Saturday, 14 November 2020

ĐƯỢC MỜI VÀO TRONG HAY BỊ QUĂNG RA NGOÀI, VUI MỪNG HAY KHÓC LÓC NGHIẾN RĂNG

CN XXXIII TNA

(Cn 31, 10-13, 19-20. 30-31; Tx 5, 1-6; Mt 25, 14-30)

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.



Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: "Có một người kia sắp đi xa, liền gọi các đầy tớ đến mà giao phó tài sản của ông. Ông trao cho người này năm nén bạc, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tuỳ theo khả năng của mỗi người, đoạn ông ra đi.

"Người lãnh năm nén bạc, ra đi và dùng tiền ấy buôn bán làm lợi được năm nén khác. Người lãnh hai nén cũng đi làm lợi được hai nén khác. Còn người lãnh một nén, thì đi đào lỗ chôn giấu tiền của chủ mình.

"Sau một thời gian lâu dài, ông chủ các đầy tớ ấy trở về và đòi họ tính sổ. Vậy người lãnh năm nén bạc đến, mang theo năm nén khác mà nói rằng: "Thưa ông, ông trao cho tôi năm nén bạc, đây tôi làm lợi được năm nén khác". Ông chủ bảo người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi". Người đã lãnh hai nén bạc cũng đến và nói: "Thưa ông, ông đã trao cho tôi hai nén bạc; đây tôi đã làm lợi được hai nén khác". Ông chủ bảo người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi".

"Còn người lãnh một nén bạc đến và nói: "Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt nơi không gieo và thu nơi ông không phát: nên tôi khiếp sợ (mà) đi chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Ðây của ông, xin trả lại cho ông". Ông chủ trả lời người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ hư thân và biếng nhác, người đã biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát: vậy lẽ ra người phải giao bạc của ta cho người đổi tiền, và khi ta trở về, ta sẽ thu cả vốn lẫn lời. Bởi thế, các ngươi hãy lấy nén bạc lại mà trao cho người có mười nén. Vì người có sẽ cho thêm và sẽ được dư dật, còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng, các ngươi hãy ném nó ra ngoài vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng".

Bối cảnh

Đoạn Tin Mừng hôm nay nằm trong bối cảnh của Chúa Nhật áp cuối của năm Phụng Vụ A. Tuần sau là Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ A, Lễ Chúa Giê-su Ki-tô, vua vũ hoàn. Trong bối cảnh ấy chủ đề phụng vụ dĩ nhiên là liên quan đến khoảnh khắc cuối cùng của mỗi con người. Hơn ai hết, mỗi ki-tô hữu ý thức rõ rằng mình là môn đệ của Chúa Giê-su và mình là con Chúa và sẽ trở về với Chúa một khi chết đi. Chính Chúa Giê-su đã nhiều lần thông báo rằng Ngài sẽ trở lại (Mt 16,27; 25,31; Mc 8,31; Lc 9,26). Mỗi Chúa Nhật, các tín hữu cũng tuyên xưng trong Kinh Tin Kính rằng: “Ngài sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Tuyên xưng không ngừng như thế, nhưng lời tuyên xưng ấy đôi khi trở thành thói quen hơn là một niềm xác tín. Cho nên, tuyên xưng như thế nhưng các tín hữu đôi khi lại thiếu sức sống, thiếu những hành động cụ thể hay những chuẩn bị cần thiết cho xác tín ấy. Đôi khi gánh nặng cuộc sống thể lý, cơm áo gạo tiền, làm cho họ quên đi việc hiện thực hóa cách sống động niềm tin này. Chính vì thế, phụng vụ giáo hội trong những tuần cuối năm và đầu năm, khởi đầu bằng Chúa Nhật Mùa Vọng, luôn nhắc nhở con cái đức tin, con cái ánh sáng về niềm xác tín về ngày trở lại của Chúa Giê-su trong vinh quang.

