Thursday, 20 April 2023

MẮT BỊ NGĂN CẢN – MẮT ĐƯỢC MỞ RA. Chú Giải Tin Mừng CN III PS A (Lc 24,13-35) Lm. Jos. Ph.D. Thạch, SVD

 Bản văn và dịch sát nghĩa

Việt

Hy Lạp

13 Và này, vào ngày hôm ấy, có hai người trong số họ đang hành trình đến một ngôi làng, cách Jêrusalem sáu mươi stadios (khoảng 11,4 km), tên là Emmaus, 

14 và họ cứ nói với nhau về tất cả những gì mới xảy ra ấy.

15 chuyện xảy ra là đang lúc họ nói chuyện và thảo luận với nhau, thì chính Ðức Giêsu đến gần và đồng hành với họ; 

16 nhưng mắt họ cứ bị ngăn cản khiến họ không nhận ra được Người. 

17 Người mới nói cùng họ: “Các anh đang thảo luận với nhau về chuyện gì, đang khi đi đường vậy?” Họ đứng lại với bộ mặt buồn bã. 

18 Một người tên là Clêôpas đáp lại cùng Người rằng: “Ông là người duy nhất trọ lại Jêrusalem và không biết những chuyện xảy ra ở đó mấy ngày nay”.

19 Và Người nói cùng họ: “Chuyện gì vậy?” Họ nói cùng Người: “Những chuyện về ông Giêsu Nadarét, người đã xuất hiện như một vị ngôn sứ quyền năng trong việc làm và lời nói, trước mặt Thiên Chúa và toàn dân.

20 Làm sao các thượng tế và các lãnh đạo của chúng tôi lại nộp Người, để Người chịu án tử hình, và người ta đã đóng đinh Người. 

21 Còn chính chúng tôi từng hy vọng rằng chính Người là Ðấng sẽ giải thoát Israel. Tuy nhiên, với tất cả những chuyện ấy, nay đã là ngày thứ ba rồi, kể từ khi những chuyện ấy xảy ra! 

22 Nhưng có vài người phụ nữ trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc khi họ đi đến mồ lúc sáng sớm; 

23 Và không tìm thấy thi hài của Người, họ đến để nói là đã thấy sự xuất hiện của các sứ giả nói rằng Người đang sống. 

24 Có vài người ở với chúng tôi đã đi tới mồ, và đã tìm thấy y như những người phụ nữ đã nói, nhưng họ không thấy Người!”

25 Bấy giờ Người mới nói cùng họ: “Hỡi những kẻ ngớ ngẩn và lòng chậm tin vào tất cả những điều các ngôn sứ đã nói! 

26 Không phải là Ðấng Kitô phải chịu khổ nạn như thế đã, rồi mới đi vào vinh quang của Người sao?” 

27 Và bắt đầu với ông Môsê và tất cả các Ngôn Sứ, Người giải thích cho họ tất cả những điều đã viết về Người.

28 Khi họ đã tới gần ngôi làng mà họ đang đi đến, Người giả vờ như còn phải đi xa hơn. 

29 Nhưng họ cố nài ép Người rằng: “Hãy ở lại với chúng tôi, vì trời đã tối, và ngày đã tàn!” và Người đã đi vào để ở lại với họ. 

30 Và xảy ra là đang khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra và bắt đầu trao cho họ, 

31 Mắt họ được mở ra và họ nhận biết Người nhưng Người đã biến mất khỏi họ. 

32 Họ mới nói cùng nhau: “Không phải lòng chúng ta đã được thiêu đốt khi Người bắt đầu nói cho chúng ta trên đường, và bắt đầu giải nghĩa Sách Thánh cho chúng ta đó sao?”

33 Thế là, ngay giờ đó, họ trỗi dậy và trở về Jêrusalem; tìm thấy nhóm Mười Một đang tụ họp với nhau, cùng với những người đang ở với họ. 

34 Những người này nói rằng: “Chúa đã thực sự sống lại và đã hiện ra cho Simôn” 

35 Và họ luyên thuyên kể lại những chuyện đã xảy ra dọc đường, và làm sao họ đã nhận biết Người lúc bẻ bánh.

 

13  Καὶ ἰδοὺ δύο ἐξ αὐτῶν ἐν αὐτῇ τῇ ἡμέρᾳ ἦσαν πορευόμενοι εἰς κώμην ἀπέχουσαν σταδίους ἑξήκοντα ἀπὸ Ἰερουσαλήμ, ᾗ ὄνομα Ἐμμαοῦς,

 14 καὶ αὐτοὶ ὡμίλουν πρὸς ἀλλήλους περὶ πάντων τῶν συμβεβηκότων τούτων.

 15 καὶ ἐγένετο ἐν τῷ ὁμιλεῖν αὐτοὺς καὶ συζητεῖν καὶ αὐτὸς Ἰησοῦς ἐγγίσας συνεπορεύετο αὐτοῖς,

 16 οἱ δὲ ὀφθαλμοὶ αὐτῶν ἐκρατοῦντο τοῦ μὴ ἐπιγνῶναι αὐτόν.

 17 εἶπεν δὲ πρὸς αὐτούς· τίνες οἱ λόγοι οὗτοι οὓς ἀντιβάλλετε πρὸς ἀλλήλους περιπατοῦντες; καὶ ἐστάθησαν σκυθρωποί.

 18 ἀποκριθεὶς δὲ εἷς ὀνόματι Κλεοπᾶς εἶπεν πρὸς αὐτόν· σὺ μόνος παροικεῖς Ἰερουσαλὴμ καὶ οὐκ ἔγνως τὰ γενόμενα ἐν αὐτῇ ἐν ταῖς ἡμέραις ταύταις;

 19 καὶ εἶπεν αὐτοῖς· ποῖα; οἱ δὲ εἶπαν αὐτῷ· τὰ περὶ Ἰησοῦ τοῦ Ναζαρηνοῦ, ὃς ἐγένετο ἀνὴρ προφήτης δυνατὸς ἐν ἔργῳ καὶ λόγῳ ἐναντίον τοῦ θεοῦ καὶ παντὸς τοῦ λαοῦ,

 20 ὅπως τε παρέδωκαν αὐτὸν οἱ ἀρχιερεῖς καὶ οἱ ἄρχοντες ἡμῶν εἰς κρίμα θανάτου καὶ ἐσταύρωσαν αὐτόν.

 21 ἡμεῖς δὲ ἠλπίζομεν ὅτι αὐτός ἐστιν ὁ μέλλων λυτροῦσθαι τὸν Ἰσραήλ· ἀλλά γε καὶ σὺν πᾶσιν τούτοις τρίτην ταύτην ἡμέραν ἄγει ἀφ᾽ οὗ ταῦτα ἐγένετο.

 22 ἀλλὰ καὶ γυναῖκές τινες ἐξ ἡμῶν ἐξέστησαν ἡμᾶς, γενόμεναι ὀρθριναὶ ἐπὶ τὸ μνημεῖον,

 23 καὶ μὴ εὑροῦσαι τὸ σῶμα αὐτοῦ ἦλθον λέγουσαι καὶ ὀπτασίαν ἀγγέλων ἑωρακέναι, οἳ λέγουσιν αὐτὸν ζῆν.

 24 καὶ ἀπῆλθόν τινες τῶν σὺν ἡμῖν ἐπὶ τὸ μνημεῖον καὶ εὗρον οὕτως καθὼς καὶ αἱ γυναῖκες εἶπον, αὐτὸν δὲ οὐκ εἶδον.

 25 Καὶ αὐτὸς εἶπεν πρὸς αὐτούς· ὦ ἀνόητοι καὶ βραδεῖς τῇ καρδίᾳ τοῦ πιστεύειν ἐπὶ πᾶσιν οἷς ἐλάλησαν οἱ προφῆται·

 26 οὐχὶ ταῦτα ἔδει παθεῖν τὸν χριστὸν καὶ εἰσελθεῖν εἰς τὴν δόξαν αὐτοῦ;

 27 καὶ ἀρξάμενος ἀπὸ Μωϋσέως καὶ ἀπὸ πάντων τῶν προφητῶν διερμήνευσεν αὐτοῖς ἐν πάσαις ταῖς γραφαῖς τὰ περὶ ἑαυτοῦ.

 28 Καὶ ἤγγισαν εἰς τὴν κώμην οὗ ἐπορεύοντο, καὶ αὐτὸς προσεποιήσατο πορρώτερον πορεύεσθαι.

 29 καὶ παρεβιάσαντο αὐτὸν λέγοντες· μεῖνον μεθ᾽ ἡμῶν, ὅτι πρὸς ἑσπέραν ἐστὶν καὶ κέκλικεν ἤδη ἡ ἡμέρα. καὶ εἰσῆλθεν τοῦ μεῖναι σὺν αὐτοῖς.

 30 καὶ ἐγένετο ἐν τῷ κατακλιθῆναι αὐτὸν μετ᾽ αὐτῶν λαβὼν τὸν ἄρτον εὐλόγησεν καὶ κλάσας ἐπεδίδου αὐτοῖς,

 31 αὐτῶν δὲ διηνοίχθησαν οἱ ὀφθαλμοὶ καὶ ἐπέγνωσαν αὐτόν· καὶ αὐτὸς ἄφαντος ἐγένετο ἀπ᾽ αὐτῶν.

 32 καὶ εἶπαν πρὸς ἀλλήλους· οὐχὶ ἡ καρδία ἡμῶν καιομένη ἦν [ἐν ἡμῖν] ὡς ἐλάλει ἡμῖν ἐν τῇ ὁδῷ, ὡς διήνοιγεν ἡμῖν τὰς γραφάς;

 33 Καὶ ἀναστάντες αὐτῇ τῇ ὥρᾳ ὑπέστρεψαν εἰς Ἰερουσαλὴμ καὶ εὗρον ἠθροισμένους τοὺς ἕνδεκα καὶ τοὺς σὺν αὐτοῖς,

 34 λέγοντας ὅτι ὄντως ἠγέρθη ὁ κύριος καὶ ὤφθη Σίμωνι.

