Friday, 11 December 2020

"LÀM CHỨNG VỀ ÁNH SÁNG, ĐỂ TẤT CẢ MỌI NGƯỜI TIN"

 CN III MV B (Is 61,1-2.10-11; 1Tx 5,16-24; Ga 1,6-9.19-28)

Tiếng Hy Lp

Tiếng Việt

 6  Ἐγένετο ἄνθρωπος, ἀπεσταλμένος παρὰ θεοῦ, ὄνομα αὐτῷ Ἰωάννης·

 7  οὗτος ἦλθεν εἰς μαρτυρίαν ἵνα μαρτυρήσῃ περὶ τοῦ φωτός, ἵνα πάντες πιστεύσωσιν δι᾽ αὐτοῦ.

 8  οὐκ ἦν ἐκεῖνος τὸ φῶς, ἀλλ᾽ ἵνα μαρτυρήσῃ περὶ τοῦ φωτός. (Jn. 1:6-8 BGT)

19 Καὶ αὕτη ἐστὶν ἡ μαρτυρία τοῦ Ἰωάννου, ὅτε ἀπέστειλαν [πρὸς αὐτὸν] οἱ Ἰουδαῖοι ἐξ Ἱεροσολύμων ἱερεῖς καὶ Λευίτας ἵνα ἐρωτήσωσιν αὐτόν· σὺ τίς εἶ;

 20  καὶ ὡμολόγησεν καὶ οὐκ ἠρνήσατο, καὶ ὡμολόγησεν ὅτι ἐγὼ οὐκ εἰμὶ ὁ χριστός.

 21  καὶ ἠρώτησαν αὐτόν· τί οὖν; σὺ Ἠλίας εἶ; καὶ λέγει· οὐκ εἰμί. ὁ προφήτης εἶ σύ; καὶ ἀπεκρίθη· οὔ.

 22  εἶπαν οὖν αὐτῷ· τίς εἶ; ἵνα ἀπόκρισιν δῶμεν τοῖς πέμψασιν ἡμᾶς· τί λέγεις περὶ σεαυτοῦ;

 23  ἔφη· ἐγὼ φωνὴ βοῶντος ἐν τῇ ἐρήμῳ· εὐθύνατε τὴν ὁδὸν κυρίου, καθὼς εἶπεν Ἠσαΐας ὁ προφήτης.

 24  Καὶ ἀπεσταλμένοι ἦσαν ἐκ τῶν Φαρισαίων.

 25  καὶ ἠρώτησαν αὐτὸν καὶ εἶπαν αὐτῷ· τί οὖν βαπτίζεις εἰ σὺ οὐκ εἶ ὁ χριστὸς οὐδὲ Ἠλίας οὐδὲ ὁ προφήτης;

 26  ἀπεκρίθη αὐτοῖς ὁ Ἰωάννης λέγων· ἐγὼ βαπτίζω ἐν ὕδατι· μέσος ὑμῶν ἕστηκεν ὃν ὑμεῖς οὐκ οἴδατε,

 27  ὁ ὀπίσω μου ἐρχόμενος, οὗ οὐκ εἰμὶ [ἐγὼ] ἄξιος ἵνα λύσω αὐτοῦ τὸν ἱμάντα τοῦ ὑποδήματος.

 28  ταῦτα ἐν Βηθανίᾳ ἐγένετο πέραν τοῦ Ἰορδάνου, ὅπου ἦν ὁ Ἰωάννης βαπτίζων. (Jn. 1:19-28 BGT)

6 Một người xuất hiện, người được Chúa sai, tên ông ta là Gioan

7 Ông ta đến cho chứng từ, để làm chứng về ánh sáng, để tất cả mọi người có thể tin nhờ ông.

8 Ông ấy không phải là ánh sáng, nhưng để ông làm chứng về ánh sáng.

19 Và đây là chứng cứ của Gioan. Khi những người Do Thái từ Giê-ru-sa-lem sai đến với ông các tư tế và Lê-vi để hỏi ông: “ông là ai?”

20 Ông đã thừa nhận và không chối từ, ông thừa nhận rằng “tôi không phải là Đấng Ki-tô”

21 Và họ hỏi ông: “vậy thì là ai? Có phải ông là Ê-li-a chăng?” ông nói: “tôi không phải”. “Có phải ông là vị ngôn sứ chăng?” và ông trả lời: “không”.

22 Rồi họ nói cùng ông: “ông là ai? để chúng tôi có thể đưa ra câu trả lời cho những người đã gửi chúng tôi. Ông nói gì về mình?”

23 Ông trả lời: “tôi là tiếng của người hô trong hoang địa: ‘hãy làm thẳng con đường của Đức Chúa’ như ngôn sứ Isaiah đã nói”.

24 Và những người được những người Pha-ri-sêu sai đến.

25 Họ cũng hỏi ông và nói cùng ông: “vậy thì tại sao ông làm phép rửa nếu ông không phải là Ê-li-a và cũng không phải là vị ngôn sứ?”

26 Trả lời cho họ, Gioan nói: “tôi dìm trong nước. Có người đang đứng giữa các ông mà các ông không biết,

27 Người đến sau tôi, người mà dây dép quai hậu của ông ta, tôi không xứng đáng để tháo”.

28 Những điều này xảy ra tại Bê-ta-nia bên kia song Gio-đan nơi Gioan đã làm phép rửa.

 


Bối cảnh phụng vụ:

Phụng Vụ Chúa Nhật III Mùa Vọng năm B tiếp tục kêu mời các tín hữu chuẩn bị tâm hồn qua hình ảnh và lời chứng của Gioan. Chúa Nhật tuần trước Phụng vụ mời gọi tín hữu quay trở về ngay đoạn đầu của Tin Mừng thánh Mac-cô. Trong Phụng vụ tuần này các tín hữu lại được giới thiệu về đoạn đầu của Tin Mừng theo thánh Gioan. Tin Mừng Gioan khởi đầu bằng cách giới thiệu nguồn gốc thần linh của Ngôi Lời: “từ muôn thuở đã có Ngôi Lời” (Ga 1,1). Tiếp theo sau đó là phần lời chứng của Gioan. Tuy Gioan không phải là nhân vật trung tâm của Mùa Vọng, bởi Chúa Giê-su vẫn là trung tâm của sự mong chờ, Gioan vẫn là nhân vật không thể thiếu được trong tiến trình Mùa Vọng, mùa đợi chờ. Chính vì thế mà tuần này, Phụng vụ lại tiếp tục giới thiệu cho các tín hữu lời chứng của Gioan. Nhờ theo chân Gioan, theo lời chứng của ông, các tín hữu có thể gặp thấy Chúa Ki-tô, là “ánh sáng thế gian”, Thiên Chúa làm người.

Bối cảnh Tin Mừng:

Ga 1,6-8.19-28 được trích ra từ chương đầu tiên của Tin Mừng Gioan (thường được gọi là Lời Tựa của Tin Mừng Gioan). Cũng như Tin Mừng theo thánh Mác-cô, Tin Mừng Gioan không có phần tường thuật về Giáng Sinh. Tuy nhiên, ngay câu đầu Tiên Gioan đã cho thấy rằng Đức Giê-su có nguồn gốc thần linh. Ngài chính là Ngôi Lời Nhập Thể. Ngài là sự sống và là ánh sáng thế gian (Ga 1,4.9), ánh sáng chiến thắng bóng tối (1,5). Ngài là cội nguồn của mọi ân sủng. Nhờ ân sủng của Ngài chúng ta được nhận hết ơn này đến ơn khác (1,16). Tuy nhiên, Ngài đã bị người nhà của mình chối từ (1,11). Đoạn Ga 1,6-8.19-28 là đoạn nói về sứ giả Gioan và Lời Chứng của ông được lồng vào trong những giới thiệu về Chúa Giê-su. Những người Do Thái rất quan tâm về thân phận và căn tính của Gioan bởi vì ông làm phép rửa. Khác với tường thuật của Mác-cô về thành phần tiếp cận Gioan. Mác-cô kể rằng tất cả dân cư thành Giê-ru-sa-lem đến cùng Gioan để được làm phép rửa, trong khi Gioan nhấn mạnh đến các thành phần lãnh đạo Do Thái: các tư tế, Lê-vi và những người Pha-ri-sêu. Họ đến không phải xin ông làm phép rửa nhưng chất vấn về căn tính của ông và lý do tại sao ông làm phép rửa. Ông sẽ làm chứng cách rõ ràng. Nhưng những chứng từ của ông chỉ mang lại niềm tin nhiều hơn cho những người Do Thái bình thương, còn các bậc quan chức học cao hiểu rộng thì ít người lãnh hội được. Tường thuật về Gioan được lồng vào trong tường thuật về Đức Giê-su cho thấy sự gắn bó và cần thiết của sứ vụ của ông với sứ vụ của Chúa Giê-su.