Trong bối cảnh của Tin Mừng Matthew, Mt 25,14-30 tiếp theo dụ ngôn “mười cô tring nữ đi đón chàng rể” (Mt 25,1-13), và dụ ngôn “người tôi tớ” (24, 45-51), là loạt 3 dụ ngôn nói về thời cánh chung, thời sau cùng của thế giới, khi Đức Giê-su trở lại lần thứ hai, và cũng là lần cuối. Chủ đề của đoạn dụ ngôn dĩ nhiên cũng như chủ đề Phụng Vụ, cũng nói về những vấn đề của thời sau hết của nhân loại. Trong các tác giả Sách Tin Mừng, chỉ có Luca chia sẻ dụ ngôn này giống như Matthew, với nhiều chi tiết khác biệt sẽ nói sau.

Một số điểm khác nhau chính yếu giữa bản văn Luca và Matthew

Có khác nhiều điểm khác biệt giữa hai bản văn của cả hai tác giả tường thuật cùng một dụ ngôn. Thứ nhất, Matthew bắt đầu bằng liên từ “γὰρ” cho thấy sự liên tục của dụ ngôn này với dụ ngôn “mười cô trinh nữ đi đón chàng rể” ngay phía trước, với câu kết là: “vì vậy, hãy coi chừng vì các ngươi không biết ngày và giờ” (Mt 25,13). Câu kết này được Matthew viết tiếp: “quả thế (γὰρ), cũng như có người kia sắp đi xa liền gọi các đầy tớ của mình lại…”. Câu khởi đầu của này của Matthew cho thấy sự nối kết rất gần gũi giữa dụ ngôn này với dụ ngôn “mười trinh nữ đi đón chàng rể” (Mt 25,1-13). Nó hoặc là minh họa cho dụ ngôn, làm rõ thêm dụ ngôn trước đó hoặc củng cố cho dụ ngôn trước đó. Bản dịch Anh Ngữ ESV còn dịch liên từ (γὰρ) như là một liên từ chỉ sự kết quả (for): “vì thế” trong khi bản dịch Pháp Ngữ (TOB), bản dịch Ý ngữ (CEI) và bản dịch Việt ngữ (CGKPV) đều dịch là “quả thế” (infatti, En effet). Dụ ngôn này được Luca đặt ngay sau tường thuật về việc Chúa Giê-su viếng thăm nhà ông Gia-kêu. Và lý do mà Luca đưa ra, bối cảnh cụ thể mà Chúa Giê-su kể dụ ngôn này là vì Chúa Giê-su lúc đó đang tiến gần đến Giê-ru-sa-lem và nhiều người nghĩ rằng Vương quốc Thiên Chúa sẽ đến ngay lập tức, nên “Chúa Giê-su mới kể cho họ nghe dụ ngôn này” (Lc 19,11). Cũng nên nhắc lại rằng Tin Mừng Luca, tường thuật về chặng đường đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem dài nhất trong tất cả các tin Mừng. Thánh Luca dành đến mười chương để tường thuật hành trình này (9,51 – 19, 44). Dụ ngôn mười nén bạc của Luca được đặt ở giao điểm giữa đoạn cuối của cuộc hành trình này và tường thuật về sự kiến Chúa Giê-su tiến vào Giê-ru-sa-lem. Matthew đặt dụ ngôn này vào trong loạt những bài giảng về thời cánh chung sau khi Ngài đã vào Giê-ru-sa-lem vinh quang.

Thứ hai, thánh Matthew chỉ nói là “một người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ mình lại chia….” Không cụ thể là ai và đi đâu để làm gì. Trong khi đó Luca xác định khá rõ địa vị của người này. Ông ta là một người đàn ông quý tộc (εὐγενὴς). Và lý do cũng rất cụ thể là ông này đi xa để lãnh nhận vương quyền và sẽ trở về.