 35 καὶ αὐτοὶ ἐξηγοῦντο τὰ ἐν τῇ ὁδῷ καὶ ὡς ἐγνώσθη αὐτοῖς ἐν τῇ κλάσει τοῦ ἄρτου. (Lk. 24:13-35 BGT)


Bối cảnh

Lc 24,13-35 thuộc tập hợp những câu chuyện liên quan đến sự kiện Phục Sinh. Trong bối cảnh trực tiếp, câu chuyện này được đặt ngay sau trình thuật về ngôi mộ trống. Hai môn đệ trong câu chuyện này có nhắc đến sự kiện những người phụ nữ đã đi ra mộ, không tìm thấy thi hài của Đức Giêsu, đã đến và thông tin rằng họ đã thấy sứ giả của Chúa hiện ra, nói rằng Chúa vẫn sống. Họ cũng nhắc đến sự kiện “một vài người ở với chúng tôi” cũng đi ra mộ và thấy giống như các bà nói. Đó là toàn bộ những chi tiết căn bản của câu chuyện về “ngôi mộ trống” đã được kể lại trước đó (Lc 24,1-12). Sự nối kết về mặt thời gian là rất rõ ràng. Trạng ngữ “vào chính ngày ấy” (ἐν αὐτῇ τῇ ἡμέρᾳ) diễn tả thời gian cùng ngày mà những người phụ nữ đi ra mộ, tức là “ngày thứ nhất trong tuần” được nói đến trong Lc 24,1. Câu chuyện hai người bộ hành kể về Đức Giêsu Nadarét bao quát toàn bộ cả hành trình rao giảng của Đức Giêsu và mầu nhiệm khổ nạn mà Đức Giêsu vừa mới trải qua (Lc 24,21). Lời giải thích của Đức Giêsu bao quát toàn bộ truyền thống Cựu Ước liên quan đến Đấng Mêsia. Sự hoàn tất của những điều mà Môsê, các Ngôn Sứ và Thánh Vịnh đã chép về Đấng Mêsia, còn được nhắc lại một lần nữa trong 24,44. Cử chỉ “bẻ bánh” gợi nhớ đến các phép lạ hóa bánh ra nhiều và nghi thức Đức Giêsu làm cách đặc biệt trong bữa ăn cuối cùng (Lc 22, 19-20; Mc 14,22-24; Mt 26,26-28; 1 Cr 11,23-25).[1] Trình thuật này được tiếp nối với câu chuyện Đức Giêsu hiện ra lần nữa với tất cả nhóm, bao gồm Nhóm Mười Một, hai người lữ hành về Emmaus, và tất cả những người đang ở với họ (Lc 24,36-43). Trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và những người lữ hành trên đường Emmaus là dữ liệu riêng của tác giả Luca. Câu chuyện này cũng được Tin Mừng Máccô (phần thêm vào) nhắc đến cách ngắn gọn: “Người tỏ mình ra trong hình dạng khác với hai người đang trên đường về quê” (16,12).

Cấu trúc

(A) Ra đi (13-14): Hai người, về Emmaus

(B) Không nhận ra Người (15-24):

Chính Ðức Giêsu đến gần và cùng hành trình với họ 

Mắt họ cứ bị ngăn cản khiến họ không nhận ra được Người

Kể chuyện về Đức Giêsu Nadarét:

§ Ngôn sứ đầy quyền năng trong lời nói và việc làm

§ Bị các Thượng Tế và các lãnh đạo nộp

§ Chịu bản án tử hình 

§ Chịu đóng đinh

Đã từng hy vọng Người là Đấng giải thoát Israel

Tất cả những chuyện ấy đã xảy ra, nay đã là ngày thứ ba rồi

Vài người phụ nữ không tìm thấy xác Người, tường thuật rằng Người đang sống

vài người ở với chúng tôi đã đi tới mồ, thấy y như những người phụ nữ đã nói,

nhưng họ không thấy Người!”

Lý do không nhận ra (25-26):

Những kẻ ngớ ngẩn và lòng chậm tin vào tất cả những điều các ngôn sứ nói

Ðức Kitô phải chịu khổ nạn như thế, rồi mới đi vào vinh quang của Người 

(B’) Nhận ra Người (27-32)

Giải nghĩa biến cố (27):

Bắt đầu với ông Môsê và tất cả các ngôn sứ,

Người giải thích cho họ tất cả những điều đã viết về Người.

Ở lại và bẻ bánh (28-32):  

Khẩn thiết mời Người ở lại

Người đã vào nhà để ở lại với họ. 

Người cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra và bắt đầu trao cho họ 

Mắt họ được mở ra và họ nhận biết Người

Lòng chúng ta đã được thiệu đốt khi Người nói và giải nghĩa sách Thánh

(A’) Trở về (33-35):

Ngay giờ đó, họ trỗi dậy và trở về Jêrusalem;

Tìm thấy nhóm Mười Một đang tụ họp với nhau

Chúa đã thực sự sống lại và đã hiện ra cho Simôn” 

Họ luyên thuyên kể lại những chuyện đã xảy ra dọc đường,

Họ đã nhận biết Người lúc bẻ bánh

Một số điểm chú giải

1.   Hai người trong số họ (δύο ἐξ αὐτῶν): Hai người này chắc chắn không thuộc Nhóm Mười Một. Có lẽ, họ thuộc nhóm “những người khác” (πᾶσιν τοῖς λοιποῖς) được nhắc đến trong Lc 24,9. Danh tính của một trong hai người được nói đến là ông Clêôpas (Κλεοπᾶς). Đây là lần duy nhất Tân Ước nhắc đến danh xưng này. Tin Mừng Gioan có nhắc đến một nhân vật tên là Clôpas (Κλωπᾶς Ga 19,25). Có một vài nhà chú giải nối kết hai người này lại với nhau, nhưng theo tác giả J. Fitzmyer, hai danh xưng này không liên quan gì đến nhau cả, vì Clêôpas (dạng ngắn của Clêôpatros) có nguồn gốc tiếng Hy Lạp, còn Clôpas có nguồn gốc từ tiếng Sêmít. Nhiều tác giả tìm cách giải thích vì sao một người được kể tên là Clêôpas và người còn lại là ai. Tuy nhiên, không có nguồn nào có thể xác định chính xác được những thắc mắc ấy. Tốt nhất, nên hiểu đó là dữ liệu của tiền Tin Mừng Luca.[2] Điều chúng ta có thể nói về hai người này là họ thuộc nhóm những người đã theo Đức Giêsu, không phải là thành viên của Nhóm Mười Một[3], đã từng hy vọng rằng Đức Giêsu là Đấng giải thoát Israel, không tin vào thông tin mà những người phụ nữ loan báo, và đang trên đường rời bỏ cộng đoàn về quê. Chi tiết họ mời Đức Giêsu ở lại và vào bàn ăn cho thấy họ đã đến nhà của mình. Con số hai có thể linh kết với chủ đề hai chứng nhân hợp pháp cũng như trong 24,4.[4]

2.   Emmaus: Có ba địa danh Emmaus có thể kể đến trên thánh địa.[5]

Emmaus 1, được biết đến thời Macabê, được đề cập đến trong 1 Mcb 3,40.57; 4,3, như là nơi “trong đồng bằng”, nơi mà Giuđa Macabê đã tấn công lực lượng từ Syria và Philitinh. Sau đó, nó được Báckhđê xây pháo đài và thành bảo vệ cùng với Giêrikhô, Bết Khôrôn, Bết El,, Thamnatha, Pharathôn và Têphôn (1 Mcb 9,50). Sử gia Josephus nói đến một địa danh Ammaus (J.W. 2.4,3§ 63; 2.5,1§ 71) hoặc Emmaus (Ant. 17.10.7 § 282; 17.10,9 § 291) như là ngôi làng sau này bị đốt thành bình địa dưới lệnh của Đại Sứ Syria (6 – 4 BCE) tên là Quinlilius Varus. Sau này nó được xây lại vì nó xuất hiện trong một danh sách của các quận của Rôma vào năm 66 CE (J.W. 3.3,5 § 55). Địa danh này ở cách Jêrusalem khoảng 20 dặm về hướng Tây Bắc. Vào năm 223 CE, nó được đổi tên thành Nicôpoli. Đây là một nơi rất xa, khó để đi bộ và trở về trong ngày từ Jêrusalem. Đây là nơi có tàn tích của đền thờ xây từ thời Byzantine (tk.5 – 7), rồi được xây lại thời Thập Tự Chinh khoảng tk. 12. Nơi này ngày nay được nhiều khách hành hương đến thăm.

Emmaus 2, được sử gia Josephus (J.W. 7.6 § 217) nói đến như là một nơi, cách Jêrusalem về hướng Tây Bắc chừng “30 stadia” (5,7 km), nơi định cư của 800 cựu quân nhân xuất ngũ của Rôma. Ngày nay được gọi là Kuloniyeh. Đây là nơi mà người ta có thể đi bộ và trở về lại Jêrusalem dễ dàng hơn. Và nếu tác giả Luca ngụ ý “60 stadia” như là một tua đi trọn lộ trình đi và về thì có vẻ đây là nơi hợp lý hơn.

Emmaus 3, Từ thời Thập Tự Chinh, làng El-Quubeibeh, cách Jêrusalem chừng 63 stadia trên đường đi Lydda, được xem như là Emmmaus của tác giả Luca. Khoảng cách đi bộ có vẻ phù hợp với khoảng cách Tin Mừng Luca đưa ra (60 stadia), nhưng vùng này không được biết đến vào thế kỷ thứ nhất CE.

Cho đến ngày nay vẫn không có một dữ liệu nào chắc chắn cho địa danh này. Điều chúng ta có thể nói được là: đó là một nơi ngoài Jêrusalem và không xa lắm để các môn đệ có thể đi và trở về trong ngày. Đó là một nơi nằm trong vòng địa lý quanh Jerusalem phù hợp với trình thuật của tác giả Luca từ giữa chương 19 của Tin Mừng đến chương 8 của sách Công Vụ.[6]

3.   Cứ nói với nhau … tranh luận … thảo luận: Có ba động từ được dùng để diễn tả hoạt động của hai người lữ hành trên đường về Emmaus. Họ không ngừng nói chuyện với nhau về tất cả những gì đã xảy ra (αὐτοὶ ὡμίλουν πρὸς ἀλλήλους περὶ πάντων τῶν συμβεβηκότων τούτων).  Khi họ đang nói chuyện và tranh luận với nhau, thì Đức Giêsu tiến lại gần, đồng hành với họ (ἐν τῷ ὁμιλεῖν αὐτοὺς καὶ συζητεῖν καὶ αὐτὸς Ἰησοῦς ἐγγίσας συνεπορεύετο αὐτοῖς). Đức Giêsu hỏi họ về những điều họ đang “trao đổi” với nhau (ἀντιβάλλετε πρὸς ἀλλήλους). Động từ “nói chuyện” và động từ “đồng hành” được dùng ở thì “vị hoàn”, mô tả những hành động kéo dài liên tục. Họ không ngừng “nói chuyện với nhau” và Đức Giêsu không ngừng “đồng hành” với họ. Hai người lữ hành mặc dù rời khỏi cộng đoàn Jêrusalem để trở về quê nhưng vẫn thao thức, phân vân về ý nghĩa của tất cả “những chuyện đã xảy ra”. Đức Giêsu là người sẽ giải đáp cho họ.

4.   Tất cả những gì đã xảy ra … chuyện đã xảy ra trong thành trong nhưng ngày ấy … chuyện về ông Giêsu Nadarét: “Những chuyện đã xảy ra” mà hai người lữ hành trên đường Emmaus không ngừng trao đổi, cũng là “những chuyện xảy ra trong thành trong những ngày ấy”, cuối cùng được họ kể lại thể theo thắc mắc của Đức Giêsu, vị khách lạ đang đồng hành cùng họ. Đó là “chuyện về ông Giêsu Nadarét”. Đức Giêsu đang nghe câu chuyện về chính mình do hai người lữ hành kể lại. Đức Giêsu Nadarét được mô tả như là “một ngôn sứ uy quyền trong lời nói và việc làm, trước mặt Thiên Chúa và toàn dân”; bị các Thượng Tế và lãnh đạo của chúng ta nộp (Lc 23,13), chịu bản án tử và chịu đóng đinh. Đức Giêsu là vị ngôn sứ quyền năng trong lời nói cũng như việc làm. Người tự nhận mình là một ngôn sứ (Lc 4,24;13,33). Khi Người làm cho con trai bà góa thành Nain sống lại, dân chúng đã tôn vinh Người là “một ngôn sứ vĩ đại” (Lc 7,16). Người ta cho rằng Người là một ngôn sứ (Lc 9,8.19). Dân chúng nhìn nhận uy quyền của Đức Giêsu khi chứng kiến Người trục xuất quỷ (Mc 1,27). Người ta kinh ngạc về lối giảng dạy của Người vì lời của Người có uy quyền (Lc 4,32.36). Những phép lạ trừ quỷ, chữa lành mọi thứ bệnh tật, dẹp yên sóng biển, hóa bánh ra nhiều, cho người chết sống lại, tất cả, minh chứng cho quyền năng trong hành động của Người. Biến cố Người chịu nộp, chịu kết án và chịu đóng đinh là biến cố gần nhất, vừa xảy ra ba ngày trước (Lc 22,71; 23,24-33).