Một số điểm chú giải:

1.     “Người được Chúa sai”: Gioan Tẩy Giả được tác giả Tin Mừng thứ tư (Tin Mừng Gioan) giới thiệu ngay từ đầu là người được Chúa sai đến.  Tác giả nói trực diện rằng tác nhân của động từ “sai đi” là Chúa chứ không cần dùng lối ẩn dụ thần linh. Mác-cô cũng nói một cách gián tiếp để ám chỉ rằng Gioan chính là người đã được Thánh Kinh Cựu Ước như là người được Chúa sai đến. Mác-cô trích 2 đoạn văn Xh 23,20: “chú ý! Tôi sẽ gửi thiên sứ của tôi trước ngươi nhằm bảo vệ ngươi dọc đường và mang ngươi đến nơi ta tôi đã chuẩn bị”; và “Ta sẽ sai thiên sứ của ta, người sẽ dọn đường trước mặt tôi” (Ml 3,1). Cụm giới từ “bởi Chúa, từ Chúa” (para Theou), chỉ được dùng cho Gioan và nhiều lần hơn cho Đức Giê-su (1,4; 6,46; 7,29; 9, 16.33; 16,27; 17,8). Động từ sai đi, gửi đi trong tiếng Hy Lạp là “ἀποστέλλω là một động từ hết sức đặc biệt trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Thánh Kinh Cựu Ước nhiều lần dùng động từ này với tác nhân là chính Chúa. Ngài sai các ngôn sứ, đi làm sứ vụ cứu độ của Ngài. Ngài sai Mô-sê làm nhiệm vụ dẫn dắt dân Ngài ra khỏi Ai-cập (Đnl 34,11; 1Sm 12,8). Chúa lại sai các thủ lãnh đến giải cứu dân Ngài trong cơn khốn cùng (1Sm 12,11). Chúa sai Samuel xức dầu cho Saul làm vua dân It-ra-el (1Sm 15,1); sai ngôn sứ Nathan đến cảnh tỉnh David về lỗi lầm của ông (2Sm 12,1). Trong Tân Ước, chính Đức Giê-su thừa nhận mình được Chúa xức dầu và sai đi (Lc 4,18). Tác giả Tin Mừng Gioan giới thiệu Đức Giê-su như là người Con được Cha sai đến (Ga 3,17; 5,38). Đức Giê-su cũng sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng (Mt 10,5; Lc 9,2; 10,1). D. Carson cho rằng việc Gioan được Đấng tối cao sai đi đặt Gioan cùng thể loại với Mô-sê (Xh 3,10-15). Thật sự ông ta cũng giống Đức Giê-su theo nghĩa là người được Chúa sai đến (Ga 3,17).[1] Trong Tin Mừng thứ tư chỉ có Gioan Tẩy Giả, Đức Giê-su và Đấng Pa-rác-lê là được Chúa sai đến.[2] Danh từ các tông đồ (12 tông đồ) trong tiếng Hy Lạp là apostolo (tiếng Anh: Apostle, Pháp: apôtre, Ý: apostolo).  Danh từ này có nguồn gốc là động từ apostello (được sai đi). Các tông đồ được gọi bằng chính sứ mạng, hay ơn gọi mà Chúa giao cho các ông. Chữ Tông Đồ trong Tiếng Việt là viết tắt của cụm từ “chính tông môn đồ” (những môn đồ đầu tiên được sai đi). Trong đoạn văn này động từ “sai đi được sử dụng 3 lần trong đó chỉ có một lần tác nhân của động từ này là Thiên Chúa (Ga 1,6). Hai lần còn lại, các tác nhân lần lượt là những người Do Thái và những người Pha-ri-sêu. Những người Do Thái sai các tư tế và các Lê-vi đi từ Giê-ru-sa-lem để hỏi Gioan xem ông là ai (Ga 1,19). Những người Pha-ri-sêu sai người đến hỏi Gioan về lý do tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô hay các ngôn sứ (Ga 1,24-25). Có một lần khác nữa một động từ khác, cùng nghĩa khác âm (pempo) được dùng để diễn tả sự sai đi. Và tác nhân của động từ này ám chỉ là những người Do Thái (Ga 1,22). Như vậy, cũng là động từ “sai đi” những các tùy thuộc vào các tác nhân mà người được sai đi có sứ vụ khác nhau. Trong khi, Gioan được Chúa sai đến để “làm chứng, làm chứng cho ánh sáng.” Những tác nhân còn lại, những người Do Thái, đại diện là các tư tế, pha-ri-sêu và Lê-vi thì được sai đến để chất vấn căn tính và sứ vụ của người được Chúa sai đến. Động từ “hỏi, chất vấn” được dùng đến 3 lần trong đoạn văn này (1,19.21.25). Đó là một mật độ khá dày đặc. Họ hỏi, họ chất vấn rồi họ yêu cầu. Đã tồn tại một sự đối nghịch ngay từ chương đầu (Tin Mừng Gioan) giữa những lãnh đạo Do Thái và người của Chúa. Sau này trong trình thuật về cuộc thương khó độc giả sẽ gặp thấy hình ảnh những người Do Thái muốn giết Đức Giê-su.

2.     “Để làm chứng”: Mục đích và sứ vụ Chúa sai đi và giao cho Gioan là làm chứng. Xoay quanh ý tưởng làm chứng Gioan dùng rất nhiều lần lần lẫn lộn danh từ chứng từ và động từ làm chứng. Chỉ trong câu 17 Gioan đã sử dụng một sự trùng lặp một cụm giới từ chỉ mục đích và một mệnh đề có động tử chỉ mục đích. Dịch sát nghĩa là “cho việc làm chứng, để ông làm chứng” (εἰς μαρτυρίαν ἵνα μαρτυρήσῃ). Tiếp theo, trong câu 8, tác giả Gioan lại lặp lại một lần nữa mệnh đề chỉ mục đích với động từ làm chứng: “để ông làm chứng về”. Rồi sau đó, lời chứng của ông được giới thiệu bằng một câu rất cụ thể: “đây là lời chứng của Gioan” (1,19). Cũng trong chương 1, Gioan Tẩy Giả đưa ra một lời chứng về việc ông “thấy Thần Khí tựa hình chim bồ câu ngự xuống và ở lại trên Ngài” (1,32). Tin Mừng Gioan sử dụng rất nhiều danh từ “lời chứng, bằng chứng” (16 lần:), Mathew và Luca chỉ có 5 lần (Mt 8,4; 15,19; 18,16; 19,18; 24,14; Lc 5,14; 9,5; 18,20; 21,13; 22,71) và Mác-cô nhiều hơn Matthew và Luca một lần (6 lần:1,44; 6,11; 10,19; 14,57.59.60). Ngoài danh từ “chứng từ” tác giả Gioan cũng dùng rất nhiều lần động từ “làm chứng” dành cho Gioan Tẩy Giả và Đức Giê-su (1,15; 3,32; 5,32; 5,36; 8,18; 10,25). Như thế, có thế thấy Tin Mừng Gioan là Tin Mừng của lời chứng và làm chứng. Lời chứng của Gioan Tẩy Giả là tiền hô cho những lời chứng của Đức Giê-su sau này. Chính vì thế mà tác giả R. Brown cho rằng Tin Mừng thứ tư nhấn mạnh đến vai trò của Gioan như là một chứng nhân hơn là một người làm phép rửa.[3] Cũng nên biết thêm trong Tin Mừng thứ tư, Gioan không phải là người duy nhất làm chứng về Đức Giê-su. Có những nhân chứng nặng ký hơn nữa. Đó là Chúa Cha (Ga 8,18) và Thần Khí sự thật (Ga 15,26; 16,13-14).[4]

3.     Đối thể của lời chứng: “về ánh sáng” (περὶ τοῦ φωτός): Không một tác giả Tân Ước nào sử dụng danh từ “ánh sáng” (τὸ φῶς) nhiều như Tin Mừng Gioan (16 lần). Ánh sáng cũng là một chủ đề nổi bật của Tin Mừng Thứ Tư. Ánh sáng là hình ảnh ẩn dụ diễn tả chính Chúa Giê-su. Chính Chúa Giê-su cũng đã xác nhận Ngài là ánh sáng thế gian (9,5). Ngài cho biết rằng Gioan chính là cây đèn được đốt cháy để cho ánh sáng (5,35). Câu chuyện chữa người mù từ thuở mới sinh trong chương 9 là ví dụ điển hình của tiến trình từ bóng tối đến ánh sáng. Anh mù từ thuở mới sinh đã đi từ bóng tối thể lý đến ánh sáng thể lý và cuối cùng đến ánh sáng chân lý. Đó là anh ta tin vào Đức Giê-su, Đấng Chúa Cha đã sai đến. Chúa Giê-su cũng mời gọi là “hãy tin vào ánh sáng trong khi anh có ánh sáng và trở nên con cái của ánh sáng” (12,36). Trong đoạn Tin Mừng này, danh từ “ánh sáng” được lặp lại ba lần, trong đó hai lần danh từ này đều là túc từ của động từ “làm chứng”. Danh từ này được dùng với mạo từ xác định, như là ám chỉ đến một sáng sáng xác định. Đó là Đức Giê-su. Túc từ “ánh sáng” giới hạn và xác định đối tượng của hành động làm chứng của Gioan. Gioan chỉ làm chứng cho “ánh sáng”. Đó là chính Đức Giê-su.

4.     Mục đích của lời chứng: “Để tất cả mọi người tin” (ἵνα πάντες πιστεύσωσιν). Mục đích của hành động làm chứng của Gioan cũng được diễn tả một cách rõ ràng. Để tất cả mọi người tin. Tính từ bất định được dùng như danh từ “tất cả” (πάντες) diễn tả tính phổ quát của Tin Mừng. Không ai bị loại trừ trong lời mời gọi bằng lời chứng của Gioan. Gioan 1,35-37 cho chúng ta một ví dụ về tầm ảnh hưởng của lời chứng của Gioan. Qua lời giới thiệu của Gioan, hai môn đệ của ông đã đến, ở lại với Chúa Giê-su và trở thành môn đệ của Ngài.[5] Động từ “tin” trong bối cảnh này không có túc từ. Tin điều gì hay tin vào ai? Chính vì không mang theo túc từ cụ thể nên nội dung của niềm tin này có thể được hiểu rộng ra. Đó có thể là tin vào lời chứng của Gioan[6] hoặc là tin vào “ánh sáng”, điều mà Gioan làm chứng cho. Đến cuối cùng, họ có thể tin vào Đức Giê-su cũng như tất cả Tin Mừng cứu độ của Ngài. Động từ “tin” cũng là một động từ mấu chốt trong Tin Mừng thứ tư. Có đến 80 lần tác giả Gioan sự dụng động từ tin (pisteo) trong Tin Mừng thứ tư. Đây là một con số áp đảo so với các tác giả sách Tin Mừng khác. “Tin” là một yếu tố mang tính sống còn trong Tin Mừng thứ tư. Tin thì được sống không tin thì chết. Mục đích của toàn bộ Tin Mừng, những gì mà Gioan ghi lại là để các tín hữu cũng như độc giả “có thể tin rằng Đức Giê-su là Đấng Messiah, Con Thiên Chúa và nhờ tin” các tín hữu và độc giả có thể có sự sống trong danh Ngài” (Ga 20, 31). Câu chuyện chữa người mù từ thuở mới sinh trong chương 9, cũng vươn tới đỉnh cao của nó khi anh mù được chữa lành đã tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su. Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ bên bờ giếng Samaria (Ga 4,1-42) cũng kết thúc bằng việc “nhiều cư dân xứ Samari “tin” nhờ lời chứng” của người phụ nữ (Ga 4,39). Rồi nhiều người tin hơn hơn nữa nhờ vào chính lời của Đức Giê-su (Ga 4,41). Câu chuyện ngôi mộ trống (Ga 20,1-10) cũng kết thúc bằng niềm tin của “người môn đệ Chúa yêu”: “ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8). Thánh Tô-ma cũng được mời gọi “đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,27). Đó chỉ là một số trong vô vàn trình thuật cũng như lời giảng liên quan đến hành động “tin” được ghi lại trong Tin Mừng thứ tư. Cũng như lời chứng và động từ làm chứng, động từ tin, mục đích của lời chứng của Gioan được đưa vào ngay từ đầu một các hữu ý nhằm nêu bật chủ đề của Tin Mừng này. Đối tượng của niềm tin chắc chắn là Đức Giê-su. Và tin vào Đức Giê-su thì không chỉ tin vào Đức Giê-su nhưng “tin vào Đấng đã sai Đức Giê-su” (Ga 12,44). Ai tin vào Đức Giê-su “sẽ không bao giờ chết” (Ga 11,26).