Thứ ba, số người mà ông ta gọi đến để trao nén bạc là mười đầy tớ và số tiền mà ông đưa cho họ chung chung là mười người lãnh nhận mười mna.[1] Nhưng sau đó, Luca lại chỉ đề cập đến ba người báo cáo về số tiền mà chủ giao mà thôi. Bảy người còn lại không biết đi đâu. Matthew xem ra chặt chẽ hơn khi nói rằng ông chủ trao cho ba người đầy tớ mỗi người một số lượng khác nhau. Người thì năm talanton[2] người thì ba talanton và người khác nữa thì một talenton. Matthew còn nói rõ là mỗi người tùy theo khả năng của họ, chứ không phải ai cũng như ai.

Thứ tư, theo Luca thì ông này ra lệnh cho mười đầy tớ của mình là “hãy lấy số tiền này đầu tư cho đến khi tôi trở về”. Matthew không ghi lại mệnh lệnh này. Thay vào đó, ông cho thấy hành động cụ thể của ba người đầy tớ. Trong đó, người thứ nhất đã lấy năm talanton đi làm ăn kinh doanh ngay lập tức và đã sinh lời được năm talenton khác. Người đã lãnh hai talanton cũng sinh lời được hai talanton khác. Còn người thứ ba, người nhận một talanton thì đem đi đào lỗ và chôn dấu.

Thứ năm, phần thưởng mà ông chủ dành cho các đầy tớ biết sinh lời cũng khác nhau giữa hai phiên bản của Luca và Matthew. Trong khi, các đầy tớ của Luca được trao quyền lãnh đạo trên số thành tương ứng mới số minas mà họ sinh lời. Các đầy tớ của Matthew được lời hứa là sẽ được trao nhiều (vốn) hơn và được mời gọi là hãy vào hưởng niềm vui của chủ ngươi.

Thứ sáu, Luca tường thuật chi tiết những người công dân của ông ghét ông nên sai một phái đoàn đến sau ông để nói rằng “chúng tôi không muốn rằng ông này làm vua chúng tôi.” (Lc 19,14). Đây là chi tiết không hề tồn tại trong tường thuật của Matthew. Chi tiết này cùng với chi tiết “người đàn ông quý phái đi xa để lãnh nhận vương quyền” (Lc 19,11) và chi tiết “giết chết những người dân” (Lc 19,27) theo trình thuật của thánh Luca được sử gia Josephus liên tưởng đến sự kiện lịch sử liên quan đến Archelaus. Số là, sau khi vua Hê-rô-đê cả băng hà, Archelaus cùng đoàn tùy tùng của mình đã đến Roma để thuyết phục hoàng đế Cesar chấp nhận cho ông ta làm kế thừa vua cha. Trong khi đó một phái đoàn năm mươi người Do thái tại từ Israel, hợp với tám ngàn người Do Thái tại Roma, đã đến trước Cesar để tranh luận nguy cơ làm vua của Archelaus. Theo những bản văn của Josephus, Archelaus đã giết chết 3000 người do thái gây rối trước khi đến Roma.

Thứ bảy, Luca kết thúc dụ ngôn của mình với việc ông chủ ra lệnh giết chết  những kẻ không muốn ông làm vua (Lc 19,27). Matthew thì kết thúc một cách hợp lý hơn, người đầy tớ vô dụng đã bị tống ra ngoài nơi tối tăm, và ở đó anh phải khóc lóc và nghiến răng (Mt 25,30)