5.   Đức Giêsu đến gần, đồng hành … giải thích Sách Thánh … Đức Giêsu biến mất: Đức Giêsu chủ động đến gần. Đại từ “αὐτὸς” được đặt trước danh xưng Giêsu nhằm nhấn mạnh – “chính Đức Giêsu”. Động từ “đồng hành”, ở thì “vị hoàn” nhấn mạnh đến độ dài khoảng thời gian Đức Giêsu đồng hành với họ. Người đồng hành với họ trong suốt hành trình đến Emmaus. Người hỏi han và lắng nghe câu chuyện của họ. Người phàn nàn về sự ngớ ngẩn và chậm tin của họ, rồi kiên nhẫn giải thích cho họ tất cả những bản văn đã chép về Người từ ông Môsê và tất cả các Ngôn Sứ. Sau đó, Người ở lại theo sự nài nỉ của họ,[7] đồng bàn và thực hiện nghi thức “lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra, trao ban”. Nhờ toàn bộ hành trình ấy, họ đã nhận ra Người. Cuối cùng, khi họ đã nhận ra Người, thì Người liền biến mất. Mặc dù Người đã biến mất nhưng niềm tin về sự phục sinh, và về sự sống vĩnh cửu của Người vẫn còn mãi. Đức Giêsu để lại khoảng trống để các chứng nhân có thể lấp đầy. Họ sẽ trỗi dậy, quay trở về, và tường thuật rằng họ đã gặp và nhận ra Chúa Phục Sinh.

6.   Đôi mắt của họ bị ngăn cản (οἱ δὲ ὀφθαλμοὶ αὐτῶ) … lòng ngớ ngẩn và chậm tin … đôi mắt của họ được mở ra (διηνοίχθησαν οἱ ὀφθαλμοὶ): Vấn đề đôi mắt bị ngăn cản lúc đầu được tháo cởi bằng hình ảnh đôi mắt được mở ra sau đó. “Đôi mắt bị ngăn cản” dẫn đến kết quả là họ không “nhận ra” Chúa. Khi “đôi mắt được mở ra”, họ mới “nhận ra” Chúa. Cả hai động từ “ngăn cản/ cầm giữ” và “mở ra” đều được dùng ở thể bị động. Nghĩa là, tác động “ngăn cản” và “mở ra” đều đến từ những tác nhân khác. Hai người lữ hành hoàn toàn bị động. Người ta có thể thắc mắc là liệu hình dáng bên ngoài của Đức Giêsu Phục Sinh có thay đổi không, khiến cho hai người lữ hành không nhận ra Người? Có lẽ, vẻ bề ngoài của Đức Giêsu không hề thay đổi. Không có tác giả Tin Mừng nào cho thấy Người có một diện mạo mới. Điều mới mẻ trên thân thể Người là “những dấu đinh” (Lc 24,40) và “dấu ở cạnh sườn” (Ga 20,20.27). Trong câu chuyện của tác giả Gioan (Ga 20,14-15), Maria Magđalênê cũng không nhận ra Đức Kitô Phục Sinh, và tưởng là người làm vườn. Trong câu chuyện này, điều khiến hai nhân vật lữ hành không nhận ra Người được mô tả là vì “mắt họ bị ngăn cản”.[8] Cái gì đã ngăn cản đôi mắt của họ. Đó có thể là “sự buồn bã”, sự thất vọng vì niềm hy vọng rằng Người là Đấng giải thoát Israel không còn, và nói theo ngôn ngữ của Đức Giêsu là “sự ngớ ngẩn và chậm chạp trong cõi lòng để tin vào tất cả những điều các ngôn sứ đã nói”.[9] Trong hai lần Đức Giêsu tiền báo về biến cố khổ nạn – phục sinh, tác giả đều ghi chú rằng “các ông không hiểu gì cả, lời đó còn bị che giấu khỏi họ, khiến họ không biết những điều Người nói” (Lc 18,34; cf. 9,45).

7.   Ngớ ngẩn và lòng chậm tin những điều các ngôn sứ đã nói: Đây có thể là vật cản lớn nhất, khiến cho đôi mắt thể lý và tâm linh của họ không thể nhận ra Chúa. Trước đó, Đức Giêsu đã kéo riêng nhóm Mười Hai ra và nói cùng họ: “Này chúng ta lên Jêrusalem và tất cả những gì các ngôn sứ đã viết về Con Người sẽ được hoàn tất” (Lc 18,31). Rất khó để hiểu được là Đức Giêsu đang nói về đoạn sách ngôn sứ cụ thể nào. Những đoạn sách ngôn sứ Isaia về người tôi trung đau khổ (Is 53) có vẻ rất gần gũi với hình ảnh Đức Giêsu chịu đau khổ. Đức Giêsu đã từng bước giúp cho hai người lữ hành gỡ đi vật cản lớn này để họ có thể nhận ra Người. Việc giải thích những bản văn bắt đầu từ Môsê và các Ngôn Sứ[10] cho thấy sự cần thiết trong việc đọc những bản văn Cựu Ước để hiểu mầu nhiệm khổ nạn Phục Sinh của Người.

8.   Nhất thiết Đấng Kitô phải chịu đau khổ và đi vào vinh quang của Người:[11] Trong câu chuyện của mình, ông Clêôpas đã trình bày về niềm hy vọng và thất vọng của họ. Họ đã từng tin rằng Đức Giêsu là Đấng giải thoát Israel. Niềm hy vọng này được bộc lộ trong “bài ca chúc tụng của ông Dacaria (Lc 1,68) và trong đối tượng mà lời ngôn sứ Anna nhắm đến (Lc 2,38). Nhưng họ thất vọng vì Đức Giêsu đã chịu đóng đinh, chịu chết, tính đến nay đã là ngày thứ ba rồi. Đức Giêsu khơi dậy niềm hy vọng của họ khi nhấn mạnh rằng Đấng Kitô phải đau khổ rồi mới đi vào vinh quang của Người. Động từ không ngôi “ἔδει” (phải) nhấn mạnh đến tính cách bắt buộc trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Trong Bài giảng đầu tiên, ông Phêrô đã nhấn mạnh rằng “Đấng Kitô của Người phải chịu đau khổ” (Cv 3,18). Khi giảng cho dân thành Thêxalônica, ông Phaolô cũng “dựa vào Thánh Kinh để giải thích và xác định rằng Đấng Kitô phải chịu đau khổ rồi mới trỗi dậy từ cõi chết” (Cv 17,2-3). Khi giảng cho ông Acríppa, ông Phaolô khẳng định rằng Môsê và các ngôn sứ đã nói rằng “Đấng Kitô sẽ chịu đau khổ và là người đầu tiên sống lại từ cõi chết” (Cv 26,22-23). Trong thư gửi tín hữu Côrintô, khi bàn về mầu nhiệm Phục Sinh, tác giả Phaolô cũng khẳng định rằng: “Đức Kitô đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Thánh Kinh. Rồi Người đã được mai táng và trỗi dậy vào ngày thứ ba, đúng như lời Thánh Kinh” (1 Cr 15,3-4). Trong Luca, “vinh quang” có thể chỉ là vinh quang của sự nâng lên ngự bên hữu Thiên Chúa.[12]

9.     Lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra, trao ban: Loạt bốn hành động liên tục của Đức Giêsu làm cho mắt của các môn đệ được mở ra. Loạt bốn hành động này gợi nhớ đến sự kiện Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể trong Bữa Ăn Cuối Cùng (Lc 22,19).[13] Có lẽ, vì vậy nó có một tác dụng gợi nhớ cách đặc biệt về sự hiện diện của Đức Giêsu trong ký ức của các môn đệ. Riêng hành động “bẻ bánh” được lặp lại 2 lần. Lần thứ nhất là hành động bẻ bánh của chính Đức Giêsu. Lần thứ hai là trong tường thuật của hai người lữ hành (24,35). Lần thứ hai có vẻ là cách gọi tổng thể cho nghi thức gồm bốn hành động Đức Giêsu đã cử hành. Có thể nói rằng, đây là khoảnh khắc mấu chốt của trình thuật Emmaus mà nếu không có nó thì hai môn đệ Emmaus vẫn còn “buồn rầu” như lúc họ rời Jêrusalem về Emmaus, và sẽ không có cuộc trở lại Jêrusalem ngay lập tức. Khoảnh khắc “khi Người bẻ bánh” đã làm cho “mắt của họ được mở ra và họ nhận ra Người” (Lc 24,31). Không những thế, khoảnh khắc ấy còn giúp họ nhớ lại là  “lòng của họ đã được thiêu đốt” khi họ nghe Người nói chuyện và giải thích Thánh Kinh (Lc 24,32). Không có khoảnh khắc “khi Người bẻ bánh” thì “sự thiêu đốt kia” cũng đi vào quên lãng và chẳng có tác dụng gì. “Khoảnh khắc ấy” bây giờ lại trở nên lời chứng của hai môn đệ Emmaus cùng với “những chuyện xảy ra dọc đường”. Cả hai làm nên một lời chứng sống động cho sự hiện hữu cách sống động và gần gũi của Đức Kitô Phục Sinh.

10.  Lòng được thiêu đốt: Danh từ “lòng/ trái tim” (ἡ καρδία) được nhắc đến hai lần với hai ý nghĩa trái ngược nhau. Lần thứ nhất Đức Giêsu nhắc đến sự “ngu muội và chậm chạp” của cõi lòng trong việc tin vào tất cả những điều các ngôn sứ đã nói. Lần thứ hai, hai người lữ hành nhớ lại việc “lòng của họ đã liên tục được thiêu đốt” (ἡ καρδία ἡμῶν καιομένη ἦν). Lòng “liên tục được thiêu đốt”, có nghĩa là được khai mở và thúc đẩy, không còn ngu muội và chậm chạp nữa. Họ bắt đầu hiểu mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu. Động từ “thiêu đốt” được dùng ở thể bị động với tác nhân rất có thể là chính Đức Giêsu và những lời giải thích của Người.