5.     Nội dung của lời chứng: “đây là lời chứng của Gioan” (αὕτη ἐστὶν μαρτυρία τοῦ Ἰωάννου)

(1)  “Tiếng của người hô trong hoang địa”: Thân phận của Gioan cũng tương tự như đã được viết trong Tin Mừng Mác-cô. Chỉ khác là ở đây Gioan nói về mình như là tiếng của người hô trong hoang địa. Đoạn này được lấy lại từ ý tưởng của Is 40,3. Đoạn trích của sách Ngôn sứ Isaiah từ Bản Bảy Mươi (bản dịch Thánh Kinh Do Thái qua tiếng Hy Lạp) hơi khác so với bản gốc tiếng Thái. Bản Bảy Mươi: có một ai đó kêu lên trong hoang địa: ‘hãy chuẩn bị một con đường’” trong khi bản tiến Do Thái: “một ai đó kêu lên: ‘hãy chuẩn bị một con đường trong hoang địa”. Bản Bảy Mươi, bản mà tác giả Gioan trích, nối kết nơi chốn của “người kêu lên” với vị trí “trong hoang địa”, còn bản Tiếng Do Thái thì lại xác định vị trí “con đường” phải chuẩn bị là ở trong “hoang địa”. Có lẽ, Gioan cũng như các tác giả Tân Ước muốn liên tưởng đến đời sống ẩn giật của Gioan Tẩy giả trong hoang địa và nơi ông làm phép rửa là Gio-đan cũng gần vùng sa mạc Giu-đê rộng lớn. Trong khi đo sách Isaiah mơ về một con đường trong hoang địa, có lẽ là con đường từ Babylon trở về đất Israel, cũng là con đường băng qua sa mạc. Tác giả Gioan không trích lược sách Xuất Hành và sách ngôn sứ Malakhi về việc Đức Chúa sẽ sai sứ giả của Người đi trước Đấng Messiah (Mc 1,2-3; Mt 3,2-3; Lc 3,4-5).

(2)  Không phải là Ê-li-a: thật ngạc nhiên, trong khi Tin Mừng Nhất Lãm nhất là Tin Mừng Mác-cô (Mc 9,11) và Matthew (Mt 11,4; 17,11; Lc 1,17) luôn muốn diễn tả rằng Gioan Tẩy Giả chính là Ê-li-a, người mà sách ngôn sứ Malakhi nói là sẽ được sai đến để dọn đường cho Đức Chúa (Ml 4,5). Sự chối từ thân phận Ê-li-a của Gioan làm cho nhiều nhà chú giải phải bối rối và khó lý giải được. M. Leon ghi nhận rằng đây có thể là dữ liệu cho thấy rằng Tin Mừng thứ tư được soạn thảo một cách độc lập với các Tin Mừng Nhất Lãm. Ông cũng lý giải rằng có thể Gioan vừa giống vừa khác ngôn sứ Ê-li-a. Ông giống Ê-li-a trong việc hoàn tất lời của ngôn sứ Malakhi về sự trở lại của Ê-li-a. Nhưng ông cũng khác Ê-li-a nếu người Do Thái muốn nghĩ đến, và mong mỏi một Ê-li-a lẫy lừng được đưa đi trong cơn gió lốc, trong một cỗ xe bằng lửa (2 V 2,11).[7] Gioan Tẩy Giả chắc chắn không phải Ê-li-a theo nghĩa đó. Cũng vậy, Đức Giê-su Đấng Mê-si-ah cũng sẽ đến trong bộ dạng, theo cái cách mà người Do Thái không thể đón nhận được.

(3)  Không phải là vị ngôn sứ: Danh xưng “Vị ngôn sứ” trong tiếng Hy Lạp có kèm theo một mạo từ xác định. Dấu hiệu này trong văn phạm Hy Ngữ, ngụ ý nói đến một vị ngôn sứ cụ thể chứ không phải một vị ngôn sứ bất kỳ nào. Những người được sai đến hỏi Gioan và cả Gioan đều biết rõ vị ngôn sứ này. Ông là ai vậy? Đây rất có thể là vị ngôn sứ mà ông Mô-sê đã hứa trong sách Đệ Nhị Luật: Thiên Chúa sẽ gửi cho Israel những vị ngôn sứ như ông vậy (Đnl 18,15.18). Đó c1o thể là một vị ngôn sứ của thời xuất hành, người có thế lặp lại các phép lạ của cuộc xuất hành và chinh phục đất hứa.[8] Tuy nhiên, theo B. Newman, trong thời Tân Ước, “vị ngôn sứ” là hình ảnh đặc biệt của niềm hy vọng mang tính cánh chung của người Do Thái. Trong Ga 7,40-41, “vị ngôn sứ” cũng được phân biệt với Đấng Messiah.[9] J. Robinson có suy nghĩ khác. Ông cho rằng tác giả Tin Mừng thứ tư có thể phản ánh đúng suy nghĩ của Gioan Tẩy Giả lịch sử. Có lẽ, Gioan đã không nghĩ chính mình đang đóng vai trò của ngôn sứ Ê-li-a. Robinson đưa ra bằng chứng là có nhiều đoạn trong Tin Mừng Nhất Lãm cho thấy rõ rằng dân chúng và vua Hê-rô-đê phân biệt giữa Ê-li-a và Gioan (Mc 6,14-15; 8,28). Và ngay cả các môn đệ của Đức Giê-su, trong đó có những người trước đây đã từng là môn đệ của Gioan, cũng không bao giờ nghĩ Gioan chính là Ê-li-a (Mt 17,10-13). Sự đồng hóa giữa Gioan Tẩy giả và ngôn sứ Ê-li-a có lẽ là quan điểm của thần học Ki-tô giáo thời sơ khai hơn là của chính Gioan Tẩy Giả. Theo thần học này, việc Gioan đóng vai của Ê-li-a, là cách tốt nhất để giải thích tương quan giữa Gioan và Giê-su.[10]

(4)  Không phải là Đấng Ki-tô:[11] Cụm từ ἐγὼ οὐκ εἰμὶ” (tôi không là) là một cụm từ hết sức đặc biệt trong thần học Do Thái Ki-tô giáo. Nó là phủ định của cụm từ “ἐγὼ εἰμὶ” (tôi là). F. Moloney cho rằng sự chối từ của Gioan là một chuẩn bị xa cho Đức Giê-su, người duy nhất có thể cho rằng “tôi là”.[12]ἐγὼ εἰμὶ” là cụm từ chỉ dành riêng cho Đức Chúa và Đức Giê-su. Nó có nghĩa là “Tôi hiện hữu”, “Tôi hằng hữu” hay là “Tôi hiện diện”, “Tôi tồn tại”. Dịch kiểu nào cũng không diễn tả được hết, cũng như ngôn ngữ loài người không cách nào diễn tả được hết thần tính của Thiên Chúa. Gioan khẳng định ngay từ đầu ông không phải là Đấng Ki-tô. Điều này chứng tỏ rằng rất có thể đa số dân chúng thời bấy giờ nghĩ ông là Đấng Ki-tô. Vị thế của ông trong lòng dân chúng không hề nhỏ. Trong lòng của dân chúng, đôi lúc ông được xếp ngang hang với Đức Giê-su. Họ lẫn lộn giữa ông và Đức Giê-su. Khi Đức Giê-su hỏi các môn đệ xem: “Người ta cho rằng Con Người là ai?” thì các môn đệ cho biết rằng nhiều người cho rằng: thầy là Gioan Tẩy Giả, nhóm khác cho rằng Thầy là Ê-li-a, Giê-rê-mi-a, hay là một trong các ngôn sứ (Mt 16,14; Mc 8,28; Lc 9,19). Đấng Ki-tô là một trong những danh xưng mà những lãnh đạo Do Thái đồn đoán và muốn xác nhận về thân phận của Gioan. Khi ông từ chối danh xưng và vị thế này thì họ chuyển qua Ê-li-a và “vị ngôn sứ”. Tất cả đều là những nhân vật mà những người Do Thái đang mong đợi vào thời cánh chung. Chỉ có một mình Đức Giê-được gọi là Đấng Messiah (Ga 1,41; 7,41; 11,27; 20,31). Chính Đức Giê-su thừa nhận rằng Ngài là Đấng Messiah (Ga 4,26). Niềm tin rằng Giê-su là Đấng Messiah, Con Thiên Chúa, chính là mục đích của Tin Mừng thứ tư (Ga 20,31). Tất cả những ghi chép trong Tin Mừng này là để người ta có thể tin rằng “Đức Giê-su chính là Đấng Messiah, Con Thiên Chúa”.

