay không?

Một cốc nước và phần thưởng đời đời. Cho người khác uống một cốc nước chỉ là hành động xã giao, lịch sự thường ngày, nhưng lại được phần thưởng vĩnh cửu. Từ một điều bình dị vươn đến một hiệu quả phi thường. Điều gì đã làm nên sự phi thường đó? Thưa! Đó chính là cầu nối Đức Kitô. Mọi hành động bình thường nếu được làm vì danh Đức Kitô thì đều trở nên phi thường và đáng được nhận phần thưởng cao quý. Đức Giêsu vừa giúp các môn đệ trân trọng những hành vi bình thường đôi khi chẳng đáng để ý phát xuất từ tấm lòng của người khác, vừa giúp cho các tin hữu để tâm mình vào mỗi hành động thường ngày trong cuộc sống, mời Đức Kitô hiện diện trong từng hành động nhỏ bé của mình. Có Đức Kitô thì mọi hành động sẽ trở nên lớn lao.

Trong đời sống cộng đồng có người mạnh người yếu về đức tin. Làm cớ cho người khác vấp ngã và phạm tội là một điều rất hệ trọng. Nó được xem là nặng nề hơn là một cái chết thê thảm như là buộc miếng trên của cối đá mà ném xuống biển sâu. Cám dỗ người khác phạm tội lại là một hành động đáng bị hình phạt tử hình. Chúa Giêsu dùng hình ảnh một hình phạt nặng nề ấy, để giúp các môn đệ để tâm đến cách sống và cách hành động của mình, để không bao giờ nên cớ phạm tội cho người khác, nhất là những người “bé mọn” về thể lý, cũng như về đức tin.

Mục tiêu cuối cùng của con người là đi vào Nước Thiên Chúa, nước Thiên Đàng mà Đức Giêsu đã giới thiệu ngay từ lời đầu tiên của sứ vụ công khai (Mc 1,15: Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần, anh chị em hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng). Ai cũng có ba món quà quý giá: Một lý trí để phân định tốt, xấu, đúng, sai; Một sự tự do để chọn lựa điều tốt; Và một ý chí để kiên trình hành động đúng. Những cớ vấp ngã có thể đến từ những bàn tay, bàn chân, con mắt, đôi tai… nói chung là một phần nào đó của thân thể con người. Những cớ vấp ngã đó làm cho người ta phạm tội, tách lìa khỏi Thiên Chúa là nguồn sự sống. Mỗi cá nhân phải ý thức cách rõ ràng và có thái độ dứt khoát, hành động mạnh mẽ để dứt bỏ những thói hư tật xấu của mình. Những quyết tâm đó đôi lúc đòi hỏi sự hy sinh đau đón như mất một phần thân thể vậy. Cách nói của Đức Giêsu như “cắt” (chân, tay), “móc” (mắt), “ném” (vào Gheenna) làm cho các tín hữu thấy được sự nặng nề của tội lỗi mà xa tránh. Chỉ nên hiểu những hình ảnh ấy theo nghĩa ẩn dụ chứ không theo nghĩa đen. Chiến đấu liên lỷ với cám dỗ của mình là hoạt động liên lỉ, từng phút giây trong cả cuộc đời. Giả như người ta bị hoạn rồi thì đức khiết tịnh nào có giá trị gì? Giả như người ta không khoái cảm về ăn uống thì ăn chay có ý nghĩa gì đâu?

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD.

 



[1] According to J. Marcus, the reason why people do something “in the name of” someone is “because of the ancient association of the name of a person or thing with its presence or power, “in the name of” can mean “in the power of” (see 11:9; 13:13; cf. Ps 54:1; Acts 4:7) or “for the sake of” (see 9:37, 41) [J. Marcus, Mark 8–16. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) XXVII A, 684].

[2] J. Marcus hiểu rằng “không theo chúng ta” nghĩa là không phải ki-tô hữu (J. Marcus, 684). Tuy nhiên, thời Đức Giê-su có vẻ danh xưng ki-tô hữu chưa rõ ràng cho lắm. Vì thế, tốt hơn nên hiểu là theo nhóm các môn đệ.

[4] “According to Bultmann, v. 41 originally followed upon v. 37 and they “belong together.” He also concluded that v. 41 originally spoke about “children” (παιδία) rather than “you” (ὑμεῖς), just as Matt 10:40 originally spoke about “little ones” (μικροί), like 10:42, rather than “you” (ὑμεῖς). The changes were made to make the saying applicable to the early church. Therefore, in his view, v. 41, like v. 37, is a saying about kindness to children that comes from Jewish tradition [A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark, 449].

[6] F. Blass – A. Debrunner, A Greek Grammar of the New Testament and Other Early Christian Literature (Chicago 1961) 188.

[7] A Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Early Christian Literature (ed. W. Arndt et al.) (Chicago 2000) 926.

[9] R.T. France, The Gospel Of Mark. A Commentary on The Greek Text (NIGTC; Grand Rapids 2002) 380; C.A. Evans, Mark 8:27-16:20 (WBC; Dallas 2002) 34B, 70.

[10] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark, 450.

[12] Ibid.

[13] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark, 451.

[15] Giáo phụ Origen (184-253 CE, cùng thời với giáo phụ Tertuliano), là một giáo phụ nổi tiếng thông minh, hiểu biết, lỗi lạc và có lối sống khổ hạnh. Ông được cho là đã thực lời dạy của Đức Giê-su liên quan đến “hoạn vì Nước Trời” theo nghĩa đen. Có lẽ vì thế mà ông không được Giáo hội tuyên thánh. (x. Eusebio, History of the Church, 6.8.1,2,3 (bản dịch từ tiếng Hy Lạp qua tiếng Latin của Rufunus of Aquileia, bản dịch từ Latin qua tiếng Anh của P.R. Amidon, Washington, 2016) 243].