Một vài điểm chú giải

1.             Người người kia đi xa: Ý tưởng một người kia (một ông chủ vắng mặt) trong dụ ngôn này nhằm làm nổi bật cốt truyện trong đó trách nhiệm của người đầy tớ được đặt nặng. Rõ ràng Matthew không muốn nói gì đến mục đích đi xa của ông này và thậm chí danh tánh, địa vị của ông Matthew cũng không đề cập đến. Chi tiết cần thiết mà nhất đọc giả cần biết đến là ông ta “đi xa” (apodemeo). Ông chủ đi xa có nghĩa là trách nhiệm trông nhà, trông cửa thuộc về các đầy tớ. Và ông chủ vắng bóng càng cho thấy mức độ trưởng thành và trung tín của một người đầy tớ. Có những người đầy tớ chỉ trung thành giả tạo khi có mặt ông chủ. Còn những người đầy tớ đích thực, thì họ tôn trọng chính bản thân và nhân phẩm đầy tớ của mình. Họ có lòng tự trọng, và luôn có tinh thần trách nhiệm cao nhất dù có ông chủ ở đó hay không. Người Việt nam có câu: “chủ vắng nhà gà vọc nêu tôm”. Một khi chủ vắng mặt thì những cái xấu xa, vô trách nhiệm của một đầy tớ rất dễ phơi bày. Mc 14,34-36 cũng nói đến một ông chủ đi xa và giao nhà, giao việc cho các đầy tớ, mỗi người mỗi việc và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức. Rõ ràng, chi tiết một người kia đi xa rất quan trọng trong dụ ngôn này. Nó để lại không gian hành động và trách nhiệm của các đầy tớ. Ông chủ của Matthew tín thác tài sản mình trong tay các đầy tớ và chờ đợi một kết quả tích cực.

2.          Trao cho họ tài sản của mình (τὰ ὑπάρχοντα). Danh từ được dịch là tài sản trong dụ ngôn này cũng rất đáng chú ý. Trong ngôn ngữ gốc Hy Lạp, đây là một động từ thêm -ing (participle), được dùng như một danh từ có mạo từ xác định đi trước. Nó phát xuất từ động từ “ὑπάρχω” có nghĩa là tồn tại, hiện diện, là…giống như động từ eimi. Như vậy, cái mà ông chủ trao cho đầy tớ có thể là một tài sản bình thường như tiền bạc, đất đai, nhà cửa, nhưng cũng có thế quý giá hơn nữa, là chính bản thân ông, chính sự hiện hữu, sự tồn tại của ông. Danh từ tài sản này gợi nhớ đến Mt 24,7, nơi mà ông chủ cũng hứa trao toàn bộ tài sản của mình cho đầy tớ thông minh và trung thành coi sóc.

3.             Trao talenton… mỗi người theo khả năng của mình. Không biết ngẫu nhiên hay hữu ý, trong ngôn ngữ hiện đại đơn vị tiền tệ này được dịch là talent, cũng có nghĩa là tài năng tự nhiên. Món quà tài năng này được trao không phải như nhau cho tất cả mọi người nhưng mỗi người tùy theo khả năng sử dụng nó để sinh lời. Thật hợp lý, khả năng mỗi con người không giống nhau. Ông chủ chắc chắn biết rõ điều ấy và trao số lượng talanton đúng với khả năng của mỗi người. Nếu trao thiếu thì người đây tớ ấy không phát huy hết khả năng của mình. Còn nếu trao dư thì người đầy tớ sẽ không dùng hết đâm ra uổng phí. Thánh Phao-lô có những ý tưởng tương tự như thế. Rm 12,3-8 “nói về mức độ đức tin mà Chúa trao gửi cho anh ta” và “món quà khác nhau theo ân sủng đã được ban cho chúng ta”. Ep 4,7-8 và 1 Pt 4,10 đề cập đến việc khi mỗi người đã lãnh nhận một món quà, hãy tận dụng nó vì nhau, như là những người phục vụ ân sủng muôn hình vạn trạng của Chúa”.

4.             Lập tức… lấy… làm việc… và sinh lời. Bốn động từ liên tục được sử dụng cùng với trạng từ chỉ mức độ nhanh chóng, gấp rút, dồn dập của người đầy tớ thứ nhất, người trao được năm nén, cho thấy sự nhiệt thành, trách nhiệm và chịu thương chịu khó của người đầy tớ này. Trạng từ “tương tự như thế” (ὡσαύτως) đặt ngay trước biểu hiện của người đầy tớ thứ hai, người nhận được hai talanton. Tuy tác giả không lặp lại những động từ dày đặc và trạng từ chỉ tính gấp rút trong hành động của người thứ nhất. Tuy nhiên, trạng từ “tương tự như thế” đã thay thế cho tất cả các cách diễn tả ấy. Nghĩa là cả hai người đầy tớ này đều trung thành, trách nhiệm, nhiệt thành cách gấp rút, nhanh nhất có thể để làm cho những talanton mà chủ ban cho mình được sinh lời gấp đôi. Và họ đã thành công.