11.  Chúa đã trỗi dậy và hiện ra với ông Simôn: “Chúa đã trỗi dậy” là mẫu thức Kerygma căn bản nhất trong lời giảng của các Tông Đồ.[14] Bằng chứng làm cho Nhóm Mười Một tin rằng Chúa đã trỗi dậy là việc Chúa đã hiện ra với ông Simon. Trước đó những người phụ nữ đã kể lại cho họ nghe về sự sống lại của Đức Giêsu nhưng họ không tin vì cho đó là điều vớ vẩn (Lc 24,9-11). Thật ra, trong Tin Mừng Nhất Lãm Đức Giêsu đã tiền báo việc Người “sẽ trỗi dậy” không phải một lần mà đến ba lần (Mc 8,31-33; 9,31-32; 10,33-34; Mt 16,21-23; 17,22-23; 19,27-30; Lc 9,22; 9,43b-45; 18,27-30). Thế mà, chẳng hiểu sao họ chẳng nhớ gì về lời tiền báo được lặp lại với mật độ dày đặc này. Có thể cái chết của Đức Giêsu là cú sốc quá lớn đối với họ vì họ không bao giờ tưởng tượng được là Đấng Mêsia phải chết. Chi tiết Đức Giêsu hiện ra với ông Simôn là chi tiết đặc trưng của tác giả Luca. Trong các tác giả Tân Ước, chỉ có Phaolô đề cập đến cuộc hiện ra riêng tư này: “Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai” (1 Cr 15,5). Ngoài ra, tác giả Phaolô còn đề cập đến cuộc hiện ra riêng tư với ông Giacôbê (1 Cr 15,7) và cuối cùng với chính ông (1 Cr 15,8). Có lẽ, vì vị thế của ông Phêrô trong Nhóm Mười Hai, nên tác giả Luca cảm thấy cần phải có cuộc hiện ra riêng tư này. Luca cũng là tác giả có nhiều chi tiết dành ưu tiên cho ông Phêrô (x. 5,1-11; 22,31-34). Nói chung, theo truyền thống Nhất Lãm, tất cả thành viên Nhóm Mười Hai đều phải thấy Chúa, rồi mới tin. Theo truyền thống Tin Mừng thứ tư, có một người không thấy Đức Giêsu Phục Sinh, nhưng đã tin. Đó là “người môn đệ Chúa yêu” (Ga 20,8). Thực ra, khi vào trong mộ trống, ông cũng chỉ thấy băng vải liệm xếp ngay ngắn như Phêrô đã thấy, nhưng sự khác biệt là sông đã vươn đến niềm tin vào sự sống lại của Chúa.

12.  Trỗi dậy … Trở về … liên tục tường thuật: Những hành động trái ngược so với những hành động lúc đầu. Họ đã hành trình đi về Emmaus cách Jêrusalem hơn 11 km. Họ đứng lại với tâm trạng buồn bã. Giờ đây hai người bộ hành đã “trỗi dậy”, biểu hiện một sự sống mới, quay trở về Jêrusalem, nơi có Nhóm Mười Một và những người khác đang ở với họ. Hành động “trở về” (ὑπέστρεψαν) đóng vai trò như là một “inclusio” (đóng khung) khép lại hoàn hảo cho hành trình ra đi của họ. Cụm trạng từ thời gian “ngay giờ đó” (αὐτῇ τῇ ὥρᾳ), được đặt giữa hai động từ “trỗi dậy” và “trở về” như để nhấn mạnh mức độ khẩn cấp của cả hai hành động.[15] Họ đã ra đi và liên tục nói, thảo luận, tranh cãi với nhau về những gì đã xảy ra, giờ họ trở về với Tin Mừng trọng đại, cùng niềm vui khôn tả. Động từ “kể/ giải thích/ tỏ bày” được sử dụng ở thì “vị hoàn” (ἐξηγοῦντο) diễn tả một hành động liên tục, chưa chấm dứt. Họ vẫn kể, cứ kể, kể hoài về những gì đã diễn ra trên hành trình với Chúa và khoảnh khắc họ nhận ra Người khi Người bẻ bánh. Tin vui của họ kết hợp với tin vui của Nhóm Mười Một là bằng chứng đầy đủ về sự phục sinh của Đức Giêsu.

Bình luận tổng quát

Hai người trong số họ đã rời bỏ cộng đoàn Jêrusalem để đi về Emmaus. Con số hai thường là con số mang tính chứng nhân hợp pháp cho một vụ án tại tòa theo truyền thống Cựu Ước. Lời chứng của hai người đảm bảo tính xác thực. Họ là những người đã từng hy vọng rằng Đức Giêsu Nadarét sẽ là Đấng giải thoát Israel. Họ tràn trề hy vọng vì họ đã biết Đức Giêsu là vị ngôn sứ đầy quyền năng trong lời nói cũng như hành động. Họ thất vọng vì Người đã chịu nộp để chịu án tử đóng đinh, và sự kiện đã diễn ra đã là ngày thứ ba rồi. Sự ra đi cùng với vẻ mặt buồn bã cho thấy họ đang trong tình trạng thất vọng. Họ đã được nghe các nữ chứng nhân, những người đi ra mộ, không tìm thấy thi hài Chúa, về thông báo là đã gặp các thiên sứ và các thiên sứ cho biết là Đức Giêsu đang sống. Họ cũng xác nhận rằng có vài người trong số họ đã đi ra mộ, và kiểm chứng thông tin của những người phụ nữ, và đã thấy đúng như vậy. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy chưa làm cho họ tin được. Điểm mấu chốt là họ cần phải thấy chính Đức Giêsu Phục Sinh. Trên hành trình, họ vẫn không ngừng bàn luận, trao đổi với nhau về “những gì đã xảy ra”, và không có lời giải đáp. Đức Giêsu chính là Người duy nhất có thể giải đáp cho họ tất cả những vấn đề họ đang thắc mắc. Người chủ động tiến đến gần bên, đồng hành, gợi chuyện, lắng nghe câu chuyện của họ về chính Người. Người khiển trách họ “ngu muội” và “chậm chạp trong cõi lòng để tin vào tất cả những điều các ngôn sứ đã nói”. Người cho họ biết là “Đấng Kitô phải chịu đau khổ rồi mới vào trong vinh quang của Người”. Rồi Người kiên nhẫn giải thích cho họ tất cả những bản văn liên quan đến Người bắt đầu từ Ông Môsê và các Ngôn Sứ. Lòng của họ được biến đổi cách rõ nét. Từ “lòng chậm chạp” và “ngu muội” biến đổi thành “lòng được thiêu đốt” bởi lời giải thích của Đức Giêsu. Lòng hiếu khách, như một nhân đức quý giá của người du mục vùng Cận Đông cổ xưa, đã khiến họ phải nài nỉ vị khách lạ ở lại với họ. Đức Giêsu, dù là khách lạ, nhưng lại đóng vai trò chủ bàn trong bữa ăn tối hôm ấy. Người chủ động “lấy bánh, chục tụng, bẻ ra, và trao ban” cho họ. Những cử chỉ quen thuộc vừa diễn ra ba ngày trước đó, đêm Tiệc Ly, đã làm cho đôi mắt của họ, đôi mắt trước đó bị ngăn cản, giờ được mở ra, và họ bỗng nhận ra Chúa. Mặc dù Đức Giêsu lập tức biến mất ngay sau đó, nhưng như thế cũng đủ để cho họ xác tín rằng Người đã sống lại và đang sống. Hành trình ra đi trong buồn bã và bối rối, phải được tiếp nối với hành trình trỗi dậy, quay trở về, với lòng háo hức muốn loan tin cho Nhóm Mười Một và những người ở với họ. Thông điệp về “những gì đã xảy ra dọc đường, cùng với khoảnh khắc họ đã nhận ra Đức Giêsu lúc Người bẻ bánh”, hòa nhập với thông điệp “Chúa đã trỗi dậy và đã hiện ra với ông Simôn” là bằng chứng nền tảng cho niềm tin của Nhóm Mười Một, hai khách lữ hành Jêrusalem-Emmaus, và tất cả những ai đang hiện diện với họ. Theo trình thuật của tác giả Luca, Đức Giêsu Phục Sinh còn hiện ra một lần nữa cũng trong ngày hôm đó với cả nhóm đang quy tụ với nhau, rồi sau đó Người lên trời.

Câu chuyện về hành trình đức tin của hai môn đệ trên lộ trình Jêrusalem-Emmaus có thể là câu chuyện lịch sử của những chứng nhân đầu tiên cho biến cố tử nạn – phục sinh của Đức Giêsu Nadarét. Tuy nhiên, đây cũng là câu chuyện về hành trình đức tin của các tín hữu sơ khai và các tín hữu qua mọi thời đại. Để có thể tin rằng Đức Giêsu đã trỗi dậy và đang sống, các tín hữu cần đón nhận sự đồng hành của Đấng Phục Sinh, mở lòng kể cho Người nghe câu chuyện, khúc mắc của đời mình, rồi lắng nghe những đoạn Thánh Kinh liên quan đến Người, tỏ lòng hiếu khách mời Người đồng bàn với mình, để Người làm chủ tọa bữa ăn hằng ngày… Câu chuyện Emmaus có thể được hiểu như là hành trình của một Thánh Lễ hằng ngày, trong đó các tín hữu đến thánh đường với nhiều tâm tư, khúc mắc, đau khổ và cả thất vọng nữa, họ được lắng nghe lời Chúa, đặc biệt là lời của Đức Giêsu Phục Sinh trong Tin Mừng, họ tham dự nghi thức Bẻ Bánh với Người, nhận ra Người và đón rước Người vào lòng. Sau đó, họ trỗi dậy, với niềm tin vững chắc rằng Đức Giêsu Phục Sinh đang ở trong lòng mình và Người sẽ đồng hành với họ trên mọi nẻo đường cuộc sống. Hành trình Thánh Lễ được tiếp nối với lời mời gọi: “Hãy đi bình an”. Lời mời  gọi ấy đưa các tín hữu trở về cuộc sống thường ngày với thông điệp Tin Mừng rằng: “Chúa đã sống lại” và tôi đã “nhận ra Người khi Người bẻ bánh” và “Người vẫn đang sống” trong cuộc đời tôi và cuộc đời của tất cả mọi người. Điều quan trọng nhất là trong mỗi Thánh Lễ, người tham dự phải thật sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh, và tìm thấy niềm vui khi gặp gỡ Ngài. Có như thế, họ mới có thể rao truyền tin vui Chúa Phục Sinh cho người khác.

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD



[1] “These words obviously recall the feeding of the five thousand (9:16) and the Last Supper (22:19). In both accounts as here, Jesus ‘took’ bread (lambano). Here and in 9:16, he ‘blesses’ (eulogeo), whereas in 22:19 he ‘gives thanks’ (eucharisteo). As in 22:19, he breaks (klao) the bread. But rather than the imperfect edidou of 9:16 or the aorist edoken of 22:19, Luke here uses the imperfeet of the compound form epididomi, ‘to hand over’ (4:17;11:11-12).” [L.T. Johnson, The Gospel of Luke (SP 3; Collegeville 1991) 396].

[2] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X-XXIV. Introduction, translation, and notes (New Haven – London 2008) 1563.

[3] Tác giả Fitzmyer nghĩ rằng vẫn có khả năng người lữ hành vô danh là một người trong nhóm Mười Một, tuy nhiên chi tiết “họ quay về tìm gặp Nhóm Mười Một” có thể loại trừ khả năng này.

[4] J. Nolland, Luke 18:35-24:53 (WBC; Dallas 2002) 35C, 1200.

[5] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X-XXIV, 1561 -1562.

[6] “The place itself has significance only because it is in the environs of Jerusalem, the location for all Luke's appearance accounts and all the major events of the narrative between chapter 19 of the Gospel and chapter 8 of Acts” (L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 393).