6.     “Đấng đang đứng giữa các ông mà các ông không biết: Câu trả lời của Gioan vừa minh giải cho phép rửa của ông vừa giới thiệu một Đấng khác, đang hiện diện giữa dân nhưng các nhà lãnh đạo Do Thái vẫn còn mù mờ. Trong Tin Mừng Mác-cô, Gioan cũng nhìn nhận rằng ông làm “phép dìm trong nước” còn “người đến sau ông” sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần (Mc 1,8). Gioan không nói gì đến “phép rửa trong Thánh Thần” nhưng vẫn đề cập đến sự nhỏ bé và bất xứng của mình trước “người đến sau” ông. “Đấng ở giữa các ông” sau này sẽ được Gioan giới thiệu một cách cụ thể rõ ràng hơn trong “ngày hôm sau” khi Đức Giê-su “tiến về phía ông”. Đây là lời giới thiệu chỉ cỏ trong Tin Mừng Gioan: “đây Chiên Thiên Chúa, người cất đi tội của trần gian” (Ga 1,29). Gioan cũng thừa nhận rằng, tự mình ông không thể biết Ngài (1,31.33), nhưng Đấng đã sai ông làm phép rửa đã nói cùng ông: “Ngài là người mà ông thấy Thần Khí ngự xuống và ở lại” (Ga 1,30-32). Như vậy, sự “không biết của Gioan” đã được giải quyết trong khi “sự không biết” của những lãnh đạo Do Thái thì vẫn kéo dài. Chính Đức Giê-su trong cuộc tranh luận với những người Pha-ri-sêu đã xác nhận: “các ông không biết tôi và cũng chẳng biết Cha tôi” (Ga 8,19).

7.     “Bê-ta-nia, bên kia sông Gio-đan”: Đây là một địa điểm khá lạ lùng và cũng gây cho các nhà chú giải nhiều tranh cãi. Bê-ta-nia được nói đến nhiều trong cả 4 sách Tin Mừng, như là nơi Đức Giê-su thường qua lại bởi nơi đó có nhà của những người bạn thân của Người (Mác-ta, Maria và Lazaro). Địa điểm này được tác giả Gioan xác định là cách xa Giê-ru-sa-lem dưới hai dặm (Ga 11,18), nghĩa là rất xa song Gio-đan, và chẳng dính dáng gì đến song Gio-đan. Vậy thì, Bê-ta-nia mà tác giả Gioan nói đến đây là Bê-ta-nia nào? Sao Gioan lại phải quan tâm đến địa danh này. D. Carson cho rằng có hang tá đề xuất về địa danh này, những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng dự đoán có nhiều sự đồng thuận nhất là Batanea (được gọi là Bashan trong sách Cựu Ước). Đó không phài là một thị trấn hay làng mạc nhưng là một vùng đông bắc của đất nước, vùng mà Đức Giê-su đã rút lui, lánh nạn vào giai đoạn cuối của sứ vụ Người khi các đối thủ cố gắng giết Người (Ga 10,39-40). Đây là vùng đất thuộc quyền cai quản của Phi-líp một vị tiểu vương dễ chịu hơn là tiểu vương Hê-rô-đê, kẻ trảm huyết Gioan Tẩy Giả. Nếu là Batanea thì tại sao tác già Gioan lại viết là Bethania (phiên âm trong Việt Ngữ là Bê-ta-ni-a)? Carson cho rằng ngày xưa, người ta dễ dàng chấp nhận những tên địa danh có những âm giống nhau được viết sai chính tả chút chút. Trong trường hợp này là thay vì “t” thì viết thành “th”, “e” thì viết thành “a”. Batania thành Bethania. Tác giả Gioan có lẽ tận dụng điểm này để nối kết và đóng khung trình thuật về sứ mạng của Chúa Giê-su. Ngài đến cùng Gioan để khởi đầu sứ vụ ở Bethania, được Gioan giới thiệu là Chiên Thiên Chúa (Ga 1,28-29) và Ngài cũng kết thúc sự vụ công khai bằng cách rút lui vào Bethania (Ga 10,39-40). Rồi, ngay chương sau (Ga 11) Đức Giê-su làm một dấu lạ cuối cùng và vĩ đại nhất. Đó là phục sinh La-da-rô, tại Bethania gần Giê-ru-sa-lem.[13] Kieger thì nghĩ rằng địa danh Bethania ở đây chỉ mang tính biểu tượng chứ không phải là đia danh thực. Theo ông, Bethania được rút ra từ “bet-aniyyah”, “nghĩa là nhà của trả lời/chứng nhân/hay chứng từ. Cách hiểu này làm cho địa danh phù hợp với nơi chốn nơi Gioan Tẩy Giả làm chứng cho Đức Giê-su.[14]



Bình Luận

Một lần nữa, đoạn trích về sứ Gioan Tẩy Giả được lấy lại từ chương đầu của một Tin Mừng. Lần này là từTin Mừng thứ tư (Tin Mừng Gioan). Lời mời gọi dồn dập “hãy tỉnh thức” của Chúa Nhật I Mùa Vọng được tiếp nối bằng lời mời gọi đọc lại ngay từ đầu “Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1) và bằng hành động cụ thể, đến để làm phép rửa của lòng hoán cải (Metanoia), nghĩa là thay đổi tận căn trí lòng của mình để hướng về Chúa một cách hoàn toàn. Chúa Nhật III Muà Vọng, tiến trình Mùa Vọng lại được tiếp tục bằng lời chứng của Gioan. Ông thừa nhận ông chính là vị sứ giả mà ngôn sứ Isaiah đã nói đến (Is 40,3). Thế nhưng, ông không thừa nhận thân phận Ê-li-a cũng như địa vị của vị ngôn sứ như-Mô-sê theo kiểu các lãnh đạo Do Thái mong đợi. Ông không phải là Ê-li-a được đưa đi bằng cổ xe bằng lửa. Ông cũng không phải là vị ngôn sứ làm chiến thắng Pha-ra-ô bằng những dấu lạ để đưa dân vượt qua biển đỏ an toàn. Ông dĩ nhiên không phải là Đấng Ki-tô. Ông chỉ là sứ giả, người được Chúa sai đi. Chúa sẽ sai Đức Giê-su và Thần Khí, nhưng ông phải là người được sai đến như là nhân vật dọn đường cho Đấng Messiah. Sứ vụ của ông trong Tin Mừng thứ tư rất rõ ràng: ông đến để làm chứng. Điều ông muốn làm chứng về, là “ánh sáng”. “Ánh sáng” gợi nhớ đến ngày đầu tiên Thiên Chúa tạo dựng, Ngài phán: “hãy có ánh sáng” và liền có ánh sáng (St 1,3). Ánh sáng của ngày sáng tạo đã soi sáng toàn thể địa cầu, và xua tan bóng tối. Việc tạo nên ánh đầu tiên trong cuộc sáng tạo bảy ngày, cho thấy rằng ánh sáng là thứ cần thiết nhất cho quả địa cầu này. Có lẽ chính vì thế mà điều mà Gioan được sai đến để làm chứng là làm chứng về “ánh sáng”. Cậu sinh viên Eistein, sau này là nhà vật lý học nổi tiếng, đã từng chứng minh cho một vị giáo sư triết học vô thần, rằng không có cái gì gọi là bóng tối. Chúng ta không thể làm cho bóng tối tối hơn được trong khi chúng ta có thể có ánh sáng, yếu, mạnh, vừa. Bóng tối chỉ là sự vắng bóng của ánh sáng. Nơi nào không có ánh sáng thì bóng tối mới xuất hiện.[15] Ánh sáng mà Gioan muốn làm chứng không phải là thứ ánh sáng vật lý, chỉ soi sáng cho thế giới về khía cạnh vật lý. Ánh sáng đó chính là Đức Giê-su. Ngài là một “ánh sáng” toàn diện và cho mọi người, mọi loài. Ánh sáng của Ngài có thể chiếu soi cho cả những ai không có thị lực, những người bị khiếm thị. Ngài có thể chiếu soi cho tất cả mọi người trong tất cả mọi lãnh vực. Nhất là, Ngài dẫn đưa con người ra khỏi bóng đêm của tội lỗi, của hận thù, của chiến tranh, của bệnh tật để đưa người ta đến một ánh sáng huy hoàng. Đó là ánh sáng của thiện tâm, lương thiện, tình yêu, sự tha thứ, sự hòa giải… Mục tiêu của lời chứng của Gioan về ánh sáng là để tất cả mọi người tin. Đó không chỉ là mục tiêu của lời chứng của Gioan ngày từ đầu Tin Mừng thứ tư, nhưng là mục tiêu của toàn bộ Tin Mừng thứ tư được nói đến trong chương cuối cùng, “để anh chị em tin Đức Giê-su là Đấng Messiah, Con Thiên Chúa và nhờ tin mà anh chị em có sự sống trong Người” (Ga 20,31). Chúa Nhật III Mùa Vọng mời gọi chúng ta khám phá lại nét đẹp, sự thu hút, và niềm hy vọng vào “ánh sáng” là chính Đức Giê-su. Hãy khởi động lại niềm tin vào “ánh sáng” của mình để rồi quyết tâm không sống trong bóng đêm tội lỗi, hận thù, chia rẽ, ích kỷ, hưởng thụ nữa, nhưng biết chừa bỏ tội lỗi, sửa chữa những thói hư tật xấu làm mất lòng nhau và xa rời Chúa; mở lòng ra với Chúa và với mọi người, hàn gắn lại những mối quan hệ tan vỡ, xây dựng thêm những mối tương quan tốt lành thánh thiện.

Joseph Phạm Duy Thạch SVD



[1] D.A. Carson, The Gospel According to John (Grand Rapids 1991) 120.

[2] R.A. Culpepper, “The Prologue as Theological Prolegomenon to the Gospel of John”, The Prologue of the Gospel of John. Its Literary, Theological, and Philosophical Contexts. Papers read at the Colloquium Ioanneum 2013 (eds. J.G. van der Watt – R.A. Culpepper – U. Schnelle) (Tubingen 2016) 15.

[3] R.E. Brown, The Gospel According to John (I-XII). Introduction, Translation, and Notes (London 2008) 9.

[4] J. Boice liệt kết tất cả bảy loại lời chứng trong Tin Mừng Gioan: (1) quan trọng nhất là chứng từ của chính Đức Giê-su (8,14); (2) chứng từ của Chúa Cha (8,18); (3) chứng từ của Chúa Thánh Thần (16,13-14); ngoài lời chứng của Ba Ngôi còn có (4) chứng từ của Sách Thánh; (5) chứng từ của những việc Chúa Giê-su đã làm; (5) chứng từ của Gioan Tẩy Giả; và chứng từ của những người dân bình thương như là người phụ nữ Samaria, đám đông dân chúng, mười một môn đệ… [J.M. Boice, The Gospel of John. An Expositional Commentary (Grand Rapids 2005) 55].