5.             Hành động của người thứ ba, người đã nhận được một talenton. Đi, đào lỗ, chôn số bạc của chủ anh ta. Anh cũng có ba hành động nhưng không được bắt đầu bằng trạng từ vội vã. Giả định rằng anh ta cứ bình chân, không lấy gì làm vội vã trong các hành động của mình. Và những hành động của anh ta đều mang tính tiêu cực. Đào và chôn bạc. Chôn dấu bạc dưới đất là một thói quen của người thời xưa. Nếu anh ta đào và chôn dấu số bạc của mình thì đó là chuyện bình thường. Ngạn ngữ xưa có câu: “tiền bạc chỉ được canh giữ bằng cách chôn dưới đất”. Theo như Jeremias (Parables, 61), thì chôn tiền được xem như bảo đảm tốt nhất để chống trộm. Ai chốn dấu tiền thì thoát khỏi trách nhiệm pháp lý, trong khi đó ai gói tiền ký thác trong vải thì chịu trách nhiệm cho việc mất.[3] Nhưng đây là số bạc mà chủ đã giao phó cho anh trước lúc đi xa. Rõ ràng là anh này không hiểu rõ ý chủ của mình. Nếu chủ đưa bạc cho anh chỉ để cất dấu thì không cần chia talanton từng người tùy theo khả năng của mình. Ông chủ chắc chắn cũng có kho để cất dấu của mình, không cần trao cho từng người đầy tớ mỗi người một số lượng khác nhau như thế.

6.             Sau một thời gian dài (πολὺν χρόνον). Đây là kiểu nói thể hiện sự trì hoãn, tương tự như chúng ta đã gặp trong những dụ ngôn trước Mt 24,48 và 25,5. Đây rất có thể là thời gian giữa lúc Chúa Giê-su lên trời và trở lại trong vinh quang. Nó kết hợp “người đàn ông đi xa” trong phần đầu tiên của dụ ngôn để làm thành một hành trình của nguoi2 chủ: ra đi và trở lại sau một thời gian dài. Đây là thời gian có đủ để các đầy tớ sinh lời theo đúng khả năng và số vốn mà Chúa trao phó.

7.             Đầy tớ tài giỏi và trung thành: Cả hai người đầy tớ đầu tiên cùng được ông chủ khen với cùng những loại phẩm tính: “tài giỏi và trung thành”. Cả hai anh tài giỏi và trung thành trong cách thức sinh lời gấp đôi, kịp lúc trước khi chủ trở về. Và họ xứng đáng được trao nhiều talanton hơn thế nữa bởi vì họ đã trung thành khi đã được giao ít.

8.             Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh. Cùng với lời khen và lời hứa được giao nhiều hơn là một lời mời gọi hết sức hậu hỷ: “hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ ngươi”. Đó có thể là lời mời gọi vào dự tiệc Messiah trong thời cánh chung. Cũng như năm cô trinh nữ khôn ngoan vì đã sẵn đèn dầu nên được vào dự tiếc cưới với chàng rể, hai người đầy tớ tài giỏi và trung thành cũng được vào hưởng niềm vui của chủ các anh. Lời mời gọi này không có trong bản dụ ngôn của Luca. Bản tiếng Việt (CGKPV), bản tiếng Pháp (TOB) và bản tiếng Ý (CEI) đều dịch có ý rằng “hãy vào và hưởng niềm vui của chủ anh”. Trong khi đó bản nguyên ngữ tiếng Hy Lạp thì chỉ nói là “hãy vào bên trong (εἰς, vào trong) niềm vui của chủ anh). Có thể có nghĩa là chia sẽ chung niềm niềm vui với chủ của anh. Anh được hòa vào trong niềm vui của chủ anh, được chung phần với chủ. Đó là niềm vinh dự của người tôi tớ vì tôi tớ thường dù có làm gì thì cũng là việc bổn phận. Từ đi vào (εἰσέρχομαι) cộng với giới từ bên trong (εἰς) được dùng ở đây giống y chang như động từ và giới từ được dùng trong dụ ngôn mười người trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể. Năm cô trinh nữ khôn ngoan, những người đã sẵn sàng di vào bên trong phòng tiệc cùng với chàng rể. Đây là lối diễn tả chung cuộc của buổi cánh chung. Sự đi vào bên trong niềm vui của chủ không phải là trong chốc lát nhưng là kéo dài vĩnh viễn. Có người bên trong được chung vui thì chắc chắn cũng có những kẻ bên ngoài buồn bã. Đó là năm cô trinh nữ khờ dại hay là người tôi tớ thứ ba trong dụ ngôn này.