[7] “the ancient world, hospitality to strangers ranked high as a religious virtue. Both the Jewish and Greco-Roman worlds affirmed this virtue with stories about hospitality extended to incognito gods or angels” (J. Nolland, Luke 18:35-24:53, 1205).

[8] “The failure to recognize Jesus here is normally attributed to divine intention but also occasionally to the state of heart of the disciples” (J. Nolland, Luke 18:35-24:53, 1201).

[11] Xem thêm “Đấng Kitô phải chịu đau khổ và trỗi dậy” trong sđd.

[12] “In the Lukan frame, “glory” can only be the glory of exaltation to the right hand of God” (J. Nolland, Luke 18:35-24:53, 1204); “Here “glory” represents the term of Jesus’ transit to the Father; his destiny has been reached. Even while he converses on the road to Emmaus, he tells the disciples that he has already entered upon that status—he is in “glory,” and from there he appears to them” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X-XXIV, 1566).

[13] “The stronger language links here are with 9:15-16 rather than with 22:19, but since 9:16 was itself concerned to evoke the Last Supper, and via that, the eucharistic practice of the early church (see at 9:10-17), one should not make too sharp a distinction. Note the way in which Jesus, though the guest, takes upon himself the role of host” (J. Nolland, Luke 18:35-24:53, 1206).

[14] “Luke makes use here of a kerygmatic formula, possibly inserting himself ho Kyrios, though that may have been part of it originally (see pp. 201–204), for it is not at all impossible that the title formed part of the original kerygma” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke X-XXIV, 1569).

[15] “he departure is made more urgent by Luke’s desire to contain the action of Luke 24 within the scope of Easter Day” (J. Nolland, Luke 18:35-24:53, 1206).

Thursday, 6 April 2023

ĐI XEM MỘ - GẶP SỨ GIẢ THIÊN CHÚA. Chú Giải Tin Mừng CN PS A (Mt 28,1-10) Lm. Jos. Ph.D. Thạch, SVD

 Bản văn và dịch sát nghĩa

Việt

Hy Lạp

1 Sau ngày Sabát, vào lúc bình minh ngày thứ nhất trong tuần, bà Maria Magđalênê và một bà Maria khác đi xem (nhìn vào) ngôi mộ.

2 Và kìa, có một trận động đất lớn xảy ra, vì sứ giả Thiên Chúa đi xuống từ trời và đi đến lăn tảng đá ra và ngồi lên trên nó.

3 Vẻ bề ngoài của ông như là ánh sáng và y phục của ông trắng như tuyết.

4 Vì nỗi sợ hãi ông, những người canh mộ run rẩy và trở nên như những người chết.

5 Để đáp trả, vị sứ giả nói cùng những người phụ nữ: “Đừng sợ, vì tôi biết là chi em tìm Đức Giêsu chịu đóng đinh.

6 Người không ở đây nữa, Người đã trỗi dậy như Người đã nói, hãy đến nhìn xem nơi người ta đã đặt Người.

7 Và ngay lập tức, hãy đi nói cho cho các môn đệ của Người rằng: Người đã trỗi dậy từ cõi chết. Kìa! Người sẽ đi đến Galilê trước anh em. Ở đó anh em sẽ thấy Người, Này, tôi nói cùng chị em.”[1]

8 Và họ lập tức ra đi khỏi ngôi mộ với nỗi sợ hãi và niềm vui vĩ đại, chạy đi báo cho các môn đệ của Người.

9 Và kìa! Đức Giêsu gặp họ nói rằng: “Hãy vui lên!”, và họ đến giữ lấy chân của Người và bái lạy Người.

10 Và Người nói cùng họ rằng: “Đừng sợ, hãy đi báo cho những người anh em của Thầy để họ đi đến Galilê, ở đó họ sẽ thấy Thầy.”

1 Ὀψὲ δὲ σαββάτων, τῇ ἐπιφωσκούσῃ εἰς μίαν σαββάτων ἦλθεν Μαριὰμ ἡ Μαγδαληνὴ καὶ ἡ ἄλλη Μαρία θεωρῆσαι τὸν τάφον.

 2 καὶ ἰδοὺ σεισμὸς ἐγένετο μέγας· ἄγγελος γὰρ κυρίου καταβὰς ἐξ οὐρανοῦ καὶ προσελθὼν ἀπεκύλισεν τὸν λίθον καὶ ἐκάθητο ἐπάνω αὐτοῦ.

 3ἦν δὲ ἡ εἰδέα αὐτοῦ ὡς ἀστραπὴ καὶ τὸ ἔνδυμα αὐτοῦ λευκὸν ὡς χιών.

 4 ἀπὸ δὲ τοῦ φόβου αὐτοῦ ἐσείσθησαν οἱ τηροῦντες καὶ ἐγενήθησαν ὡς νεκροί.

 5 Ἀποκριθεὶς δὲ ὁ ἄγγελος εἶπεν ταῖς γυναιξίν· μὴ φοβεῖσθε ὑμεῖς, οἶδα γὰρ ὅτι Ἰησοῦν τὸν ἐσταυρωμένον ζητεῖτε·

 6 οὐκ ἔστιν ὧδε, ἠγέρθη γὰρ καθὼς εἶπεν· δεῦτε ἴδετε τὸν τόπον ὅπου ἔκειτο.

 7 καὶ ταχὺ πορευθεῖσαι εἴπατε τοῖς μαθηταῖς αὐτοῦ ὅτι ἠγέρθη ἀπὸ τῶν νεκρῶν, καὶ ἰδοὺ προάγει ὑμᾶς εἰς τὴν Γαλιλαίαν, ἐκεῖ αὐτὸν ὄψεσθε· ἰδοὺ εἶπον ὑμῖν.

 8 Καὶ ἀπελθοῦσαι ταχὺ ἀπὸ τοῦ μνημείου μετὰ φόβου καὶ χαρᾶς μεγάλης ἔδραμον ἀπαγγεῖλαι τοῖς μαθηταῖς αὐτοῦ.

 9 καὶ ἰδοὺ Ἰησοῦς ὑπήντησεν αὐταῖς λέγων· χαίρετε. αἱ δὲ προσελθοῦσαι ἐκράτησαν αὐτοῦ τοὺς πόδας καὶ προσεκύνησαν αὐτῷ.

 10 τότε λέγει αὐταῖς ὁ Ἰησοῦς· μὴ φοβεῖσθε· ὑπάγετε ἀπαγγείλατε τοῖς ἀδελφοῖς μου ἵνα ἀπέλθωσιν εἰς τὴν Γαλιλαίαν, κἀκεῖ με ὄψονται. (Matt. 28:1-10 BGT)

Bối Cảnh

Mt 28,1-10, được trích ra từ phần đầu tiên của loạt những trình thuật về biến cố phục sinh của Đức Giêsu. Trình thuật này chia sẻ chung nguồn với Tin Mừng Máccô và Luca với nhiều chi tiết khác biệt. Nhiều chi tiết trong trình thuật này của tác giả Mátthêu cho phép nối kết với những dữ liệu trước đó của cùng tác giả. Chi tiết Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết được diễn tả là “như Người đã nói” có ý móc nối đến ít nhất bốn lần cụ thể Đức Giêsu dạy các môn đệ về biến cố này trước đó. Nhân vật những người canh mồ chính là những nhân vật được các Thượng Tế và những người Pharisêu đặt để canh giữ mô sau khi Đức Giêsu được chôn cất (Mt 27,62-66). Những người này lại xuất hiện trong trình thuật về âm mưu nói sai sự thật của các Thượng Tế và Kỳ Lão (Mt 28,11-15). Danh xưng “Đức Giêsu chịu đóng đinh” nối kết với sự kiện Đức Giêsu chịu đóng đinh được tường thuật trước đó. Tảng đá mà sứ giả Thiên Chúa từ trời lăn ra chính là tảng đá đã được Giuse Arimathêa lăn đến cửa ngôi mộ ở Mt 27,60 và được các Thượng Tế và Kỳ Lão niêm phong (Mt 27,66). Hai nhân vật Maria Magđalênê và một người Maria khác đã hiện diện trong cuộc thương khó. Họ theo Đức Giêsu từ Galilê, chứng kiến Người chết và ngồi trước ngôi mộ khi Người được chôn cất (Mt 27,61). Việc hẹn gặp mặt ở Galilê đã được Đức Giêsu nói trước trong 26,32. Như thế, rất nhiều chi tiết và nhân vật ở câu chuyện này đã được tác giả Mátthêu chuẩn bị từ trước.

Cấu trúc

Giới thiệu (1): Thời gian và nhân vật

I. GẶP GỠ SỨ GIẢ TỪ TRỜI (2-8):

Sứ giả xuất hiện (2-3):

Một trận động đất lớn xảy ra

sứ giả Thiên Chúa đi xuống từ trời và đi đến lăn tảng đá và ngồi lên trên

Vẻ bề ngoài của ông như là ánh sáng và y phục của ông trắng như tuyết

Phản ứng của những người canh mồ (4):

Sợ hãi, run rẩy, trở nên như người chết

Thông điệp và chỉ thị (5-7):

Đừng sợ,

Người không ở đây nữa, Người đã trỗi dậy như Người đã nói,

Hãy đến nhìn xem nơi người ta đã đặt Người.

ngay lập tức, hãy đi nói cho các môn đệ của Người:

Người đã trỗi dậy từ cõi chết.

Người sẽ đi đến Galilê trước anh em.

Ở đó anh em sẽ thấy Người,

Này, tôi nói cùng chị em.

Làm theo chỉ thị (8):

Ngay lập tức ra đi khỏi ngôi mộ với nỗi sợ hãi và niềm vui vĩ đại,

chạy đi báo cho các môn đệ của Người.

II. GẶP GỠ ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH (9-10):

Hãy vui lên

họ nắm lấy chân của Người và bái lạy Người

Đừng sợ, hãy đi báo cho các anh em của Thầy

họ đi đến Galilê, ở đó họ sẽ thấy Thầy

Một số điểm chú giải

1.     Các nhân vật: Tác giả Mátthêu nói rằng “Maria Magđalênê và một bà Maria khác” (Μαριὰμ ἡ Μαγδαληνὴ καὶ ἡ ἄλλη Μαρία), trong khi đó những nhân vật này theo tác giả Máccô là Maria Magđalênê, Maria mẹ của ông Giacôbê, và bà Salômê. Ngoài Maria Magđalênê và Maria mẹ ông Giacôbê (giống Máccô), tác giả Luca thêm bà Gioana và “những người phụ nữ còn lại”, nhưng bỏ đi bà Salômê (Lc 24,10). Xem ra, về các nhân vật đi ra mộ sáng hôm ấy, các tác giả không đồng nhất quan điểm về số lượng và danh tính. Tuy nhiên, người phụ nữ duy nhất được cả bốn tác giả Tin Mừng nêu tên là bà Maria Magđalênê. Tác giả Tin Mừng thứ tư cho biết là chỉ có một mình bà Maria Magđalênê đi ra mộ (Ga 20,1) và cũng chỉ một mình bà gặp gỡ Đấng Phục Sinh (Ga 20,11-18). Tuy nhiên, trong câu tường thuật lại cho ông Phêrô và Người môn đệ Chúa yêu, bà lại dùng động từ ngôi thứ nhất số nhiều: “Người ta đã mang Chúa đi khỏi mồ và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu” (Ga 20,2: οὐκ οἴδαμεν ποῦ ἔθηκαν αὐτόν). Tác giả Mátthêu liệt kê nhiều người phụ nữ đứng nhìn cảnh Đức Giêsu chịu đóng đinh: Những đi theo Người từ Galilê để giúp đỡ Người, trong đó có bà Maria Magđalênê, Maria mẹ của ông Giacôbê và Giuse, và mẹ của các con ông Dêbêđê (Mt 27,55-56). Tuy nhiên, chỉ có hai bà được tác giả kể tên là ngồi trước mộ Đức Giêsu lúc Người đã được an táng (Mt 27,61)[2] và đây cũng chính là hai người phụ nữ đi đến mồ Đức Giêsu sớm nhất, theo Mátthêu.