[16] It means that it may be necessary to excise some habit, to abandon some pleasure, to give up some friendship, to cut out some thing which has become very dear to us, in order to be fully obedient to the will of God. This is not a matter with which anyone can deal for anyone else. It is solely a matter of a man’s individual conscience, and it means that, if there is anything in our lives which is coming between us and a perfect obedience to the will of God, however much habit and custom may have made it part of our lives, it must be rooted out. The rooting out may be as painful as a surgical operation, it may seem like cutting out part of our own body, but if we are to know real life, real happiness and real peace it must go [W. Barlcay, The Gospel of Mark (DSB; Philadelphia 2000, c1975) 232].

 [17] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 453; J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 287-288; C.A. Evans, Mark 8:27-16:20 (WBC; Dallas 2002) 34B, 72.

[18] Thánh Mát-thêu hay dùng Nước Trời thay vì Nước Thiên Chúa như Mác-cô và Luca.

[19] The expression "enter into life" in vv. 43 and 45 is replaced by "enter into the kingdom of God" in v. 47, thus suggesting an equivalency or at least a parallelism. [J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2002) 287].

Friday, 17 September 2021

TỪ ĐÓN TIẾP ĐỨA TRẺ ĐẾN ĐÓN TIẾP CHÚA CHA. Chú giải Tin Mừng CN XXV TN B (MC 9,30-37)

 Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

30 Κἀκεῖθεν ἐξελθόντες παρεπορεύοντο διὰ τῆς Γαλιλαίας, καὶ οὐκ ἤθελεν ἵνα τις γνοῖ·

 31 ἐδίδασκεν γὰρ τοὺς μαθητὰς αὐτοῦ καὶ ἔλεγεν αὐτοῖς ὅτι ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου παραδίδοται εἰς χεῖρας ἀνθρώπων, καὶ ἀποκτενοῦσιν αὐτόν, καὶ ἀποκτανθεὶς μετὰ τρεῖς ἡμέρας ἀναστήσεται.

 32 οἱ δὲ ἠγνόουν τὸ ῥῆμα, καὶ ἐφοβοῦντο αὐτὸν ἐπερωτῆσαι.

 33 Καὶ ἦλθον εἰς Καφαρναούμ. Καὶ ἐν τῇ οἰκίᾳ γενόμενος ἐπηρώτα αὐτούς· τί ἐν τῇ ὁδῷ διελογίζεσθε;

 34 οἱ δὲ ἐσιώπων· πρὸς ἀλλήλους γὰρ διελέχθησαν ἐν τῇ ὁδῷ τίς μείζων.

 35 καὶ καθίσας ἐφώνησεν τοὺς δώδεκα καὶ λέγει αὐτοῖς· εἴ τις θέλει πρῶτος εἶναι, ἔσται πάντων ἔσχατος καὶ πάντων διάκονος.

 36 καὶ λαβὼν παιδίον ἔστησεν αὐτὸ ἐν μέσῳ αὐτῶν καὶ ἐναγκαλισάμενος αὐτὸ εἶπεν αὐτοῖς·

 37 ὃς ἂν ἓν τῶν τοιούτων παιδίων δέξηται ἐπὶ τῷ ὀνόματί μου, ἐμὲ δέχεται· καὶ ὃς ἂν ἐμὲ δέχηται, οὐκ ἐμὲ δέχεται ἀλλὰ τὸν ἀποστείλαντά με. (Mk. 9:30-37 BGT)

30 và sau khi đi khỏi đó, họ đi xuyên qua Ga-li-lê, và Người không muốn ai biết,

31 vì Người đang dạy các môn đệ của Người và nói cùng họ rằng Con Người sẽ bị nộp vào tay của người ta, họ sẽ giết chết Người và sau khi bị giết chết sau 3 ngày Người sẽ phục sinh.

32 nhưng họ [các môn đệ] cứ không hiểu lời đó, và họ cứ sợ không hỏi Người.

33 và họ đi vào Ca-phác-nao-um, và khi họ đã ở trong nhà, Người hỏi họ: “Anh em tranh cãi gì với nhau trên đường?”

34 Nhưng họ cứ im lặng, vì trên đường họ đã tranh cãi với nhau ai là người lớn hơn cả.

35 và sau khi ngồi xuống Người gọi nhóm Mười Hai và nói cùng họ: “Nếu ai muốn là người đứng đầu, người đó sẽ người người cuối cùng của tất cả và là người phục vụ tất cả.

36 và sau khi nhận một đứa trẻ, Người đặt nó ngay chính giữa họ và trong khi ôm nó, Người nói cùng họ,

37 bất cứ ai đón tiếp đứa một đứa trẻ như em này vì danh của Thầy đón tiếp Thầy, và bất cứ ai đón tiếp Thầy, thì không phải đón tiếp Thầy mà đón tiếp Người đã sai Thầy.



Bối Cảnh:

Đoạn văn Mc 9,30-37 được đặt ngay sau phép lạ chữa lành một người bị thần câm điếc nhập và bị bệnh kinh phong. Sau phép lạ này, các môn đệ đã hỏi lý do tại sao họ không thể trục xuất được tên quỷ này. Các ông rất quan tâm đến quyền lực trừ quỷ. Ngược lại, trong đoạn văn này khi không hiểu về lời dạy liên quan đến mầu nhiệm khổ nạn, các ông lại sợ, không hỏi Người. Khi được Người hỏi về chủ đề mà các ông tranh luận dọc đường, các ông lại im lặng. Đây có thể là dấu hiệu cho thấy họ đang bị thần câm điếc nhập vào. Một lần nữa, Đức Giê-su tiền báo về Cuộc Thương Khó – Chết – Phục Sinh. Lần loan báo này đến sau sự kiện Đức Giê-su biến hình trên núi, và trừ quỷ. Ngay sau sự kiện Biến Hình trên núi, để trả lời cho câu hỏi các môn đệ liên quan đến ông Ê-li-ah, Đức Giê-su cũng nhắc đến việc “Con Người chịu nhiều đau khổ và bị khinh rẻ” (9,12). Lần tiền báo này chắc chắn nối kết chặt chẽ với lần thứ nhất (8,31) và lần thứ ba (10,32-34), nhất là với Mầu Nhiệm Khổ Nạn-Chết-Phục Sinh trong 3 chương cuối của Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng Gioan. Phản ứng tiêu cực của các môn đệ trong lần tiền báo này cũng y chang như phản ứng của họ trong hai lần tiền báo trước và sau đó. Ngoài ra, bài học phục vụ là đặc tính căn bản trong phong cách lãnh đạo của Đức Giê-su (Mc 9,35; 10,43; Mt 20,26; 23,11). Đức Giê-su khẳng định Người đến là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người (Mc 10,45; Mt 20,28); Người sống giữa các môn đệ như một người phục vụ (Lc 22,27). Hành động cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trong đêm Tiệc Ly là một bằng chứng sống động về cung cách phục vụ của Đức Giê-su (Ga 13,2-20). Chủ đề về sự đồng hóa giữa Đức Giê-su và những người bé mọn là chủ đề nổi bật trong bài giảng về cánh chung. Phục vụ những kẻ đói, khát, trần truồng, đau yếu hay ngồi tù là phục vụ Chúa (Mt 25,44-45). Sự đồng hóa giữa Đức Giê-su và Đấng đã sai Người cũng rất phổ biến trong cả bốn Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng thứ tư (Lc 10,16; Ga 5,23; Ga 8,29; 12,44.45). Đứa trẻ đến cùng Đức Giê-su là một điều gì đó “chướng tai tai gai mắt” với các môn đệ. Khi người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giê-su để Người chúc lành, các môn đệ đã la rầy chúng. Đức Giê-su phải can thiệp, họ mới để chúng yên (Mt 19,13; Mc 10,13). Đứa trẻ thành đối tượng căn bản cho hành vi thực thi quyền lực phục vụ của các môn đệ. Đứa trẻ cũng là một chủ đề khá phổ biến trong các sách Tin Mừng. Chúng được xem như là những người thừa kế Nước Trời (Mc 10,14; Mt 19,14; Lc 18,16).

Cấu Trúc: Đoạn Mc 9,3-37 gồm hai đoạn nhỏ khác nhau nhưng nối kết chặt chẽ với nhau. Đoạn I (9,30-32): Đức Giê-su tiền báo về khổ nạn – chết – phục sinh và phản ứng của các môn đệ. Đoạn II (9,33-37): Đức Giê-su dạy dỗ các môn đệ dựa trên phán ứng tranh giành quyền lực.

I. Bối cảnh: Không gian, nhân vật, giới thiệu sự kiện (9,30)

Dạy về Thương Khó – Chết – Phục Sinh (9,31)

Đáp trả của các môn đệ: Không hiểu – Sợ - Không dám hỏi (9,32)

II. Bối cảnh: Không gian và nhân vật (9,33a)

Câu hỏi của Đức Giê-su: “Anh em tranh cãi gì với nhau trên đường?” (9,34a)

Đáp trả của các môn đệ: Im lặng vì đã tranh cãi về vị trí đứng đầu (9,34b)

Dạy về quyền lực: Người đứng đầu = Người cuối cùng = Người phục vụ (9,35)

Dạy về sự đón tiếp: Đón tiếp đứa trẻ = Đón tiếp Đức Giê-su = Đón tiếp Chúa Cha (9,36-37)

 

Một số điểm chú giải

1.     Người không muốn ai biết: Sự bí mật, và riêng tư là một yếu tố khá nổi bật trong cả ba lần Đức Giê-su tiền báo về Cuộc Khổ Nạn. Lần thứ nhất, trong Mác-cô và Mát-thêu, tuy không có dấu hiệu rõ ràng về mặt ngôn ngữ cho thấy Người dẫn các ông riêng ra một nơi, nhưng cuộc đối thoại cho thấy chỉ có các môn đệ và Đức Giê-su mà thôi (Mc 8,27-33; Mt 16,21-23; Lc 9,18-22). Sau khi kết thúc mạc khải về cuộc Thương Khó, Đức Giê-su mới gọi “các môn đệ và đám đông đến mà dạy rằng: “Ai muốn theo tôi, hãy từ bỏ mình, vác lấy thập giá của mình mà theo” (Mc 8,34). Trong Mát-thêu, ngay cả lời dạy này cũng dành riêng cho các môn đệ, đám đông không hề xuất hiện (Mt 16,24). Luca cho thấy dấu hiệu rõ rệt rằng hôm ấy, Đức Giê-su đang cầu nguyện một mình và các môn đệ cũng ở đó với Người (Lc 9,18). Ở lần tiền báo thứ hai, dấu hiệu về sự bí mật là quá rõ ràng “Người không muốn để ai biết” (Mc 9,30; Mt 17,22; Lc 9,44). Không gian riêng tư của các môn đệ và Đức Giê-su kéo dài từ 9,30-50. Dân chúng lại xuất hiện khi Đức Giê-su đi từ miền Giu-đê, bên kia sông Gio-đan (10,1). Đây là khoảng thời gian Đức Giê-su dành riêng để dạy các môn đệ.[1] Lần thứ ba cũng vậy, trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su dẫn các môn đệ riêng ra, rồi bật mí về cuộc Thương Khó lần thứ 3 (Mc 10,32; Mt 20,17; Lc 18,31). Như thế, mạc khải về mầu nhiệm này chỉ dành riêng cho các môn đệ, những người đã nhận ra căn tính Ki-tô nơi Đức Giê-su, tuy chưa trọn vẹn. Đó cũng là một bí mật cần được bật mí để giúp các môn đệ hiểu đầy đủ hơn về “căn tính Ki-tô” ấy, nếu không các ông cứ mãi ảo tưởng về một Đấng Ki-tô vinh quang sáng chói.