[5] D.A. Carson, The Gospel According to John, 121.

[6] B.M. Newman – E.A. Nida, A Handbook on the Gospel of John (New York 1993) 15.

[7] L. Morris, The Gospel According to John (NICNT; Grand Rapids 1995) 118.

[8] G.R. Beasley-Murray, John (WBC 36; Dallas 2002) 24.

[9] B.M. Newman – E.A. Nida, A Handbook on the Gospel of John, 31.

[10] R.E. Brown, The Gospel According to John (I-XII) 48.

[11] Danh xưng này trong tiếng Do Thái là Messhiah, nghĩa là Đấng được xức dầu, dùng như một danh hiệu thuộc hoàng gia. Đây là DấngTin Mừng thứ tư dùng 18 lần danh xưng Χριστός có mạo từ xác định (Đấng Messiah) và bốn lần đi kèm với tên gọi Giê-su (Giê-su Ki-tô). Đa số các lần đều dùng cho Đức Giê-su. Đây là Đấng mà truyền thống Cựu Ước nói đến như là Đấng hằng được mong đợi, sẽ mang đến một vương quốc bền vững mãi mãi. Truyền thống này được dệt lên bởi lời hứa với vua Đa-vít trong sách Samuel quyển thứ hai chương 7 và lời của ngôn sứ Isaiah với nhà Đa-vít là vua A-khát trong sách ngôn sứ Isaiah, cũng chương 7.  Sách Samuel quyển thứ hai kể rằng, khi vua Đa-vít đã yên vị trong cung điện bằng gỗ bá hương còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải. Đa-vít chạnh lòng và muốn xây cho Chúa một ngôi nhà đẹp. Ít ra thì ngôi nhà ấy cũng bằng gỗ bá hương như cung điện của ông. Tuy nhiên, Đức Chúa đã bảo Na-than nói với Đa-vít  rằng: «Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quốc của nó được vững bền…nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta ; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi » (2Sm 7,12-16). Và trong bối cảnh liên quân A-ram và vương quốc miền bắc (Ít-ra-el) đang tiến đánh Giu-đa. Vua A-khát và thần dân của vương quốc miền nam (Giu-đa), Isaiah được sai đến an ủi và khích lệ A-khát đến hai lần. Lần thứ nhất, Đức Chúa bảo Isaiah nói với A-khát là cứ bình tỉnh, chớ sờn lòng, chuyện ấy sẽ không xảy ra, “Nếu các ngươi không vững tin, thì các ngươi sẽ không đứng vững» (Is 7,9). Lần thứ hai, Đức Chúa bảo vua A-khát là hãy xin một dấu. Nhưng A-khát trả lời rằng : «Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa ». Isaiah bèn nói: « chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu : « này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Emmanuel» (Is 7,14).

[12] F.J. Moloney, The Gospel of John (SP 4; Collegeville 2005) 52.

[13] D.A. Carson, The Gospel According to John, 147.

[14] R.E. Brown, The Gospel According to John (I-XII) 45.

Saturday, 5 December 2020

KHỞI ĐẦU TIN VUI CỦA ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ CON THIÊN CHÚA

 CN II MV B (Is 40,1-5.9-11; 2Pr 3,8-14; Mc 1,1-8)

Bản văn tiếng Hy Lạp (ngôn ngữ gốc)

Bản dịch Việt Ngữ[1]

Ἀρχὴ τοῦ εὐαγγελίου Ἰησοῦ Χριστοῦ [υἱοῦ θεοῦ].

 2  Καθὼς γέγραπται ἐν τῷ Ἠσαΐᾳ τῷ προφήτῃ· ἰδοὺ ἀποστέλλω τὸν ἄγγελόν μου πρὸ προσώπου σου, ὃς κατασκευάσει τὴν ὁδόν σου·

 3  φωνὴ βοῶντος ἐν τῇ ἐρήμῳ· ἑτοιμάσατε τὴν ὁδὸν κυρίου, εὐθείας ποιεῖτε τὰς τρίβους αὐτοῦ,

 4  ἐγένετο Ἰωάννης [ὁ] βαπτίζων ἐν τῇ ἐρήμῳ καὶ κηρύσσων βάπτισμα μετανοίας εἰς ἄφεσιν ἁμαρτιῶν.

 5  καὶ ἐξεπορεύετο πρὸς αὐτὸν πᾶσα ἡ Ἰουδαία χώρα καὶ οἱ Ἱεροσολυμῖται πάντες, καὶ ἐβαπτίζοντο ὑπ᾽ αὐτοῦ ἐν τῷ Ἰορδάνῃ ποταμῷ ἐξομολογούμενοι τὰς ἁμαρτίας αὐτῶν.

 6  καὶ ἦν ὁ Ἰωάννης ἐνδεδυμένος τρίχας καμήλου καὶ ζώνην δερματίνην περὶ τὴν ὀσφὺν αὐτοῦ καὶ ἐσθίων ἀκρίδας καὶ μέλι ἄγριον.

 7  Καὶ ἐκήρυσσεν λέγων· ἔρχεται ὁ ἰσχυρότερός μου ὀπίσω μου, οὗ οὐκ εἰμὶ ἱκανὸς κύψας λῦσαι τὸν ἱμάντα τῶν ὑποδημάτων αὐτοῦ.

 8  ἐγὼ ἐβάπτισα ὑμᾶς ὕδατι, αὐτὸς δὲ βαπτίσει ὑμᾶς ἐν πνεύματι ἁγίῳ. (Mk. 1:1-8 BGT)

 

1Sự bắt đầu của Tin Vui của Chúa Ki-tô (Con Thiên Chúa).

2Theo như điều đã được viết trong Isaia, vị ngôn sứ. “Chú ý! Ta sai thiên sứ của ta trước mặt bạn, người sẽ chuẩn bị đường xá cho bạn.”

3 tiếng của người hô trong sa mạc “Hãy chuẩn bị đường xá cho Đức Chúa, làm thẳng con đường của Người”

4 Gioan, người làm phép dìm, đến trong hoang địa và rao giảng phép dìm của sự hoán cải để được xóa bỏ tội lỗi.

5 và tất cả vùng Giu-đê và Giê-ru-sa-lem và tất cả cư dân Giê-ru-sa-lem đến với ông và họ được ông dìm trong sông Gio-đan, thú nhận tội lỗi của họ.

6 và ông Gioan mặc lông lạc đà và dây thắt lưng da chung quanh eo của ông và ăn châu chấu và mật ong hoang dã.

7 và ông rao giảng rằng: “Đấng quyền thế hơn tôi sẽ đến sau tôi, tôi không xứng đáng cúi xuống để mở quai dép cho Người

8 tôi thanh tẩy các bạn bằng nước, nhưng Người thanh tẩy các bạn trong Thánh Thần.”

 


Bối cảnh phụng vụ : Đoạn Tin Mừng này được chọn làm chủ đề cho Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng năm B. Sau lời mời gọi dồn dập « hãy tỉnh thức » trong Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, năm B, được trích ra từ đoạn cuối cùng trong nhưng bài giảng về cánh chung của Chúa Giê-su (chương 13 của Tin Mừng theo thánh Mác-cô), Chúa Nhật II Mùa Vọng phụng vụ quay về ngay chương đầu của Tin Mừng Mac-cô. Bắt đầu Năm Phụng Vụ bằng một lời mời gọi của thời cánh chung ở cuối Tin Mừng, rồi quay trở lại bằng lời mời gọi ngay từ đầu Tin Mừng, Phụng Vụ Mùa Vọng như muốn nhắn gửi các tín hữu : « hãy tỉnh thức » bằng cách rà soát lại và thực hiện tất cả những giá trị Tin Mừng mà Chúa Giê-su đã rao giảng. Phụng vụ Chúa Nhật tuần này mời gọi các tín hữu «phải tỉnh thức bằng việc làm cụ thể » qua lời mời gọi của Gioan Tẩy Giả : « hãy chuẩn bị đường xá, .. hãy sửa lối đi cho ngay thẳng ». Những người dân khắp nẻo nghe theo lời mời gọi ấy bằng hành động cụ thể. Đó là họ đến xin được dìm trong nước, một nghi thức biểu lộ lòng sám hối để được ơn tha thứ.

Bối cảnh của đoạn Tin Mừng: Đoạn Tin Mừng 1,1-8 này được trích ra từ phần đầu tiên của Tin Mừng theo thánh Mac-cô. Nó như là phần dẫn nhập, cũng như lời mời gọi tổng quát cho toàn bộ Tin Mừng Mac-cô. Khác với hai Tin Mừng Nhất Lãm còn lại, Tin Mừng Mac-cô hoàn toàn không nói gì đến trình thuật về Giáng Sinh, hay là thời thơ ấu, cũng như gia phả của Chúa Giê-su. Cả Tin Mừng Matthew và Luca đều dành 3 chương đầu tiên để nói về trình thuật Giáng Sinh. Mác-cô bắt đầu Tin Mừng của mình bằng lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả. Và sứ vụ rao giảng của Gioan được nối kết với sách Cựu Ước qua lời ngôn sứ Isaiah, và một số đoạn sách Cựu Ước khác. Và sứ vụ của ông cũng nối kết với sứ vụ của Chúa Giê-su như một lời chuẩn bị. Mác-cô giới thiệu khá tổng quát nhưng không kém phần rõ ràng, trực diện về cuốn sách do ông soạn thảo: đây là Tin Vui của Giê-su Ki-tô. Đọc giả hiểu rõ là cái mà mình sẽ đọc trong này toàn là Tin Vui, mà tác giả, tác nhân, cũng như đối đượng của Tin Vui này chính là Đức Giê-su. Mà Đức Giê-su này không phải là một Giê-su bất kỳ nhưng là Đấng Ki-tô mà dân Do Thái đang mong đợi. Ai thích Tin Vui thì đây quả là một lời giới thiệu lý thú, đáng để lưu tâm. Ai mong đợi Đấng Ki-tô cũng sẽ bị thu hút bởi lời giới thiệu này, và tìm đọc cho bằng được Tin Vui này.