2.     Thời gian: Các tác giả đều đồng thuận với nhau là sự kiện này xảy ra vào ngày thứ nhất trong tuần. Riêng tác giả Mátthêu và Máccô nhấn mạnh thêm mệnh đề thời gian “sau ngày Sabát”, nghĩa là sau ngày nghỉ Lễ. Theo truyền thống Nhất Lãm, Đức Giêsu chết vào chiều thứ Sáu, ngày chuẩn bị của ngày Nghỉ Sabát (Mc 15,42; Mt 27,62). Mệnh đề thời gian “sau ngày Sabát” (Máccô nói là ‘Sau khi ngày Sabát qua đi”), cùng với hai mệnh đề “ngày thứ nhất trong tuần” và “lúc bình minh” diễn tả một khoảng thời gian sớm nhất mà người ta có thể đến mộ Chúa ngay sau ngày nghỉ Lễ theo luật. Đây cũng là khoảng thời gian sớm nhất mà họ đã khám phá ra là Đức Giêsu không còn ở đó nữa. Ngày Sabát kết thúc vào chiều tối, và có lẽ vì người ta không thể đi ra mộ vào ban đêm được, nên phải đợi đến lúc bình minh.[3]

3.     Một trận động đất lớn: Khác với các tác giả khác, Mátthêu cho biết tại thời điểm ấy có một trận động đất lớn (σεισμὸς ἐγένετο μέγας) đã xảy ra. Đây là hiện tượng báo hiệu một sự   xuất hiện của sứ giả từ trời. Hiện tượng này được tác giả giải thích bằng một liên từ chỉ lý “vì” (γὰρ) sứ giả của Thiên Chúa đi xuống từ trời. Tác giả Mátthêu thường mô tả sự kiện kèm theo những hiện tượng lạ lùng như vậy.[4] Trong trình thuật về cảnh Đức Giêsu chết trên thập giá, Mátthêu là tác giả duy nhất mô tả hiện tượng “đất rung chuyển, và đá nứt ra, các mồ mả được mở ra, và nhiều xác của các thánh, những người đang yên giấc được trỗi dậy” (Mt 27,51-52). Danh từ “trận động đất” (σεισμὸς) được dùng trong cảnh Đức Giêsu chết, được lặp lại ở cảnh này.

4.     Sứ giả Thiên Chúa[5]: Tác giả Máccô mô tả rằng trên đường những người phụ nữ đi đến mộ, họ lo lắng không biết ai sẽ giúp họ lăn tảng đá ra. Nhưng khi họ ngước mắt nhìn lên thì thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi cửa mồ. Khi vào trong mồ, họ thấy một chang trai trẻ mặc áo trắng, ngồi bên phải (Mc 16,3-5). Tác giả Luca cho biết là họ đã khám phá tảng đá đã được lăn ra, và họ gặp hai người đàn ông đứng bên họ (Lc 24,2.4). Chỉ có tác giả Mátthêu nói rõ ràng đó là một sứ giả Thiên Chúa, đi xuống từ trời, và vì thế có trận động đất xảy ra. Tác giả Mátthêu như muốn diễn tả rõ ràng là ai đã lăn tảng đá ra và lăn ra thế nào. Những chi tiết như “vẻ bề ngoài của ông như là ánh sáng và y phục của ông trắng như tuyết” tô điểm thêm về dáng vẻ của sứ giả Thiên Chúa, đến từ trời. Cách mô tả này tương tự như cách mà tác giả mô tả Đức Giêsu trong cảnh biến hình (Mt 17,1-7), trong đó, “mặt của Người chiếu sáng như mặt trời” và y phục Người được mô tả “trắng như ánh sáng”. Nếu như tác giả Máccô và Luca bỏ ngỏ về thời điểm và tác nhân lăn tảng đá to đi, thì tác giả Mátthêu mô tả rất rõ, chính sứ giả từ trời đã đến “lăn tảng đá ra và ngồi trên nó”. Dữ liệu này của tác giả Mátthêu như muốn lập đầy chỗ trống của những thắc mắc về danh tính nguồn gốc của chàng thanh niên trong Máccô hay là hai người đàn ông trong Luca và cách thức mà tảng đá đã được lăn ra. Sự hiện diện của vị sứ giả này rất quan trọng, vì ông chính là người giải thích cho hai người phụ nữ biết lý do về sự biến mất của Đức Giêsu và qua đó long trọng loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các bà.

5.     Những người canh mộ: Đây là chi tiết riêng của tác giả Mátthêu. Sở dĩ tác giả Mátthêu có chi tiết này là vì trước đó tác giả cũng đã có trình thuật về sự việc các Thượng Tế và những người Pharisêu xin phép quan Philatô cho lính canh mồ, phòng khi các môn đệ của Đức Giêsu lấy trộm xác Người và phao tin rằng Người đã trỗi dậy từ cõi chết (Mt 27,62-68). Những người canh mộ được sai đến, cùng với việc niêm phong ngôi mộ (Mt 27,66), tượng trưng cho sự bảo đảm chắc chắn là các môn đệ không thể đến lấy trộm xác được. Giờ đây, những người canh mồ có lẽ đã chứng kiến toàn bộ hiện tượng động đất và sứ giả Chúa đi xuống lăn tảng đá ra. Vì quá sợ hãi, họ run rẩy và trở thành như người chết (Mt 28,4). Những toan tính để bảo đảm rằng xác Đức Giêsu không bị lấy đi của nhóm lãnh đạo đã đổ bể hoàn toàn. Những người này sau đó đã đi vào thánh báo tin cho các Thượng tế về tất cả những điều đã xảy ra. Dĩ nhiên, những người canh mồ và các Thượng Tế biết rõ việc xác Đức Giêsu biến mất không phải do các môn đệ lấy trộm. Tuy nhiên, vì đã nhận một số tiền lớn của các Thượng Tế và các Kỳ Lão, những người canh mồ đã nói đối theo ý của họ: Đang đêm, lúc chúng tôi đang ngủ, các môn đệ của ông ta đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13). Hình ảnh những người canh mồ trở thành như người chết, cùng với việc vị sứ giả của Thiên Chúa làm lơ họ, mà chỉ nói cùng những người phụ nữ, cho thấy sự hiện diện của họ là vô tác dụng và kế hoạch của nhóm lãnh đạo Do Thái bị phá sản, thậm chí còn phản tác dụng vì những người canh mồ đã vô tình chứng kiến sự thật lạ lùng.

6.     Đức Giêsu chịu đóng đinh: Đức Giêsu được định danh là “người chịu đóng”, danh xưng gắn liền mới cuộc khổ nạn mà Đức Giêsu vừa trải qua.[6] Trong lời tiền báo về cuộc khổ nạn Đức Giêsu cũng đã báo trước Người sẽ chịu đóng đính vào thập giá (Mt 20,19; 26,2). Đó cũng chính là khổ hình dành cho những vị ngôn sứ được Chúa sai đến (Mt 23,34). Trong phiên tòa, dân chúng đã hô vang bản án dành cho Đức Giêsu “Đóng đinh nó vào thập giá” (Mt 27,22; Mc 15,13.14; Lc 23,21.23). Khổ hình này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong trình thuật thương khó: “Trao cho họ đóng đinh vào thập giá (Mt 27,26; Mc 15,15)”; “Điệu Người đi đóng đinh vào thập giá” (Mt 27,31; Mc 15,20); “Đóng đinh Người vào thập giá xong” (Mt 27,35; Mc 15,25 ghi chú lúc họ đóng đinh Người là giờ thứ ba); “Cùng chịu đóng đinh với Người” (Mt 27,44; Mc 15,27; 15,32; Lc 23,33). Tác giả Luca còn kéo dài ngôn từ liên quan đến khổ hình “chịu đóng đinh” trong câu chuyện của hai môn đệ trên đường về Emmaus (Lc 24,6.7). Trong bài giáo lý căn bản của các Tông Đồ được ghi lại trong sách Công Vụ, Đức Giêsu cũng được gắn liền với danh xưng Đấng chịu đóng đinh: “Chính nhờ danh Đức Giêsu Kitô Nadarét, Đấng mà quý vị đả đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị” (Cv 4,10). Trong giáo huấn của mình, tác giả Phaolô nhiều lần nhấn mạnh đến khổ hình “chịu đóng đinh” của Đức Giêsu. Phaolô khẳng định là “chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1,23). Vị Tông Đồ còn khẳng định tính độc tôn của của kiến thức này: “Khi còn ở giữa anh em tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Kitô mà là Đức Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2.8; 2 Cr 13,4; Gl 3,1). Giáo huấn về mầu nhiệm “chịu đóng đinh” được áp dụng cho các tín hữu với những ý nghĩa mới: “Con người cũ nơi chúng ta bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, nhờ vậy, con nguời tội lỗi đã bị hủy diệt” (Rm 6,6); “Tôi cùng chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô” (Gl 2,19); “Ai thuộc về Đức Kitô thì đã chịu đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với những dục vọng và đam mê” (Gl 5,24). Hình ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh vừa mang tính lịch sử để những người phụ nữ nhận dạng ra Người, vừa gợi lên ý tưởng cứu độ qua khổ hình thập giá, và mời gọi cùng chịu đóng đinh những thói hư tật xấu, đam mê xác thịt để được sống đời sống mới cùng với Đấng Phục Sinh.

7.     Không còn ở đây…đã trỗi dậy: Thông điệp chính yếu, nền tảng là “Người đã trỗi dậy”. Mệnh đề “Người không còn ở đây” đối lại với mục đích ban đầu của hai người phụ nữ “đi xem mộ”. Đi xem mộ, hay đi để nhìn vào mộ, là hành vi tiếp nối với hành vi trước đó của hai bà, đó là, “ngồi phía trước ngôi mộ” (Mt 27,61). Sự gắn bó với Đức Giêsu làm cho họ không muốn rời khỏi mộ, và khi rời khỏi rồi, thì muốn trở lại thăm sớm nhất có thể. Điều mà sứ giả từ trời mời gọi hai người phụ nữ đến mà xem là “nơi Người đã từng được đặt” (τὸν τόπον ὅπου ἔκειτο). Động từ “đặt” ở thì vị hoàn (ἔκειτο), diễn tả một hành động đã từng xảy ra trong qua khứ. Người đã từng được đặt ở đây. Điều mà hai người phụ nữ muốn nhìn thấy là ngôi mộ mà trong đó vẫn còn xác của Đức Giêsu. Giờ đây, họ chỉ còn thấy ngôi mộ, nơi Người đã từng được đặt. Người không còn ở đó nữa. Tất cả các chi tiết chỉ để làm rõ rằng: “Người đã phục sinh”, điều mà hai người phục nữ chưa từng nghĩ đến. Hai người đàn ông trong trình thuật của tác giả Luca đặt câu hỏi rằng: “Tại sao các chị lại tìm người sống giữa những kẻ chết?” Đức Giêsu là “người sống” và không còn ở đây nữa.