2.     Người đang dạy các môn đệ của Người. Nói theo kiểu bình dân là Đức Giê-su “bật mí” mầu nhiệm cuộc khổ nạn trong “bí mật”. Trong “bí mật” vì chỉ có một mình các môn đệ biết. Nói đúng ngôn ngữ Thánh Kinh là “Đức Giê-su đang dạy các môn đệ”. Động từ dạy được nhấn mạnh độ dài về mặt thời gian khi được dùng ở thì “vị hoàn” (chưa hoàn thành). Người đã bắt đầu dạy cho các môn đệ về mầu nhiệm Khổ nạn – Tử nạn – Phục Sinh lần thứ nhất (Mc 8,31), bây giờ Người vẫn đang giảng dạy cùng một mầu nhiệm (Mc 9,31); Người lại tiếp tục dạy họ lần thứ ba nữa, khi thầy trò trên đường lên Giê-ru-sa-lem (Mc 10,32-34). Có thể nói rằng, từ lúc Phê-rô đại diện cho các môn đệ tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Người bắt đầu dạy cho các ông về mầu nhiệm Khổ-Tử nạn – Phục Sinh. Người dạy mãi cho đến sau khi sống lại và lên trời. Trong giai đoạn này, Người tiếp tục “gia cố” cho niềm tin của các môn đệ bằng cách vẫn làm những dấu lạ, đặc biệt là cuộc “Biến Hình” trên núi cao (Mc 9,2-8; Mt 17,1-8; Lc 9,28-36). Tuy nhiên, điều chính yếu là Người dạy các ông về khía cạnh “tự hủy” của Đấng Ki-tô.

3.     Bị nộp – giết chết – phục sinh: So sánh ba lần tiền báo, chúng ta có thể nhận thấy rằng dường như lần thứ hai là đơn giản hơn cả và lần thứ ba chi tiết hơn cả. Có hai điều không thể thiếu trong cả 3 lần. Đó là “chết” và “phục sinh”. Phục sinh luôn luôn là hành trình cuối cùng của mầu nhiệm này và có ý nghĩa quyết định soi sáng cho toàn bộ hành trình đau khổ của Đức Giê-su. Tuy vậy, các môn đệ dường như quên hẳn chi tiết đáng để ý này. Họ cũng không hiểu “từ cõi chết sống lại nghĩa là gì” (Mc 9,10) Trong cả ba lần Đức Giê-su đều tự xưng là “Con Người”.[2] Đây cũng là một trong những danh hiệu “ki-tô học” đặc trưng trong thần học Tân Ước. Đức Giê-su tự gọi mình là “Con Người” rất nhiều lần. Trong tiếng Hy Lạp, “Con Người” nghĩa là “Con trai của loài người” (ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου). Trong Cựu Ước, thuật ngữ này được dùng để chỉ loài người [בֶן־אָ֜דָ֗ם] (ben-adam): “Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm” (Tv 8,4). Đây là danh xưng được dùng trong văn chương khải huyền. Ngôn sứ Ê-dê-kiel cũng được Thiên Chúa gọi là “con người” (Ed 21,1.6; 8,8; 11,4; 12,2.18). Đặc biệt Đn 4,13 nói đến một thị kiến trong đó, ngôn sứ thấy “có ai như Con Người đang ngự giá mây trời mà đến”. Trong Tân Ước, Đức Giê-su cũng nói đến hình ảnh Con Người rất uy nghi, vinh hiển, ngự giá mây trời mà đến (Mt 24,30; Mt 16,27; 26,44; Mc 13,26; 14,62). Đó là những hình ảnh về Con Người vinh quang, đến để xét xử loài người. Tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy một Con Người chịu nộp và chịu chết rồi mới phục sinh. Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm giống như ông Giô-na (Mt 12,40). Thánh Gioan nói đến hình ảnh Con Người được giương cao với hai ý nghĩa: (i) Treo trên thập giá; (ii) Siêu thăng lên trời (Ga 3,14; 8,28; 12,34) và sự kiện Con Người được tôn vinh (Ga 12,23; 13,31). Con Người mang hai ý nghĩa rõ nét, vừa đau khổ và vừa vinh quang. Mệnh đề “sẽ bị nộp cho người đời” trong bối cảnh này tương đương với “họ sẽ nộp Người cho dân ngoại”. Như vậy, tác nhân nộp Đức Giê-su cho “người đời” hay “dân ngoại” chính là các thượng tế và kinh sư (x. 15,1.10).[3] Lần tiền báo thứ ba còn nhắc đến Người bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Tác nhân của hành động nộp này không ai khác chính là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai (Mc 10,10-11; Mt 26,14-16; Lc 22,3-6). “Những bàn tay” thường được sử dụng cả trong các nguồn Do Thái hoặc ngoài Do Thái diễn tả quyền lực của một Người. Cụm từ “rơi vào tay của ai đó” có nghĩa là chịu sự điều khiển của người đó.[4] Nộp cho người đời là một mối nguy hiểm đáng sợ nhất. Trong Cựu Ước, sau khi vua Đa-vít phạm lỗi nặng, vì đã kiểm tra dân số, Đức Chúa giáng họa và cho ông chọn lựa 3 giải pháp: (1) Đói kém bảy năm trên toàn nước; (2) Ba tháng chạy trốn trước mặt kẻ thù; và (3) Ba ngày ôn dịch. Đa-vít đã chọn lựa giải pháp thứ ba và nói cùng ngôn sứ Gát rằng: “Thà tôi rơi vào tay Thiên Chúa thì hơn, vì lòng thương của Người bao la, ước chi tôi đừng rơi vào tay người đời” (2 Sm 24,14). Sách Huấn Ca cũng dạy rằng: “Chúng ta sẽ rơi vào tay Đức Chúa, chứ đừng vào tay người đời, vì Người cao cả thế nào thì hay thương xót như vậy” (Hc 2,18). Bị nộp vào tay người như trường hợp của Đức Giê-su quả thật là khốn đốn.