Một số điểm chú giải:

1.   Sự bắt đầu (ἀρχή, ῆς). Đây là danh từ chủ đạo trong danh ngữ giới thiệu về Tin Mừng của Mác-cô. Rõ ràng, «sự bắt đầu của Tin Vui của Giê-su Ki-tô » không phải là một câu hoàn chỉnh mà nó chỉ là một danh ngữ. Vì nó không phải là một câu và cũng không phải là mệnh đề trạng ngữ, danh từ “sự bắt đầu” lại không có mạo từ, nên nhiều chuyên gia đoán rằng đây chính là tiêu đề của sách Tin Mừng Mác-cô. Danh từ “arkhe” co nhiều ý nghĩa như là: tối cao, quyền lực, sự bắt đầu, nguồn gốc, nền tảng, những điều đầu tiên, những nguyên tắc căn bản. Trong ngữ cảnh này nghĩa phù hợp nhất có thể là nghĩa về thời gian : «sự bắt đầu ». Vị trí cũng như ý nghĩa của nó làm cho người ta không khỏi nghĩ đến “sự bắt đầu » trong St 1,1 và Ga 1,1. Tuy nhiên, nội dung sau đó thì hoàn toàn khác bởi nó không nói gì đến sáng tạo cũng như nguồn gốc từ muôn thuở của ngôi Lời.

2.   Tin vui, Tin Mừng (εὐαγγέλιον): Danh từ này trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là tin vui, tin tốt, tin mừng. Tin mừng Mac-cô là Tin Mừng dùng nhiều nhất danh từ này (8 lần : 1,1.14.15; 8,35; 10,29; 13,10 ; 14,9; 16,15) so với các Tin Mừng Nhất Lãm khác (Matthew : 4 lần, Lucca không dùng lần nào). Ghi nhận về tần số xuất hiện của danh từ này cho thấy nó có vẻ là khái niệm đặc trưng của Tin Mừng Mac-cô. Chỉ có Mac-cô dùng danh từ này cách tuyệt đối. Matthew thường dùng đi kèm với danh từ bổ trợ khác như là : « Tin Mừng của Vương Quốc » (4,23 ; 9,35 ; 24,14). Tuy nhiên, Mac-cô không phải là tác giả Tân Ước dùng nhiều nhất danh từ này. Danh từ này được dùng nhiều vô số kể trong các thư của thánh Phao-lô. Điều này chứng tỏ rằng đây là thông điệp quan trọng trong thần học của thánh Phao-lô. Tác giả Lagrange hiểu rằng « đó là sự công bố ơn cứu độ trong Chúa Giê-su… sự rao truyền về ơn cứu độ trong lời nói và hành động của Chúa Giê-su ».[2] Nghĩa là nó không chỉ đơn thuần là một Tin Vui thường ngày, nhưng là Tin Vui cả đời người, Tin Vui mang đến hạnh phúc trọn hảo không chỉ đời này mà cả đời sau nữa.

3.   Của Giê-su: Danh từ Tin Vui được gắn với danh xưng Giê-su. Danh xưng này trong Hy ngữ ở thuộc cách. Khi dùng ở thuộc cách thì danh từ Giê-su ở đây thường có thể hiểu theo 3 nghĩa : 1. Thuộc cách chủ ngữ. Nghĩa là, cụm từ đó có thể dịch là « Tin Vui của Giê-su » ý muốn nói rằng, Chúa Giê-su chính là chủ nhân, tác giả, người rao giảng Tin Mừng ấy. 2. Thuộc cách vị ngữ. Nghĩa là, cụm từ đó phải dịch là « Tin Vui về, liên quan đến, Chúa Giê-su », ý muốn nói là Chúa Giê-su chính là đối thể, là nội dung của Tin Vui được loan báo. Tin Vui đó là về Chúa Giê-su. 3. Cụm từ đó cũng có thể được hiểu rằng Tin Mừng này được các môn đệ loan báo trong Chúa Giê-su, qua mệnh lệnh của Ngài, với sự hiện diện và trợ giúp của Ngài.[3] Như thế, văn phạm của Hy ngữ giúp người ta hiểu rộng hơn nhiều chứ không giới hạn vào chỉ một nghĩa như bản dịch.

4.   Ki-tô (Χριστός): Danh xưng này trong tiếng Do Thái là Messhiah, nghĩa là Đấng được xức dầu, dùng như một danh hiệu thuộc hoàng gia. Chúa Giê-su được gọi là Messhiah nhiều lần khác, như trong Mc 8,29, 14,61 và 15, 32 và được ám chỉ như là Đấng Meshiah trong Mc 9,42, 12,35 và 13,21.[4] Lời giới thiệu này cho thấy Mác-cô và các tín hữu trong cộng đoàn Mác-cô hiểu rằng Đức Giê-su chính là Đấng Messhiah mà truyền thống Cựu Ước nói đến như là Đấng hằng được mong đợi, sẽ mang đến một vương quốc bền vững mãi mãi. Truyền thống này được dệt lên bởi lời hứa với vua Đa-vít trong sách Samuel quyển thứ hai chương 7 và lời của ngôn sứ Isaiah với nhà Đa-vít là vua A-khát trong sách ngôn sứ Isaiah, cũng chương 7.  Sách Samuel quyển thứ hai kể rằng, khi vua Đa-vít đã yên vị trong cung điện bằng gỗ bá hương còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải. Đa-vít chạnh lòng và muốn xây cho Chúa một ngôi nhà đẹp. Ít ra thì ngôi nhà ấy cũng bằng gỗ bá hương như cung điện của ông. Tuy nhiên, Đức Chúa đã bảo Na-than nói với Đa-vít  rằng: «Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quốc của nó được vững bền…nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta ; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi » (2Sm 7,12-16). Và trong bối cảnh liên quân A-ram và vương quốc miền bắc (Ít-ra-el) đang tiến đánh Giu-đa. Vua A-khát và thần dân của vương quốc miền nam (Giu-đa), Isaiah được sai đến an ủi và khích lệ A-khát đến hai lần. Lần thứ nhất, Đức Chúa bảo Isaiah nói với A-khát là cứ bình tỉnh, chớ sờn lòng, chuyện ấy sẽ không xảy ra, “Nếu các ngươi không vững tin, thì các ngươi sẽ không đứng vững» (Is 7,9). Lần thứ hai, Đức Chúa bảo vua A-khát là hãy xin một dấu. Nhưng A-khát trả lời rằng : «Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa ». Isaiah bèn nói : « chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu : « này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Emmanuel» (Is 7,14). Mác-cô nhắc đến tên gọi Ki-tô như muốn làm rõ ngay từ đầu rằng, căn bản đức Tin của cộng đoàn của ông về Đức Giê-su. Ngài chính là Đấng Ki-tô, muôn dân hằng mong đợi.

5.   Con Thiên Chúa: Trong bản Hy ngữ của Nesltle Aland. Danh xưng này được đặt trong ngoặc vuông vì rằng danh xưng này không có trong một số bản chép tay quan trọng như là Codex Sinaticus (thế kỷ thứ 4) nhưng lại có mặt trong một số bản chép tay quan trọng khác như là Alexandria (Thế kỷ thứ 5), Sinaiticus sửa chữa, Codex Vaticanus (thế kỷ thứ 4). Các chuyên gia không biết chắc rằng trong bản gốc của Tin Mừng Mác-cô có hay không danh hiệu này tồn tại trong câu giới thiệu này. Thế nhưng, xem ra danh xưng này rất phù hợp với câu tuyên xưng của viên đại đội trưởng ở đoạn cuối của chặng đường thập tự. Khi Đức Giê-su chịu chết trên thập giá thì chỉ có Mac-cộ ghi lại khoảnh khắc, có một người đại đội trưởng tuyên xưng rằng: “quả thực, ông này là Con Thiên Chúa” (Mc 16,16). Ngoài ra, Mác-cô còn ghi lại mỗi lần các thần ô uế thấy Đức Giê-su đều bái lạy và la lên: “Ông là Con Thiên Chúa” (Mc 3,11). Như thế, xem ra hợp lý nếu cho rằng danh xưng “Con Thiên Chúa” cũng được đính kèm trong câu giới thiệu này. Đức Giê-su không những là Đấng Meshiah mà còn là “Con Thiên Chúa”. Đây là danh xưng mang tính ki-tô học rất cao. Căn tính của Đức Giê-su được truy nguồn về bản tính thần linh của Ngài.

6.   Tiếng của người hô trong sa mạc: Tiếp theo là đoạn trích được Mác-cô cho là lời của ngôn sứ Isaiah. Tuy nhiên đoạn trích này được Mac-cô trích lược hổn hợp nhiều đoạn trong sách thánh Cựu Ước trong đó có sách ngôn sứ Isaiah. Đoạn thứ nhất phải kể đến là Xh 23,20: “chú ý! Tôi sẽ gửi thiên sứ của tôi trước ngươi nhằm bảo vệ ngươi dọc đường và mang ngươi đến nơi ta tôi đã chuẩn bị”. Đoạn thứ hai: “Ta sẽ sai thiên sứ của ta, người sẽ dọn đường trước mặt tôi” (Ml 3,1). Đoạn này được Mac-cô chuyển thành là « đường của bạn » thay vì «đường trước mặt tôi », nhằm cụ thể hóa con đường được dọn là đường của Chúa Giê-su. Và đoạn thứ 3: “một tiếng gọi của người gọi trong sa mạc: ‘trong hoang địa, hãy dọn đường cho Chúa, làm thẳng trong sa mạc, đại lộ của Đức Chúa.” (Is 40,3). Đây rất có thể cũng là một móc nối khác của Mác-cô đối với Sách Thánh Cựu Ước. Sách ngôn sứ Isaiah rất quan trọng và phổ biến cho người Do Thái, cho cộng đoàn Qumran và văn chương Ki-tô giáo thời kỳ sơ khai. Ngoài Thánh Vịnh, sách Isaiah là bản chép tay được tìm thấy nhiều nhất trong các hang núi đá vôi ở sa mạc Judea. Hình ảnh Gioan Tẩy Giả, sứ giả, kẻ dọn đường cho Chúa cũng được sách Cựu Ước nói trước.