9.             Người đầy tớ lười biếng… xấu xa… và vô dụng. Anh đầy tớ này có một lý giải khá suôn sẻ và hợp lý và không làm hao hụt số vốn mà chủ giao. Tuy vậy, lối lý giải ấy không thuyết phục được ông chủ. Như đã nói trên, trong khi hai người đầy tớ đầu tiên đã hiểu được ý chủ và dấn thân sinh lời gấp đôi ngay lập tức thì tên đầy tớ này lừng khừng, không hiểu, và chỉ làm theo suy nghĩ của anh. Đầy tớ thì phải làm theo ý chủ, đoán ý chủ mà làm. Đầy tớ này được chủ kết luận là lười biếng[4], bởi anh ta đã không làm gì trong suốt thời gian dài chủ đi vắng. Đối nghịch lại với hai phẩm tính tốt mà ông chủ dành cho hai người tôi tớ trước (tài giỏi và trung thành) là hai tật xấu dành cho người đầy tớ thứ ba: xấu xí và biếng nhác. Anh bị cho là xấu xa có thể là do anh đã nghĩ sai về chủ của anh, hoặc anh đã lấy ý anh làm ý chủ. Còn có ý trách vì ông chủ như thế nên anh ta làm như vậy. Vì ông chủ hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi nên anh ta mới đâm sợ và đi chôn dấu số bạc. Nói cách khác anh quy trách nhiệm cho lỗi lầm của anh là vì chủ anh chứ không phải do anh lười biếng. Rõ ràng một đầy tớ không biết ý chủ, lấy ý mình làm ý chủ, lười biếng, không làm gì trong suốt thời gian dài, là một đầy tớ vô dụng, hết xài. Và anh không những phải bị sa thải ngay lập tức mà còn bị trừng phạt nghiêm khắc.

10.           Hãy ném tên đầy tớ vô dụng ra bên ngoài vào trong nơi tối tăm.” Trái ngược với số phận dành cho những đầy tớ tài giỏi và trung thành: được mời vào bên trong niềm vui của chủ, những đầy tớ biếng nhác, xấu xa và vô dụng bị quăng ra bên ngoài vào nơi tối tăm. Như đã nói trên, có người bên trong thì sẽ có kẻ bên ngoài. Đó là cấu trúc của dụ ngôn của Matthew. Có năm cô trinh nữ khôn ngoai thì có năm cô khờ dại. Những người vào bên trong thì được mời “hãy vào”, những người ra bên ngoài thì bị “quăng”. Quăng, ném là động từ dành cho một sự vật chứ không dành cho một con người. Quăng, ném giả định một sự túm lấy, trói lại rồi mới quăng đi. Anh ta vô dụng nên bị quăng đi như một đồ vật phế thải. Những người tài giỏi và trung thành thì đi vào niềm vui của chủ, còn tên đầy tớ vô dụng thì đi vào nơi tối tăm. “vào nơi tối tăm bên ngoài” diễn tả sự phán xét chung cuộc.[5] Hình phạt của tên đầy tớ vô dụng còn được diễn tả một cách chi tiết rùng rợn hơn: khóc lóc và nghiến răng hoài hoài. Bản dịch Việt Ngữ (CGKPV) là: “ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng”. Cách dịch này diễn tả hành động nhưng không gột tả hết được ý nghĩa của bản văn. Bản văn gốc không dùng động từ khóc lóc và nghiến răng mà dùng hẳn động từ eimi (là) cùng với hai danh từ với mạo từ xác định: kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng. Anh ta sẽ là kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng. Từ nay anh ta được gọi là “kẻ khóc lóc” và “kẻ nghiến răng”. Cùng lúc anh ta làm hai hành động và không phải một lúc nhưng suốt đời. Nó bao trùm cả số phận, tình trạng, cho suốt phần đời còn lại của anh. Cũng như thế, những đầy tới chung vui với chủ là vui suốt cả phần đời còn lại của họ. Đó là cách thức diễn tả một tình trạng chung cuộc của thời cánh chung. Lối diễn tả hình phạt khóc lóc và nghiến rằng được Matthew sử dụng nhiều lần khác. Trong Mt 8,12 Chúa Giê-su cảnh báo rằng thiên hạ sẽ từ đông tây đến dự tiệc với Abraham, Isaac và Gia-cóp trong Nước Trời, còn con cái vương quốc thì bị quăng ra ngoài nơi tối tăm và sẽ trở thành kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng.