So sánh ba lần tiền báo về cuộc khổ nạn – chết – Phục Sinh

8,31

9,31

10,33-34

Nhất thiết là…

Con Người

Phải đau khổ nhiều và bị chối bỏ

Bởi các kỳ mục, thượng tế kinh sư

 

 

 

Bị giết chết

Và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy

 

Con Người

Sẽ bị nộp

cho người đời

 

 

 

 

Họ sẽ giết Người

Và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy

 

Con Người

Sẽ bị nộp

Cho các thượng tế kinh sư

Họ sẽ kết án tử hình Người

Nộp Người cho dân ngoại

Và họ sẽ đánh Người, khạc nhổ vào Người và hành hạ Người

Và họ sẽ giết Người

Và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy

4.     Cứ không hiểu lời đó: Lời này quả là khó hiểu đối với các môn đệ. Nhưng lạ thay, đây là lần thứ hai Đức Giê-su nói điều này sao các ông lại không hiểu. Thánh Mát-thêu ghi chú rằng “các môn đệ buồn phiền quá đỗi” (Mt 17,23). Điều đáng nói là dù không hiểu các ông lại sợ hỏi lại Người. Cả hai động từ “không hiểu” (ἠγνόουν) và “sợ” (ἐφοβοῦντο) đều được dùng ở thì “vị hoàn” (chưa hoàn thành). Tác giả muốn nói rằng họ không hiểu triền miên, dài lâu và họ cũng “sợ” dài lâu. Các môn đệ cứ không hiểu như thế và không dám hỏi như thế, cho đến khi Đức Giê-su bước vào hành trình thập giá. Sự không hiểu, sự sợ hãi lại biến thành hành động “bỏ trốn hết” của các môn đệ (Mc 14,50; Mt 26,56). Nỗi sợ của các môn đệ có thể là nỗi ám ảnh sẽ bị quở trách như ông Phê-rô trong lần tiền báo đầu tiên. Đức Giê-su đã quở trách Phê-rô cách nặng nề khi gọi ông là Satan. Lần này, rút kinh nghiệm, các môn đệ dù không thích, không muốn, không hiểu nhưng tốt hơn nên im lặng như không nghe thấy gì cho xong chuyện.[5] Họ có thể hy vọng điều đó không xảy ra vì nếu nó ra cho Đức Giê-su thì cũng xảy ra cho họ.[6] Sự “không hiểu” của các môn đệ trong đoạn văn này như nối dài chủ đề về “sự bất ổn trong tâm hồn” (cứng lòng) của các môn đệ được bắt đầu trước đó: “Vì họ không hiểu về những chiếc bánh, nhưng lòng họ bị cứng” (6,52); “Anh em vẫn chưa hiểu sao? Lòng anh em còn cứng vậy sao?” (Mc 8,17).[7]

5.     Tranh cãi xem ai là người lớn hơn cả: Trong Mát-thêu, các môn đệ hỏi trực tiếp Đức Giê-su về vị trí lớn nhất trong Nước Trời. Từ đó, Đức Giê-su dạy các ông về bài học về sự tự hạ: “Nên như đứa trẻ” (Mt 18,1-4). Mác-cô cố tình đặt câu hỏi này trong một cuộc tranh luận âm thầm giữa các môn đệ, ngay sau khi Đức Giê-su tiền báo về cuộc khổ nạn. Có một nghịch lý có chút gì đó mỉa mai trong phản ứng của các môn đệ. Sau khi nghe lời tiền báo lần thứ hai về mầu nhiệm Khổ nạn – Chết – Phục sinh, các môn đệ không những không hiểu, sợ không hỏi Người mà còn tranh luận sôi nổi với nhau về địa vị lớn nhất trong nhóm. Đó là dấu hiệu cho thấy một giấc mộng quyền lực đang len lỏi, xâm chiếm tâm hồn các môn đệ. Đây chính là phản ứng tréo ngoe, đặc trưng cho cả ba lần Đức Giê-su tiền báo về mầu nhiệm tự hủy trong Tin Mừng Mác-cô. Lần thứ nhất, Phê-rô đã kéo riêng Đức Giê-su ra và can gián Người và Đức Giê-su đã phải khiển trách Phê-rô là: “Satan! xéo đi ra đằng sau Thầy” (Mc 8,33). Lần thứ hai, trong khi Người mạc khải về mầu nhiệm tự hủy, thì các môn đệ lại tranh luận với nhau xem “ai là người quyền to hơn cả”. Lần thứ ba, cũng liên quan đến địa vị quyền chức, hai người con của ông Dê-bê-đê đến xin Đức Giê-su hai vị trí bên hữu và bên tả Người, khi Người được vinh quang (Mc 10,37). Mười môn đệ còn lại thấy mình bị lép vế thì “đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và Gioan” (Mc 10,41). Những phản ứng của các môn đệ trong cả ba lần Đức Giê-su tiền báo về mầu nhiệm tự hủy, cho thấy rằng ý định của Đức Giê-su quá khác xa với giấc mơ của họ. Họ không thể hiểu, và cũng không muốn hiểu ý định nhiệm mầu ấy, bởi họ vẫn đang theo đuổi giấc mộng quyền lực trần thế của riêng mình.[8]