Sự kiện Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết đã được Đức Giêsu bật mí không những một lần mà ba lần. Thật vậy, cứ mỗi lần Người tiền báo về cuộc khổ nạn thì Người đều bật mí về sự sống lại: “Ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy” (Mt 16,21; 17,23; 20,19).[7] Tuy nhiên, có lẽ, vì Đức Giêsu công bố thông điệp này cùng với mầu nhiệm khổ nạn, nên không ai để ý đến và nhớ đến, ngay cả các Tông Đồ. Chỉ có các Thượng Tế và những người Pharisêu nhớ đến bí mật này, nhưng họ nghĩ rằng đó là lời nói của người bịp bợm (x. Mt 27,63.64).

8.     Đừng sợ (μὴ φοβεῖσθε) … Hãy vui mừng (χαίρετε): Hai người phụ nữ có lẽ cũng có nỗi sợ hãi giống những người canh mồ, khi chứng kiến cảnh động đất cùng với sự xuất hiện lạ lùng của sứ giả từ trời. Trước khi loan báo Tin Mừng Phục Sinh, sứ giả Thiên Chúa trấn an những người phụ nữ là “đừng sợ”. Sau lời trấn an của sứ giả Thiên Chúa, dường như hai bà vẫn chưa hết sợ nhưng có thêm “nỗi vui mừng lớn”: “Họ rời khỏi mộ với nỗi sợ hãi và niềm vui lớn”. “Hãy vui mừng” (χαίρετε) là lời đầu tiên Đức Giêsu Phục Sinh nói với các ba khi Người hiện ra. Tuy nhiên, dường như Đức Giêsu nhận ra nỗi sợ hãi vẫn còn nơi các bà nên sau đó Người trấn an họ là “đừng sợ” (Mt 18,10). Tâm trạng của hai người phụ nữ lẫn lộn giữa niềm vui và nỗi sợ. Lý do cho sự vui mừng rõ ràng là vì Chúa đã Phục Sinh. Nỗi lo sợ có thể có sự biến chuyển: Lúc đầu là do hiện tượng lạ (động đất và sứ giả Thiên Chúa xuất hiện), nhưng về sau nỗi sợ còn lại có thể là do cảm xúc của con người trước kinh nghiệm gặp gỡ thế giới thần linh, đặc biệt là kinh nghiệm đầu tiên về sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh.

9.      Lập tức hãy đi loan báo cho các môn đệ: Sau khi đã lãnh nhận Tin Mừng phục sinh, những người phụ nữ được mời gọi “đi nói cho các môn đệ của Người”. Thông điệp mà họ phải loan báo là: “Hãy đi nói cho cho các môn đệ của Người rằng Người đã trỗi dậy từ cõi chết. Kìa! Người sẽ đi đến Galilê trước anh em. Ở đó anh em sẽ thấy Người”. Không chỉ là thông điệp về sự phục sinh của Đức Giêsu nhưng còn là thông báo về cuộc gặp gỡ tại Galilê.

Trạng ngữ “lập tức” (ταχὺ) được đặt trước cụm động từ “đi nói” diễn tả mức độ khẩn cấp của thông điệp. Mệnh lệnh khẩn cấp của vị sứ giả Thiên Chúa đã được các bà thực thi cách khẩn cấp: “lập tức, họ rời khỏi mộ vời nỗi sợ và niềm vui lớn, chạy đi loan báo cho các môn đệ của Người”. trạng từ “lập tức” được lặp lại cùng với động từ “chạy” cho thấy mức độ khẩn cấp trong hành động của các bà.

Theo trình thuật của tác giả Máccô, các bà “ra khỏi mồ, mà chạy trốn, vì họ run rẩy và sợ ngất người ra. Và họ đã chẳng nói với ai một lời, vì họ sợ” (Mc 16,8). Như vậy, tác giả Mátthêu đã mô tả thái độ của các bà cách tích cực hơn khi đối diện với Tin Mừng Phục Sinh. Có lẽ, tác giả Mátthêu nhận ra rằng vấn đề không thể kết thúc trong sự sợ hãi của những người phụ nữ.[8] Tương tự, tác giả Luca cũng cho thấy sau khi trở về từ ngôi mộ, các bà đã “loan báo cho toàn bộ mười một môn đệ và tất cả những người còn lại” (Lc 24,9) và “nói đi nói lại những điều này cho các Tông Đồ” (Lc 24,10).

Mệnh lệnh của sứ giả Thiên Chúa được Đức Giêsu nhắc lại một lần nữa. Nội dung mệnh lệnh của Đức Giêsu không có thông điệp Phục Sinh, nhưng làm rõ mục đích của việc loan báo: “Hãy đi loan báo cho các môn đệ của Thầy để họ có thể khởi hành đi Galilê, họ sẽ thấy Thầy ở đó” (Mt 28,10). Sở dĩ Đức Giêsu không nhắc lại thông điệp phục sinh, vì họ đã gặp Người tận mắt và họ sẽ kể cho các môn đệ điều họ thấy. Danh xưng Đức Giêsu dùng để gọi các môn đệ rất đặc biệt: “Những người anh em của Thầy”. Các Tông Đồ là những “người anh em” của Đức Giêsu. Tương quan giữa Đức Giêsu và họ là tương quan “người thân”, không còn chỉ là Thầy – trò nữa.[9] Cách gọi này thực ra không mới mẻ lắm. Trong Mt 12,46-50, Đức Giêsu đã mở rộng tương quan gia đình ra đến “những người thi hành ý muốn của Cha trên trời”. Hơn nữa, trong câu chuyện về ngày cánh chung, Đức Giêsu đã gọi những người đói, khát, trần truồng, tù nhân, khách lạ và đau bệnh, là những “người anh em bẻ nhỏ nhất” của Người: “Những gì các ngươi làm cho một trong những người anh em bé nhỏ của Ta là các ngươi làm cho chính Ta” (Mt 25,40).

10.  Galilê, điểm hẹn: Sự kiện “Đấng Phục sinh đến Galilê” và “các môn đệ sẽ gặp Người ở đó” được lặp lại hai lần trong đoạn văn này (Mt 28,7.10; Cf. Mc 16,7). Sự lặp lại này có rất nhiều ý nghĩa. Trước tiên, trong bối cảnh trực tiếp, sự lặp lại này cho thấy điểm thống nhất trong mệnh lệnh của sứ giả Thiên Chúa và mệnh lệnh của chính Đức Giêsu. Điều này bảo đảm rằng, sứ giả đã nói đúng ý định của Đức Giêsu. Kế đến, sự lặp lại này cho thấy sự nối kết chặt chẽ trong giáo huấn và hoạt động của Đức Giêsu. Quả vậy, trước đó, Đức Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ biết là sau khi sống lại Người sẽ đi Galilê trước các ông: “Sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đi Galilê trước anh em” (Mt 26,32; Mc 14,28). Sau đó, phần kết sách Tin Mừng cho biết là “mười một môn đệ đi tới Galilê, đến ngọn núi nơi mà Đức Giêsu truyền cho các ông đến” (Mt 28,16).[10] Cuộc gặp gỡ tại Galilê là những dữ liệu riêng của tác giả Mátthêu, không có trong Tin Mừng Máccô. Theo tác giả Luca, không có chuyện các môn đệ đến Galilê. Đức Giêsu của tác giả Luca căn dặn các môn đệ là “hãy ở lại trong thành cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24,49).[11] Sau khi Đức Giêsu lên trời, họ “trở về Jêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24,52-53). Theo truyền thống của sách Công Vụ (của tác giả Luca), Thánh Linh hiện xuống lúc các môn đệ đang ở trong Nhà Tiệc Ly tại Jêrusalem. Sứ vụ của các Tông Đồ là tiến triển theo hướng ly tâm khỏi Jêrusalem: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy, tại Jêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari, và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Galilê quả là một địa danh rất đặc biệt với tác giả Mátthêu. Theo truyền thống Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ tại miền Galilê và kết thúc sứ vụ tại Jêrusalem. Tuy vậy, chỉ có một mình tác giả Mátthêu lưu ý rằng Đức Giêsu “lui về miền Galilê” và khởi đầu sứ vụ tại đó là để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia rằng: “Này Dơvulun và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giorđan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại. Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong bóng tối tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiều rọi” (Mt 4,15). Tác giả Mátthêu cũng cho biết rằng gia đình Nadarét lui về miền Galilê dưới chỉ dẫn của sứ giả trong giấc mơ của ông Giuse (Mt 2,22). Dĩ nhiên, Galilê không phải là một vùng đất hoàn toàn dân ngoại. Galilê chỉ là dân ngoại so với Giuđê, nơi có trung tâm tôn giáo Jêrusalem và đền thờ, nơi có bề dày về truyền thống đạo đức hơn và các lãnh đạo tôn cao cấp sống ở đó.  Kết thúc Tin Mừng Mátthêu, chính tại Galilê, các môn đệ nhận sứ vụ “làm cho muôn dân thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Và rất có thể sứ vụ của các môn đệ cũng bắt đầu tại Galilê giống với Đức Giêsu.

Bình luận tổng quát

Maria Magđalênê và một bà Maria khác là hai trong nhiều bà đã theo Đức Giêsu từ Galilê đến Jêrusalem để giúp đỡ Người trên hành trình sứ vụ. Hai bà đã hiện diện trong cảnh Đức Giêsu được mai táng với tư cách là những người ngồi trước mồ của Người. Nhưng rồi, họ cũng phải trở về nhà nghỉ lễ theo luật. Tuy nhiên, trong thâm tâm họ vẫn muốn trở lại thăm ngôi mộ sớm nhất có thể. Những yếu tố thời gian như “sau ngày Sabát”, “Ngày thứ nhất trong tuần”, “lúc bình mình”, như muốn nhấn mạnh đến khoảng thời gian sớm nhất những người phụ nữ này có thể tận dụng để quay trở lại mộ sớm nhất. Có lẽ họ có ý định tiếp tục ngồi trước ngôi mộ. Tuy nhiên, một cảnh tượng kinh hoàng đã xảy ra, khiến họ hoảng sợ. Có một trận động đất bất thường vì có một sứ giả từ trời đến lăn tảng đá ra khỏi mộ. Sứ giả đã cho họ biết một thông tin lạ lùng: Đức Giêsu, đấng chịu đóng đinh đã trỗi dậy rồi, Người không còn ở đây nữa. Tin Mừng này thật ra không lạ lẫm gì vì chính Đức Giêsu đã báo trước đến ban lần, nhưng vì không biết, không nhớ, không hiểu nên nó vẫn là điều bất ngờ đối với tất cả. Thay vì, xem ngôi mộ, họ được mời gọi xem nơi Đức Giêsu đã từng được đặt mà nay đã không còn nữa. Họ được mời gọi nhanh chóng đi loan báo cho các môn đệ của Đức Giêsu rằng: Người đã sống lại, và sẽ đến đi đến Galilê trước các môn đệ, ở đó họ sẽ được gặp Người. Hai người phụ nữ mang theo cảm giác sợ hãi và đầy vui mừng, nhanh chóng đi báo cho các môn đệ. Đang khi đi, họ được gặp chính Đức Giêsu Phục Sinh. Điều đầu tiên Người mời gọi họ là “hãy vui mừng” và trao ban thông điệp tương tự như thông điệp họ đã nhận từ vị sứ giả.