11.           “Người đã có thì sẽ được cho thêm và sẽ có dư tràn, còn kẻ không có thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi.” Đây là câu giải thích cho bối cảnh cụ thể, khi người đã có mười talanton đã được cho thêm một talanton nữa. Điều này là hiện thực hóa lời hứa của ông chủ ở 25,21 dành cho người đầy tớ tài giỏi và trung thành vì anh đã trung thành trên số ít được giao. Cũng lý giải cho việc người đầy tớ biếng nhác có ít nhất (chỉ có một đồng), thì đã bị lấy đi. Tiếng Việt rất lợi thế trong việc truyền tải hai động từ bị động trong câu này. Trong khi động từ cho thêm được dịch ở thể bị động là “được cho thêm” với một ý nghĩa tích cực, động từ lấy đi, tước đi ở thể bị động được dịch là “bị lấy mất” với ngụ ý rất tiêu cực. Cách dịch này trong Tiêng Anh, Tiếng Ý hay Tiếng Pháp, không hề thấy rõ. Thể bị động trong các động từ này được gọi là bị động thần linh. Có nghĩa là Chúa chính là tác nhân của các hành động này. Chúa sẽ “ban thêm” cho kẻ đã có nhiều và Chúa sẽ “lấy đi” cái đang có của kẻ có ít. Đó cũng là hình phạt dành cho những kẻ làm gương mù, gương xấu và phá luật (Mt 13,12), rồi hình phạt dành cho kẻ đầy tớ xấu xa, chè chén say sưa đánh đập tôi trai tớ gái (Mt 24,51). Luca cũng nói đến cùng hình phạt dành cho quân làm điều bất chính (Lc 13,28).

 