6.     Cứ im lặng: Động từ thinh lặng được chia ở thì vị hoàn, diễn tả một sự thinh lặng dài lâu. Đó là một sự thinh lặng vì xấu hổ, bởi cách nghĩ của họ còn quá khác với Thầy của mình. Sự im lặng này có chút liên hệ đến quỷ câm làm cho cậu bé phải im lặng trong phép lạ trước đó (Mc 9,25). Các môn đệ đã không trừ được tên quỷ này, và theo Đức Giê-su, lý do là vì họ thiếu sự cầu nguyện. Sự thinh lặng của các môn đệ cũng liên hệ gần gũi đến sự thinh lặng không hỏi Đức Giê-su, về mầu nhiệm mà Người vừa mạc khải. Đó là một thái độ mâu thuẫn của các môn đệ. Điều cần phải nói thì họ không nói, điều không nên nói thì họ lại tranh luận sôi nổi. Tuy vậy, sự im lặng biểu lộ sự xấu hổ ở đây, suy cho cùng vẫn nhẹ hơn cách mà Gia-cô-bê và Gioan đến xin ngồi bên tả và bên hữu, sau khi Đức Giê-su tiền báo cuộc thương khó lần thứ ba, hay là phản ứng cách trực diện như Phê-rô trong lần thứ nhất. Sự thinh lặng của các môn đệ trong bối cảnh này, có thể gợi nhớ đến sự im lặng ngượng ngùng của dân chúng nơi hội đường Ca-phác-nao-um, nơi Đức Giê-su đã hỏi họ về việc được phép làm điều tốt vào ngày Sa-bát hay chăng (Mc 3,4).[9]

7.     Người đứng đầu – Người phục vụ. Đứng trước phản ứng tiêu cực của các môn đệ, Đức Giê-su lại tìm cách sửa dạy họ. Trong lần tiền báo thứ nhất, khi Phê-rô can gián Đức Giê-su, Người đã quở trách ông cách nặng nề. Hơn nữa, Người dạy cho các môn đệ và dân chúng thấy sự cần thiết phải từ bỏ chính mình, vác lấy thập giá của mình mà theo Chúa. Đích điểm cuối cùng là “sự sống đời” cả hồn lẫn xác. Muốn có sự sống này, sự hy sinh là một điều gì đó tất yếu phải có dành cho những người theo Chúa. Lần này, các môn đệ tranh nhau về quyền làm thủ lãnh. Đức Giê-su lại dạy họ phải thi hành quyền bính thế nào. Đức Giê-su không phủ nhận việc phải có kẻ dưới người trên trong một cộng đoàn. Điều quan trọng là “người đứng đầu” (πρῶτος) phải là “người cuối cùng” (ἔσχατος) của mọi người và là “người phục vụ” (διάκονος) của tất cả mọi người. Đây có thể được gọi là “quyền lực không quyền lực”. Một cách tương tự, trong lần tiền báo thứ ba về cuộc khổ nạn, đối lại với ước mong ngồi bên hữu bên tả của các môn đệ, Đức Giê-su cũng dạy họ về bài học phục vụ: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ (δοῦλος) mọi người” (Mc 10,43-44). Danh từ “đầy tớ” còn có nghĩa mạnh hơn về sự thấp kém so với người “phục vụ”. Đây chính là danh xưng mà Đức Maria dùng để tự xưng mình trước mầu nhiệm cao cả của Chúa: “Này tôi là tôi tớ của Chúa, xin Chúa hãy làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38; cf. 1,48). Người môn đệ của Chúa không nhắm đến quyền lực cho bằng sự hy sinh phục vụ người khác. Điều này khác hẳn với văn hóa “ăn trên ngồi trốc”, “kẻ làm lớn thì có quyền làm láo” trong xã hội xưa nay. Đối với cộng đoàn môn đệ của Đức Giê-su thì không phải thế. Đức Giê-su đã cho biết mục đích của Người là đến để phục vụ, chứ không phải để được người ta phục vụ (Mc 10,45; Mt 20,28). “Người ở giữa các môn đệ như là một người phục vụ” (Lc 22,27).[10] Hình ảnh sống động nhất cho sứ vụ phục vụ của Đức Giê-su là hình ảnh Người cúi xuống rửa chân cho tất các Tông Đồ trong bữa tiệc ly. Tuy nhiên, mức độ cao nhất của hành động phục vụ của Đức Giê-su chính là “hiến dâng mạng sống mình vì muôn người”. Thánh Phao-lô diễn tả mầu nhiệm tự hạ của Đức Giê-su như là Người đã tự hóa ra không, khi mặc lấy hình dáng của một “tôi tớ” (Pl 2,7).

8.     Một đứa trẻ (παιδίον): Một đứa trẻ là một sinh linh bé bỏng không đáng kể trong cái nhìn của các môn đệ.[11] Chính vì thế, khi thấy người ta đem trẻ em đến với Đức Giê-su, các môn đệ đã không ngần ngại la rầy chúng trước mặt Đức Giê-su (Mc 10,13; Mt 19,13). Đức Giê-su đã đáp trả rằng: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mc 10,14; Mt 19,14; Lc 18,16). Người còn nói rằng: “Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với một tâm hồn trẻ thơ, thì sẽ chẳng được vào” (Lc 18,17; Mc 10,15). Trong bối cảnh này, đứa trẻ là một người tiêu biểu để minh họa cho đối tượng mà các môn đệ phải phục vụ, nếu muốn có quyền lực cao. Một đối tượng mà người ta xem thường thì lại được Đức Giê-su coi trọng. Đó là triết lý tình yêu của Đức Giê-su.