7.   Phép dìm của lòng sám hối (βάπτισμα μετανοίας). Danh từ baptisma xuất phát từ động từ là baptizo, có nghĩa là dìm xuống nước. Động từ này cũng được dùng để diễn tả sự thanh tẩy, tẩy rửa có tính nghi thức trong Do Thái giáo. Ở trên địa điểm khảo cổ, thường được gọi là Qumran, rất gần sông Gio-đan, các nhà khảo cổ khám phá ra một hồ để thực hành nghi thức thanh tẩy và những người sống trong cộng đoàn này thực hiện nghi thức này mỗi ngày. Đây là một bằng chứng khá rõ ràng cho việc thực hành các nghi thức thanh tẩy của người Do Thái thời Gioan Tẩy Giả. Theo Torah (5 cuốn đầu tiên của Sách Thánh Cựu Ước: Sáng thế, Xuất Hành, Dân số, Lê-vi, và Đệ Nhị Luật) thì sự tiếp tục hiện diện của Chúa giữa dân Người tùy thuộc vào sự duy trì mức độ thanh sạch của dân, tương ứng với sự thánh thiện của Ngài. Sách Lê-vi với biết bao nhiêu quy luật liên quan đến thanh tẩy vì thế mà được soạn thảo. Khái niệm về sự không thanh sạch trong Thánh Kinh Do Thài có thể được chia làm hai loại: luân lý và nghi thức. Sự ô uế về mặt luân lý là một điều kiện lâu dài, nếu không muốn nói là vĩnh viễn, là hậu quả của những hành vi tội lỗi như là những hành vi tính dục bất hợp pháp (Lv 18 ; 20,10-26), giết người (Ds 35,33.34) và thờ ngẫu tượng (Lv 19,4 ;20,1-5). Sự ô uế về mặt nghi thức, là một hậu quả tạm thời của những điều kiện không thể tránh khỏi hay vô tội, như là kinh nguyệt (Lv 15,19-24), hành vi tính dục hợp pháp (Lv 15,16-18) và chôn xác kẻ chết (Ds 19).[5]  Sự thanh tẩy mà Gioan rao giảng được giải thích bằng một danh từ khác dùng ở thuộc cách (μετανοίας: của sự hoán cải), dường như nghiêng nhiều hơn về sự không thanh sạch về luân lý. Hơn nữa, mục đích « của phép rửa hoán cải » này được diễn tả một cách rõ ràng bằng một cụm giới từ: « để được ơn tha tội ». Danh từ « của sự hoán cải » có thể được hiểu theo ba cách. Thứ nhất, người chịu phép rửa ấy là người chứng tỏ mình có lòng hối cải. Họ đã có ý thức hối cải trước đó và phép rửa như là một biểu hiện cụ thể. Thứ hai, phép rửa ấy mang đến cho họ một quá trình hối cải cho đến khi họ nhận ơn tha thứ. Thứ ba, những người đến đón nhận phép rửa ấy đã có lòng ao ước hoán cải, phép rửa như là một biểu hiện cụ thể và sau phép rửa họ lại tiếp tục thay đổi, hoán cải không ngừng. Hoán cải (metanoia) không chỉ là một đòi hỏi dành cho những người tội lỗi, người không thanh sạch về luân lý, nhưng hơn hết là dành cho hết tất cả mọi người, nhằm biến đổi đời mình, xoay chuyển đời mình theo thánh ý Chúa. Đây chính là danh từ phát xuất từ động từ mà Đức Giê-su đã dùng trong lời rao giảng đầu tiên của mình : « thời kỳ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần bên, anh chị em hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng”. (Mc 1,11). Hoán cải ở đây rõ ràng là không chỉ giới hạn vào sự hối lỗi và chừa lỗi nhưng là biến đổi lòng mình, trí mình, hành vi của mình theo cách suy cách nghĩ và cách hành động của Chúa. A. Collins – H. Attridge ghi nhận những sự tương đồng giữa phép thanh tẩy của Gioan và phép dìm mang tính nghi thức tại cộng đoàn Qumran. Cả hai đều bao hàm sự rút lui vào sa mạc để đợi chờ Đức Chúa với sự đề cập đến Is 40,3. Cả hai cùng liên kết với lối sống khổ hạnh. Cả hai cùng bao hàm việc dìm cả cơ thể vào nước và cả hai cũng được thực hiện trong bối cảnh đợi chờ một cuộc viếng thăm thần linh cuối cùng. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa những nghi thức dìm tại Qumran và phép dìm của Gioan cũng rất lớn. Cộng đoàn tại Qumran thì tách biệt, mang tính tư tế, trong khi Gioan hành động như là một ngôn sứ quyền năng trong bối cảnh công cộng. Thành viên của cộng đoàn Qumran tự dìm mình mỗi ngày một lần trong khi đó phép dìm của Gioan chỉ cử hành một lần cho mỗi người.[6] Một số ghi nhận cùng thời để cho thấy nguồn gốc, phong tục, cũng như thực hành của phép thanh tẩy của Do Thái cũng như Ki-tô giáo thời sơ khai.

8.   Sông Gio-đan: Sông Gio-đan là con sông nối liền từ miền Bắc qua Hồ Ga-li-lê rồi đến miền Nam di vào Biển Chết. Gioan chọn sông Gio-đan làm phép dìm có thể hiểu được vì ở đó có nhiều nước và không gian cho nhiều người. Tuy nhiên, sông Gio-đan cũng gợi nhớ đến biến cố lịch sử quan trọng của dân Ít-ra-el: Giô-suê đã thay Mô-sê dẫn dân băng qua sông Gio-đan để vào đất hứa. Sau này Đức Giê-su sẽ chịu phép rửa tại con sông này. Và tên gọi Giê-su cũng chính là Gio-suê trong tiếng Do thái. Nói khác đi, Đức Giê-su sẽ dẫn dân mới vượt qua sông Gio-đan để đi vào đất hứa mới. Hơn nữa, hình ảnh « trong hoang mạc » cũng gợi nhớ đến biến cố xuất hành, biến cố mà Chúa đã đồng hành với dân Người, dẫn dắt, chỉ dạy, ban Lề Luật cho họ. « Hoang mạc » diễn tả niềm hy vọng cánh chung của một mẫu thức xuất hành được tìm thấy trong sách Hô-sê (2,14 ; 12,9) và đặc biệt trong sách ngôn sứ Isaiah (40,3-4 ; 41,18-19 ; 43,19-20 ; 48,20-21 ; 51,9-11).[7]

9.   Mặc lông lạc đà và thắt lưng da: Cách ăn mặc của Gioan gợi nhớ đến cách ăn mặc của ngôn sứ Ê-li-a được nói đến trong Sách Các Vua quyển thứ hai. Dấu hiệu để vua A-kháp nhận ra ngôn sứ Ê-li-a, chính là cách ăn mặc của Ê-li-a. « Đó là một người mặc áo lông, đóng khố da. » (2 V 1,8). Ê-li-a là ngôn sứ Cựu Ước được truyền thống Do Thái tin rằng sẽ đến trước và dọn đường cho Đấng Meshiah. Ông cũng là vị ngôn sứ xuất hiện cùng với Mô-sê để đàm đạo với Đức Giê-su trong cuộc biến hình trên núi Tabo (Mc 9,4). Gioan Tẩy Giả được Đức Giê-su đồng hóa với ngôn sứ Ê-li-a khi các môn đệ hỏi Đức Giê-su về việc theo các thầy dạy về Luật thì Ê-li-a phải đến trước (Mc 9,12-13; Mt 11,14). Một lần nữa, chúng ta thấy tác giả Sách Tin Mừng cố gắng móc nối giữa dữ liệu Sách Thánh Do Thái và sách Tin Mừng. Hay nói đúng hơn, Mác-cô cố gắng chứng minh rằng những gì liên quan đến Đức Giê-su đã được nói đến trong sách Thánh Do Thái. Lần này là ngôn sứ lẫy lừng Ê-li-a, trở thành người dọn đường cho Chúa. Tất cả dường như rất ăn khớp một cách có chủ ý trong cách diễn tả của Mac-cô về Tin Vui của Đấng Meshiah.

10.  Tất cả quận Giu-đê và tất cả dân cư Giê-ru-sa-lem đều khởi hành đến với ông”: Thực tế của dự liệu này cho thấy Gioan được những người Do Thái chấp nhận như một ngôn sứ, như là một tác nhân thuộc thời cánh chung của Chúa. Tầm ảnh hưởng của Gioan là rất lớn. Tất cả dân cư của Giu-đê và Giê-ru-sa-lem đến với Gioan để được thanh tẩy. Điều đó chứng tỏ là phép rửa của Gioan có gì khác so với những nghi thức thanh tẩy theo luật Do Thái. Hành động của dân chúng trong Mc 1,5 chính là câu đáp trả cho lời giới thiệu về Gioan trong Mc 1,4 ngay trước đó. Gioan rao giảng phép dìm, ứng với việc tất cả miền Giu-đê và dân cư Giê-ru-sa-lem đến để được ông dìm. Mục đích của phép dìm là để được ơn tha thứ tội lỗi ứng với việc dân chúng xưng thú tội lỗi của mình. Lối diễn tả này có thể nói đến một sự xưng thú cá nhân hoặc là tập thể. Việc xưng thú có thể là công khai, trước sự chứng kiến của mọi người hoặc là một cách riêng tư chỉ có Gioan nghe thấy. Họ có thể xưng thú tội lỗi chung chung hoặc là xưng một cách chi tiết cụ thể từng tội.[8]