Sự kiện những người phụ nữ được kể tên trong biến cố trọng đại Thương Khó – Phục Sinh quả là rất đặt biệt. Trong thế giới mà người phụ nữ không được xem trọng, thì việc nhắc đến tên những người phụ nữ này nhiều lần nơi trình thuật quan trọng như vậy, cho thấy đây là một sự kiện lịch sử đã in sâu vào ký ức nhóm kitô hữu sơ khai và các tác giả Tin Mừng không thể bỏ qua.[12] Vai trò chứng kiến cũng như chứng nhân của Maria Magđalênê và những người phụ nữ khác là rất quan trọng. Chính họ là những người đã theo chân Đức Giêsu từ Galilê để giúp đỡ Người, rồi theo Người đến nơi tử nạn, ngồi đối diện mộ sau khi Người được đặt vào, đi ra mộ trước hết, là những người đầu tiên chứng kiến ngôi mộ trống và gặp gỡ Đấng Phục Sinh, nhận lãnh sứ vụ loan tin cho các môn đệ. Họ thực sự là những người môn đệ, những người theo Chúa, và là những tông đồ, người được sai đi.

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

Đối chiếu bản văn về biến cố ngôi mộ trống

Mc 16,1-8

Mt 28,1-10

Lc 24,1-10

Ga 20,1-10

1 Khi ngày Sabát đã trôi rồi, thì Maria Magđalênê và Maria mẹ Giacôbê, cùng Salômê, mua hương liệu để xức xác Người. 2 Sáng sớm tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, họ đi đến mồ, lúc mặt trời hé mọc. 3 Và họ nói với nhau: “Ai sẽ vần viên đá ra khỏi cửa mồ cho ta?” 4 Nhưng khi nhìn lên, họ thấy tảng đá đã được lăn ra rồi. Một tảng đá thật lớn! 5 Khi vào trong mồ, họ thấy một thanh niên ngồi bên phải, mặc áo dài trắng, và họ hoảng sợ. 6 Nhưng người ấy nói với họ: “đừng hoảng sợ! Các bà tìm ông Giêsu Nadarét, đã bị đóng đinh thập giá: Người đã sống lại! Người không có đây. Này xem: Chỗ người ta đặt Người. 7 Nhưng các bà hãy đi nói với các môn đệ của Người và Phêrô rằng: Người đi trước anh em tới Galilê: Ở đó anh em sẽ thấy Ngài, như Ngài đã nói với anh em. 8 Họ ra khỏi mồ, mà chạy trốn, vì họ run rẩy và bị ngất. Và họ đã chẳng nói với ai một lời, vì họ sợ...

1 Sau ngày Sabát, vào lúc bình minh ngày thứ nhất trong tuần, bà Maria Magđalênê và một bà Maria khác đi xem ngôi mộ.

2 Và kìa, có một trận động đất lớn xảy ra, vì sứ giả Thiên Chúa đi xuống từ trời và đi đến lăn tảng đá và ngồi lên trên nó.

3 Vẻ bề ngoài của ông như là ánh sáng và y phục của ông trắng như tuyết.

4 Vì mỗi sợ hãi, những người canh mộ run rẩy và trở nên như những người chết.

5 Để đáp trả, vị sứ giả nói cùng những người phụ nữ: Đừng sợ, vì tôi biết các bà tìm Đức Giêsu chịu đóng đinh.

6 Người không ở đây nữa, Người đã trỗi dậy như Người đã nói, hãy đến nhìn xem nơi người ta đã đặt Người.

7 Và ngay lập tức, hãy đi nói cho cho các môn đệ của Người rằng Người đã trỗi dậy từ cõi chết. Kìa! Người sẽ đi đến Galilê trước anh em. Ở đó anh em sẽ thấy Người, này! tôi nói cùng chị em.

8 Và họ lập tức ra đi khỏi ngôi mộ với nỗi sợ hãi và niềm vui vĩ đại, họ chạy đi báo cho các môn đệ của Người.

9 Và kia! Đức Giêsu gặp họ nói rằng: Hãy vui lên, và họ đến bắt lấy chân của Người và bái lạy Người

10 Và Người nói cùng họ rằng: Đừng sợ, các bà hãy đi báo cho các anh em của Thầy để họ đi đến Galilê, ở đó họ sẽ thấy Thầy.

1 Vào sáng sớm tinh sương, ngày thứ nhất trong tuần, họ đi đến ngôi mộ, mang theo dầu thơm mà họ đã chuẩn bị.

2 Họ đã khám phá ra tảng đá đã bị lăn ra khỏi mộ,

3 Khi đi vào trong, họ không tìm thấy thân xác của Chúa Giêsu

4 Khi họ đang phân vân về điều này, thì kìa! Có hai người đàn ông ăn mặc sáng chói đang đứng bên họ.

5 Khi họ đang sợ hãi và sấp mặt xuống đất, thì hai người đàn ông nói cùng họ: “Tại sao chị em lại tìm người sống giữa những người chết?

6 Người không ở đây, nhưng đã sống lại, hãy nhớ lại điều mà Người đã nói với chị em khi Người còn ở Galilê,

7 nói rằng: Con Người phải chịu trao nộp vào tay những người tội lỗi và sẽ chịu đóng đinh, rồi ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”

8 Và họ nhớ lại lời của Người.

9 Rồi, sau khi trở về từ ngôi mộ, họ loan báo cho toàn bộ mười một môn đệ và tất cả những người còn lại.

10 Họ là bà Maria Magđalênê,  Gioana và Maria mẹ của ông Giacôbê và những người phụ nữ còn lại, cùng với họ, nói đi nói lại những điều này cho các Tông Đồ.

 

1 Ngày thứ nhứt trong tuần, Maria người Magđala đi đến mồ lúc sáng sớm, trời vẫn còn tối, và thấy viên đá đã cất khỏi mồ. 2 Bà chạy đi gặp Simôn Phêrô và người môn đồ kia, người Ðức Yêsu yêu dấu, và nói với họ: "Người ta đã cất Chúa khỏi mồ, mà chúng ta không biết họ đặt Ngài ở đâu?"

3 Vậy Phêrô ra đi cùng với môn đồ kia, họ đi về phía mồ, 4 cả hai chạy với nhau. Nhưng môn đồ kia chạy lanh hơn lấn trước Phêrô, nên đã đến mồ trứơc tiên. 5 Cúi nhìn vào, ông thấy những dải vải còn đó; nhưng ông không vào. 6 Phêrô theo sau cũng đến nơi, và ông vào mộ, và thấy dải vải vẫn đặt, đó, 7 còn tấm thượng khâm phủ đầu Ngài thì lại không đặt chung với dải vải, nhưng được cuộn riêng một chỗ. 8 Bấy giờ môn đồ kia, người đã tới mộ trước tiên, cũng đi vào. Ông đã thấy, và ông đã tin. 9 Là vì họ chưa hiểu lời Kinh thánh là Ngài phải sống lại từ cỏi chết. 10 Các môn đồ lại trở về nơi họ ở.

 

 



[1] “The angel’s final words to the women (see p. 1069, n. 9), literally “Look, I have told you,” are reminiscent of the frequent OT formula, “The Lord has spoken” (Isa 1:2; 25:8; Joel 3:8 etc.) or “I, the Lord, have spoken” (Num 14:35; Ezek 5:15, 17, etc.). The formula marks an authoritative pronouncement (perhaps even that the angel speaks for God), and also functions now as a call to action. The message has been delivered, and now it is up to the women to act on it” [R.T. FRANCE, The Gospel of Matthew (NICNT; Grand Rapids 2007) 1101].

[2] “According to T. R. W. Longstaff, ‘The Women at the Tomb: Matthew 28:1 Re.examined,’ NT5 TJ (1981) 277-82, it was a Jewish custom to watch the tomb of a loved one until the third day after death to ensure that premature burial had not taken place” [D.J. Harrington, The Gospel of Matthew (SP1; Collegeville 1991) 409].

[3] “In context Matthew goes on to describe events which belong in all the traditions to Sunday morning. Thus, the next clause towards dawn must be understood as meaning “when the sabbath had already passed into the next day” [W.F. Albright & C.S. Mann, Matthew. Introduction, translation, and notes (New Haven – London 2008) 358.

[4] “Indeed Matthew’s connective “for” suggests that the quake is itself the result, or at least the context, of the angel’s coming, so that emphasis falls on the angel rather than the earthquake” (R.T. FRANCE, The Gospel of Matthew, 1099).

[5] “Just as angels were prominent in the infancy narratives in communicating and clarifying God's will, so the angel here explains what happened and what the women are to do” (D.J. Harrington, The Gospel of Matthew, 409).

[6] “The poignant description of Jesus as “the one who has been crucified” leaves no room for doubt of the real death of the one who is now alive again. But the absence of his body from the place where it had been (as the women knew, 27:61) shows that his resurrection is no less real and physical than his death” (R.T. FRANCE, The Gospel of Matthew, 1100).

[7] “It is explained simply by the fulfillment of Jesus’ repeated predictions that he would “be raised,” using the same verb as in 16:21; 17:9, 23; 20:19; 26:32 (cf. also 27:63, 64)” (R.T. FRANCE, The Gospel of Matthew, 1100).

[8] “Matthew has realized that the matter cannot be left where it is at Mark 16:8. Even without the further instruction from Jesus in v. 10, the women are already on their way to deliver their message” (R.T. FRANCE, The Gospel of Matthew, 1102).

[9] “Brethren are not the biological brothers of Jesus, but rather his disciples (see verse 16). One way to translate is “my disciples, who are like brothers to me,” but this is a little cumbersome. “My closest friends” has also been used, and “the ones I love like brothers” is another possibility” [B.M. Newman & P.C. Stine. A handbook on the Gospel of Matthew (UBS; New York 1992) 880.

[10] “The repetition serves the function of placing even more emphasis on the climactic appearance in Galilee (Matt 28:16-20)” (D.J. Harrington, The Gospel of Matthew, 410); “The result of this repetition is that the importance of the coming meeting in Galilee is further underlined, so that the reader is well prepared for the climactic scene of the gospel in vv. 16–20” (R.T. FRANCE, The Gospel of Matthew, 1102).

[11] “In Luke 24 and John 20 the appearances of the risen Jesus take place in the area of Jerusalem. In Matt 28:16-20 and John 21 he appears in Galilee” (D.J. Harrington, The Gospel of Matthew, 409).

[12] “All the gospels stress the significance of the women as the first witnesses of the empty tomb. This is hardly likely to be a fictional invention, in a society where women were not generally regarded as credible witnesses, especially as the singling out of the women for this honor detracts from the prestige of the male disciples” [R.T. FRANCE, The Gospel of Matthew, 1098).