9.     Dây chuyền đón tiếp: Đón tiếp đứa trẻ - Đón tiếp Đức Giê-su – Đón tiếp Chúa Cha. Đón tiếp một đứa trẻ vì danh Đức Giê-su là biểu hiện căn bản cho hành động phục vụ của một người muốn làm lớn. Đức Giê-su đồng hóa chính mình với một người bé nhỏ nhất, có địa vị thấp kém nhất trong xã hội. Hành động “ôm lấy đứa trẻ” có thể là một hành động biểu tượng của một sự nhận làm con nuôi, bởi vì những sự nhận con nuôi thời xưa đôi khi bao gồm cử chỉ nhấc đứa bé lên, ôm lấy nó, hoặc mang nó vào sự tiếp xúc với cơ thể của cha mẹ nuôi.[12] Đức Giê-su cũng đồng hóa chính mình với các môn đệ khi Người bảo đảm rằng: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10,40; Ga 13,20). Đối lại với thói quen coi trọng người có quyền thế, khinh người nghèo hèn, hay còn gọi là lối ứng xử “thượng đội hạ đạp”, “cá lớn nuốt cá bé”, Đức Giê-su dùng lối nói dây chuyền “bộ ba” đối tượng để nối kết từ người thấp kém nhất trong xã hội cho đến Chúa Cha. Hay nói cách khác, những người bé mọn nhất trong xã hội chính là hình ảnh của chính Chúa. Đức Giê-su đã có lúc tạ ơn Chúa Cha, vì đã mạc khải mầu nhiệm Nước Trời không phải cho những người khôn ngoan thông thái, nhưng cho đứa bé (người đơn giản, ngây thơ) (Mt 11,25; Lc 10,21). Người cũng khuyên các môn đệ chớ “khinh thường một ai trong những kẻ bé mọn này [đứa trẻ], vì Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 18,10). Người cũng cảnh báo rằng: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn [những đứa trẻ] đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn” (Mc 9,42; Mt 10,6). Cuối cùng, ví dụ sống động nhất cho việc đồng hóa giữa Đức Giê-su và những người cùng khổ là hình ảnh cuộc phán xét do Mát-thêu ghi lại, trong đó, cho người đói ăn, cho người khát uống, tiếp đón khách lạ, mặc cho người trần truồng, thăm người bệnh và tù nhân được xem như là những hành động của người công chính dành cho chính vị quan tòa Giê-su (Mt 25, 31-40). Ngược lại, chối bỏ, làm lơ trước những đau khổ của những người cùng khổ này chính là chối bỏ chính Chúa (Mt 25,41-46).

Bình luận tổng quát

Lại một lần nữa Đức Giê-su dạy các môn đệ về mầu nhiệm khổ nạn-chết-phục sinh. Đức Giê-su đi riêng với họ, không cho ai biết, để trong không gian riêng tư, Người dạy cho các ông hiểu mầu nhiệm quan trọng. Tuy nhiên, mặc cho Người cố tạo bối cảnh nghiêm túc, riêng tư, lại một lần nữa các môn đệ tỏ ra thờ ơ, và mù tối với mầu nhiệm quan trọng mà Người đang dạy dỗ. Họ không hiểu gì cả, nhưng lại chẳng hỏi Người. Mà họ cũng chẳng mấy quan tâm. Thầy vừa tỏ mình sáng láng trên núi cao cùng với Ông Mô-sê và Ê-li-a. Thầy cũng vừa mới trừ quỷ câm điếc gây ra bệnh kinh phong, phép lạ mà họ không thể làm được. Thầy của họ quyền năng như thế, thì việc “thăng quan tiến chức” chẳng bao lâu sẽ xảy ra. Vậy thì, điều quan trọng lúc này là phân chia quyền lực cho rõ ràng: Ai lớn hơn và ai nhỏ hơn trong nhóm của họ là điều đáng quan tâm nhất. Đức Giê-su trở nên cô đơn, lạc lõng trong lời dạy của mình, bởi vì trong khi Thầy nói một chuyện, trò lại bàn về chuyện khác, mặc dù trên con đường ấy chỉ có Thầy-trò đồng hành bên nhau. Đức Giê-su đoán biết họ đã thảo luận sôi nổi về chuyện gì trên đường đi, mặc dù họ cứ thinh lặng, như bị quỷ câm ám khi Đức Giê-su hỏi họ. Người lại tiếp tục dạy họ về cách sử dụng quyền bính. Chắc họ phải cảm thấy xấu hổ, vì Thầy của họ đã khám phá ra chuyện bí mật tranh giành quyền lực giữa họ. Quyền lực của người môn đệ của Đức Giê-su là thứ “quyền lực không quyền lực”. Thực thi quyền lực đồng nghĩa với việc phục vụ người khác. Ai càng có quyền lớn thì càng phải phục vụ nhiều. Ai muốn đứng đầu thì phải trở thành người nhỏ nhất. Eo! Vậy thì giành quyền để mà làm gì? Các môn đệ có lẽ nghĩ thầm như thế. Đúng thế, trong cộng đoàn của Đức Giê-su chỉ có những con người “đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”, những con người “ở giữa anh em như một người tôi tớ”. Nếu Đức Giê-su cũng ham mê quyền lực như họ, thì Người đã không tự hủy ra không để mặc lấy thân tôi tớ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Mức độ phục vụ của Người là phục vụ cho đến chết và chết trên thập giá. Các môn đệ phải tập sống mầu nhiệm thập giá, mầu nhiệm tự hủy bằng cách đón nhận tất cả mọi người, bắt đầu từ người có vị trí thấp kém nhất, những người mà họ cho là không đáng để đến cùng Đức Giê-su. Đó là những đứa trẻ, những kẻ bé mọn. Có nghĩa là họ phải đón tiếp tất cả mọi người nhất là những người bé mọn bằng cả tấm lòng của mình. Họ phải chuyển từ giấc mơ quyền lực thành giấc mơ được phục vụ. Chỉ trong những hành vi phục vụ như thế, họ mới gặp gỡ chính Thầy của mình và gặp gỡ chính Chúa.