11.  Thanh tẩy bằng nước và thanh tẩy bằng Thánh Thần: Từ các câu 2 đến 4 Mác-cô giới thiệu cho các độc giả về Gioan và sứ vụ cũng như tầm ảnh hưởng của ông. Ông được nói đến trong sách ngôn sứ Isaiah. Đó không hẳn là lời ngôn sứ Isaiah nhưng là gom góp từ Sách Xuất Hành, Sách ngôn sứ Malakhi và Sách ngôn sứ Isaiah như đã nói trên. Ông rao giảng phép dìm của lòng hoán cải để được ơn tha thứ. Ông ăn mặc như ngôn sứ Isaiah. Ông làm phép rửa trong hoang địa. Câu 7 và câu 8, Mác-cô giới thiệu lời rao giảng của Gioan. Lời rao giảng của Gioan được cấu trúc theo kiểu so sánh hai hình ảnh song song nhưng khác biệt nhau trong vị thế và phép rửa. Gioan rao giảng rằng:« có Đấng quyền thế hơn tôi đến sau tôi, tôi không xứng đáng cúi xuống để mở quai dép cho Người ». Lời giới thiệu này không nhằm tôn vinh sự khiêm tốn của Gioan cho bằng bộc lộ vị trí thật của Gioan cũng như địa vị thật của Đức Giê-su. Gioan, tuy được dân chúng sùng bái và ùn ùn kéo đến để chịu phép dìm bởi tay ông, ông cũng biết rằng mình chỉ là sứ giả. Ông ý thức rõ vai trò và vị thế của mình. Việc của ông là làm cho mọi người nhận ra Đức Giê-su. Hình ảnh Gioan đối lại với Đấng quyền thế hơn. Phép dìm bằng nước của ông đối lại với phép dìm trong Thánh Thần. Ông là trung gian để dẫn đến một Đấng khác; phép rửa của ông cũng để dẫn đến một phép rửa khác. Nước sông Gio-đan đối lại với Thánh Thần. Việc ban Thánh Thần diễn tả một cách ẩn dụ như là một phép rửa biểu hiện hành vi cứu độ mang tính cánh chung của Chúa được hứa trước qua các ngôn sứ. Isaiah nói đến việc « Thánh Thần sẽ được tuôn đổ trên chúng ta và hoang mạc sẽ trở nên màu mở » (Is 32,15). Chúa nói rằng : « Ta sẽ đặt Thần Khí của ta trong các ngươi và các ngươi sẽ sống » (Ed 37,14). Phép dìm bằng nước của Gioan vừa là dấu chỉ của lòng sám hối, thể hiện bằng việc dân chúng xưng thú tội lỗi. Phép rửa trong Thánh Thần của Đấng quyền thế hơn sẽ mang đến cho hối nhân được ơn tha thứ. Như đã nói trên. Thánh Thần sẽ đem đến cho người ta ơn tha thứ và một sự biến đổi hoàn toàn, một sức sống mới. Sức sống mới đó bao hàm cả việc chừa bỏ tội lỗi và sống cho Chúa và sống cho người khác. Chừa bỏ tội lỗi, và đền bù những thiệt hại do tội lỗi gây ra chỉ là một phần cơ bản. Phần chính yếu phải là « một quả tim mới và một thần khí mới » biến « quả tim bằng đá thành quả tim bằng thịt » (Ed 36,26-27). Tác động của phép rửa trong Thánh Thần hơn thế nữa còn bao hàm cả sức sống và sứ mạng của Chúa Ki-tô như chính Ngài thừa nhận: « Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu cho tôi để loan Tin Vui cho người nghèo. Ngài sai tôi công bố tự do cho người bị giam cầm, phục hồi ánh sáng cho người mù, trả tự do cho người bị áp bức » (Lc 4,18). Để chuẩn bị cho việc làm phép rửa trong Thánh Thần, chính Đức Giê-su sau khi chịu phép rửa và vừa lên khỏi nước thì Người thấy “trời mở ra và Thần Khí tựa như chim bồ câu ngự xuống trên Người » (Mc 1,10). Đấng là phép rửa trong Thánh Thần chắc chắn phải là Đấng đầy Thánh Thần.



Bình Luận:

Gioan là nhân vật không bao giờ thiếu được trong phụng vụ của Mùa Vọng. Tiếng kêu mời của ông làm cho người ta không khỏi bồn chồn và háo hức. Thực ra, Gioan không chỉ là nhân vật của Mùa Vọng mà thôi. Ông là nhân vật của cả đời người bởi lẽ Ông được đặt lên để hô vang lời kêu gọi cho toàn bộ mọi người, hãy lắng tai đón nhận Tin Mừng mỗi ngày trong đời mình, chứ không chỉ Mùa Vọng. Bởi lẽ, những điều Tin Mừng viết về ông vẫn có đó từ 2000 năm rồi. Điệp khúc: « hãy tỉnh hết sức chú ý, hãy thức tỉnh, hãy canh thức » (cuối Tin Mừng Mac-cô) của Phụng vụ Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng được tiếp nối bằng lời mời gọi quay trở lại từ đầu Tin Mừng theo thánh Mác-cô. Đó có thể là một lời nhắc nhở, mách nước cho cách thức mà người ta phải tỉnh thức. Hãy tỉnh thức nhưng tỉnh thức thế nào đây ? Ừ thì tỉnh thức bằng cách tìm lại chính những giá trị Tin Mừng, Tin Vui. Những giá trị Tin Vui đó bắt đầu từ đâu ? Thưa ! bắt đầu từ « khởi đầu Tin Vui ». Tin Vui của ai vậy? Thưa ! Tin vui đó của Đức Giê-su. Ủa mà Đức Giê-su là ai vậy? Thưa! Ngài chính là Đấng Ki-tô, Đấng Messiah, mà sách Thánh đã nói đến. Đấng sẽ đến và sẽ thiết lập một vương quốc hòa bình, thịnh vượng và vững bền mãi mãi. Thế ngài đến từ đâu vậy? Ngài xuất thân từ nhà Đa-vít. Nhà Đa-vít suy tàn cả ngàn năm rồi, còn làm được gì nữa. Ah không! Đấng Ki-tô này không chỉ có nguồn gốc từ phàm nhân, nguồn gốc của Ngài xa tận chân trời. Ngài là con Thiên Chúa. Ngài đến rồi, thì chẳng phải thời của Ngài là thời cánh chung, thời viên mãn, thời cứu độ đó sao? Chính thế. Một ngôn sứ thời cánh chung đã trở lại để dọn đường cho Ngài. Ai vậy? Gioan Tẩy Giả chứ ai. Ông ta chính là hiện thân của ngôn sứ Ê-li-a, vị ngôn sứ trường sinh, lừng danh được cất về trời trong cơn gió lốc (2 V 2,11-12). Đức Chúa đã thông báo rằng Ngài sẽ sai ngôn sứ Ê-li-a đến trước “ngày trọng đại và kinh khủng của Đức Chúa” (Ml 4,5). Gioan đã đến, Giê-su cũng đã đến. Mọi sự diễn ra đúng như mạc khải của Thánh Kinh. Vấn đề là, lòng tín hữu đang ở đâu, đang hướng về đâu? Họ có thật sự mong nhớ, đợi trông Đấng Ki-tô mà họ tin tưởng và mang danh hay không! Nếu có thì, “tất cả” thành viên của gia đình, giáo khu, nhà dòng, giáo xứ, giáo phận, thành phố…, hãy đến với Gioan để nhận “phép rửa của lòng sám hối”, để được ơn tha tội. Dĩ nhiên, nhiều tín hữu đã được nhận phép rửa, không phải phép rửa bằng nước sông Gio-đan của Gioan nhưng là phép rửa trong Thánh Thần của chính Đức Giê-su. Thế còn, “sự hoán cải”, sự thay đổi trí lòng, một cách triệt để theo thánh ý Chúa thì sao? Thay đổi một trái tim bằng đá bằng một trái tim bằng thịt thì sao? Thay đổi một trái tim thù hận và dửng dưng bằng một trái tim tha thứ và biết yêu thương, biết rung cảm trước nỗi đau của đồng loại thì thế nào? Đường của Đấng Ki-tô, đường thập tự có phải là đường tôi chọn, hay là tôi muốn Chúa Ki-tô phải đi theo con đường nhung lụa của riêng tôi? Dĩ nhiên, Thập Giá không phải là giá trị Tin Vui duy nhất mà những người mong đợi Đấng Cứu Thế phải theo đuổi trên hành trình hoán cải của mình. Những giá trị Tin Vui ấy nhiều vô số kể. Thánh Kinh chính là kho tàng chứa đựng những giá trị ấy. Mỗi tín hữu phải lưu tâm để theo đuổi mỗi ngày chứ không chỉ một lần nào đó, một mùa nào đó, rồi thôi. Lời Chúa phải là nhịp đập của con tim, là hơi thở của từng là phổi. Đức Giê-su, Chúa Giê-su Hài Đồng không chỉ là Đấng Messiah của Mùa Vọng nhưng là Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Do vậy, sự tiếp xúc, làm bạn với Ngài, hỏi Ngài xem mỗi ngày tôi phải làm gì là những hành động thường xuyên, là lương thực, cơm ăn, nước uống, của những kẻ yêu Ngài và mong chờ Ngài.

Joseph Phạm Duy Thạch SVD

 

 

 

 



[1] Bản Việt Ngữ được dịch sát nghĩa hết sức có thể.  Đôi khi câu từ rất khó hiểu và không giống Tiếng Việt thông thường. Như vậy, để đọc giả hiểu rằng việc dịch Tin Mừng từ tiếng Hy Lạp qua một ngôn ngữ hiện đại dù là tiếng Việt hay bất cứ tiếng gì khác cũng rất khó để diển tả một cách rõ ràng ý nghĩa của nó. Đôi khi dịch giả phải chọn một ý nghĩa và giải thích nào đó cho phù hợp với cấu trúc và văn phạm của ngôn ngữ của mình.

[2] R.G. Bratcher – E.A. Nida, A Handbook on the Gospel of Mark (UBS Handbook Series; New York 1993) 2.

[3] M. Zerwick, Biblical Greek. Illustrated by examples (SPIB 114; Roma 72001) 13.

[4] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2002) 60.

[5]I. Werrett, “The Evolution of Purity at Qumran”, Purity and the Forming of Religious Traditions in the Ancient Mediterranean World and Ancient Judaism (ed. C. Frevel – C. Nihan) (Leiden – Boston 2013) 494.

[6] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 140.

[7] R.A. Guelich, Mark 1-8:26 (WBC 34A; Dallas 2002) 18.

[8] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark, 142.