Đại dịch Cô Vy đã tước đi nhiều sinh mạng nhưng cũng làm hồi sinh biết bao con tim biết nghĩ, biết lo, biết thổn thức, biết nghĩ đến người khác, để rồi cách này, cách khác họ ra sức hành động vì người khác, những người đau khổ vì bệnh tật, những người “đói cơm thiếu áo”, vì dây chuyền những chỉ thị cách ly bất chấp dài dằng dặc chưa có hồi kết. Có những người hy sinh vì bổn phận nghề nghiệp, vì tương quan người thân, xóm làng. Tuy vậy, cao cả nhất, đẹp đẽ nhất, thơ mộng nhất vẫn là những người đã và đang hy sinh vì nghĩa vụ tình người. Họ có thể chẳng có chuyên môn nghề nghiệp, họ cũng chẳng có ràng buộc nào về nghề nghiệp, cũng không ràng buộc máu mủ ruột thịt, bạn bè, bà con, xóm làng. Mối giây ràng buộc duy nhất và bền chặt nhất là tình người. Họ cố gắng duy trì nối kết từ một trái tim đến một trái tim khác, không cần nghĩ người đó là ai, hay ở đâu, làm gì. Trong hành trình nối kết từ trái tim đến trái tim ấy đã có biết bao người hy sinh. Một nữ tu chi hơn 30 tuổi đời đã bỏ lại quãng đời tu thơ mộng thánh thiêng để về với Chúa, sau khi đã đi đến cuối hành trình nối kết tình yêu. Đó chỉ là một hình ảnh tượng trưng cho biết bao nhiêu con người đã và đang liều mình đi vào chốn hiểm nguy, vì yêu thương những người bé mọn. Hơn bao giờ hết, bài học tự hủy để phục vụ của Đức Giê-su trở nên thiết thực và gần gũi với mỗi con người, nhất là những ai muốn dấn thân theo Người.

Sự đón tiếp và phục vụ tất cả mọi người từ những người bé mọn nhất, không có địa vị xã hội, là biểu hiện của quyền lực tình yêu. Trong các mối tương quan thường ngày, người ta thường “nhất bên trọng, nhất bên khinh”; hay “chọn lựa và loại trừ”. Người ta chỉ chọn lựa tương giao đón tiếp những ai mang lại lợi ích cho họ, hoặc những người đem đến niềm vui cho họ. Họ xây những hàng rào khoanh vùng những nhóm người trong tương quan của mình. Đó là luận lý dựa trên lợi ích và cảm xúc. Luận lý tình yêu thì không phải thế, bởi trong tình yêu người ta được mời gọi mở rộng con tim để đón tiếp tất cả mọi người nhân danh Đức Ki-tô. Mỗi người đều được mời gọi đem đến niềm vui và lợi ích cho người khác thay vì mong chờ lãnh nhận niềm vui hay lợi ích mà người khác mang lại. Luận lý tình yêu xem ra ngược đời và khó thực hiện, nhưng nó lại là lý tưởng cao sâu nhất cho tương quan tình người, tình gia đình Thiên Chúa. Cộng đoàn của các môn đệ xưa kia, và của các ki-tô hữu ngày nay phải là một cộng đoàn của một dây chuyền phục vụ lẫn nhau. Ước gì mỗi cá nhân đều mang nơi mình ý muốn phục vụ và trao chính thân mình cho người khác. Giả như một cộng đoàn (dòng tu, gia đình, giáo xứ…) bao gồm tất cả các thành viên như thế thì quả là “Nước Cha đã trị đến” và mang hạnh phúc viên mãn cho thế gian rồi.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2002) 283.

[2] X. R.H.F, “son of man”, The HarperCollins Bible Dictionary (ed. P.J. Achtemeier) (New York 1996) 1053-1054.

[3] J.R. Donahue – D.J. Harrington cho rằng tác nhân của động từ bị động “bị nộp” này chính là Giu-đa. Tuy nhiên, cách hiểu này xem ra không hợp lý, bởi Giu-đa chỉ nộp Đức Giê-su cho các thượng tế và kinh sư, chứ không nộp cho người đời. Người đơi đây rất có thể ngụ ý là tổng trấn Phi-la-tô. J.R. Donahue – D.J. Harrington cũng đề nghị một tác nhân về mặt thần học cho động từ này. Đo chính là Thiên Chúa. Đức Giê-su bị nộp theo kế hoạch của Thiên Chúa như đã được nói trong Is 53,6.12 (J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 283); “in Dan 7:25–27 LXX, in which “the holy ones of the Most High,” who are linked with the “one like a son of man,” are “turned over to the hands” of their enemy until the moment of eschatological vindication” [J. Marcus, Mark 8–16. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) XXVII A, 667].

[4] J. Marcus, Mark 8–16, 667.

[5] R. France claims that “their reluctance on this occasion because they could guess that the answer would be one they would not want to hear, especially after the alarming response which followed Peter’s questioning of the previous such pronouncement” [R.T. France, The Gospel Of Mark. A Commentary on The Greek Text (NIGTC; Grand Rapids 2002) 372].

[6] Being afraid to ask him “suggests that they did not want to hear about Jesus’ being handed over and killed. If he is handed over and killed, the same could happen to them [A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 441].

[7] J. Marcus, Mark 8–16, 670.

[9] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 284.

[10] Các Giáo Hoàng từ thời Giáo Hoàng Gregory I (590-604), gần nhất là giáo hoàng Gioan Phao-lô II, thường gọi mình là “servus servorum Dei” (Tôi Tớ của các tôi tớ Chúa). Trong một buổi đọc Kinh Truyền Tin 22/08/1999, Đức Gioan Phao-lô II đã nói rằng bổn phận của giáo hoàng là phục vụ Giáo Hội và nhân loại, đó là lý do tại sao mà từ xưa ngài được biết đến như là “Servus Servorum Dei” [Angelus, 22 August 1999 | John Paul II (vatican.va)].

[11] “In first-eentury Palestinian society a child would symbolize not so much innocence or unspoiledness as lack of social status and legal rights. A child was a "non-person" totally dependent on others for nurture and protection, and of course one could not expect to gain anything either socially or materially from kindness to a child.” (J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 285); “The child represents the lowest order in the social scale, the one who is under the authority and care of others and who has not yet achieved the right of self-determination” (R.T. France, The Gospel Of Mark, 374).

[12] J. Marcus, Mark 8–16, 675.