Bình luận

Dụ ngôn những talanton nằm trong loạt ba dụ ngôn nói về thời cánh chung của Matthew: dụ ngôn hai đầy tớ Mt 24,45-51; dụ ngôn mười người trinh nữ đi đón chàng rể Mt 25,1-13; và dụ ngôn những talanton Mt 25, 14-30. Dụ ngôn những talanton của Matthew có cấu kết chặt chẽ và mạch lạc hơn dụ ngôn có cùng chủ đề của Lc 19,11-27. Ta có thể chia dụ ngôn thành 3 phần. (1) Ông chủ đi xa và trao talanton (Mt 25,14-15); (2) hành động của ba người đầy tớ (25,16-18); (3) báo cáo của ba đầy tớ, phần thưởng và hình phạt (25,19-30). Ông chủ đi xa diễn tả một khoảng thời gian vắng bóng của ông chủ, đồng nghĩa với việc ông trao lại cho các đầy tớ không gian và thời gian tự do thể hiện trách nhiệm của mình. Và khoảng thời gian ông chủ đi vắng được diễn tả là rất lâu. Các đầy tớ được giả định có đủ thời gian phát huy tài năng của mình. Hơn thế nữa, ông còn trao cho họ những talanton phù hợp theo khả năng của mình. Ông biết rõ khả năng từng người và trao đúng số lượng cần thiết, không hơn không kém. Người tôi tớ khôn ngoan, nhiệt thành và trách nhiệm sẽ tận dụng thời gian ngay lập tức, nhanh nhất có thể để đầu tư sinh lời. Quả thật, hai đầy tớ đầu tiên đã làm như thế và đã làm rất hiệu quả. Mỗi người đều sinh lời được gấp đôi. Còn người đầy tớ thứ ba thì lười biếng, lừng khừng, không muốn đầu tư, không muốn làm việc. Anh ta đã chôn dấu talanton của chủ và dự định sẵn một phương án để đối phó với ông chủ. Mọi chuyện xảy ra đúng như logic của nó. Những người nhiệt tâm và siêng năng đã được ông chủ khen thưởng như những đầy tớ tài năng và trung thành. Ngoài những mỹ từ ca tụng đức hạnh này, ông chủ còn hứa là sẽ trao thêm vốn liếng và cơ hội cho những đầy tớ này nữa. Bằng chứng cụ thể là ông đã trao thêm cho người có mười talanton một nén nữa. Hơn nữa họ còn được mời gọi cách long trọng là “vào niềm vui của chủ anh”. Đó là một phần thưởng được đồng bàn, được chia sẻ được đồng hưởng niềm vui và sự sung túc của chủ. Người tôi tớ thiếu nhiệt thành, lừng khừng bị mắng nhiếc bằng những từ thậm tệ: xấu xa và biếng nhác. Anh bị tước lấy talenton mà anh đang có, bị công bố là kẻ vô dụng, hết xài. Ngoài ra, anh còn bị tống ra ngoài nơi tối tăm. Hơn nữa, anh phải trở thành người khóc lóc và nghiến răng trọn kiếp. Đức Giê-su sẽ trở lại trong ngày tận thế. Khoảng thời gian trước khi Ngài trở lại được ví như khoảng thời gian ông chủ vắng bóng, đi xa. Ngài trao cho mỗi tín hữu thời gian và cơ hội để họ hoàn thiện đời mình. Cái mà Thiên Chúa trao cho mỗi người tín hữu, những talanton mà người trao gửi vào tay từng người là chính sự sống, sự hiện hữu của người. Ngài trao cho họ hình ảnh của Ngài, hơi thở của Ngài, cùng với những ân sủng cần thiết để con người có thể trở nên hoàn thiện như chính chính Chúa là Đấng hoàn thiện. Lời mời gọi nên hoàn thiện phải luôn được thể hiện ngay lập tức, gấp rút và từng phút giây. Mỗi người không những phải tự sửa đổi nhưng thói hư tật xấu nơi mình mà còn phải hướng đến kẻ khác với con tim yêu thương, thể hiện bằng những hành động tử tế đối với đồng loại, đặc biệt là với những người yếu đuối, nghèo hèn. Sự hoàn thiện bản thân của con người còn phải được thể hiện qua thái độ sống trách nhiệm với vũ trụ, với thế giới, với tài nguyên thiên nhiên và môi trường mà Thiên Chúa, tạo hóa đã ban tặng và trao cho mỗi người trách nhiệm trông nom giữ gìn ngay từ khởi thủy. Lời mời gọi hãy nên hoàn hảo như cha anh em trên trời là đấng hoàn hảo được thánh Matthew đặt vào cuối chương 5 (5,48). Đây là chương đầu tiên của Bài Giảng Trện Núi (Mt 5 – 7). Và chương 5 được khởi đầu bằng tám mối phúc thật, trong đó những lời chúc phúc được đảo ngược dành cho những kẻ khó nghèo về tinh thần; những người hiền lành; những người sầu khổ; những người khao khát sống cuộc đời công chính; những người thương xót người khác; những người có tâm hồn trong sạch;  những người xây dựng hòa bình; những người bị bách hại vì lẽ công chính. Và lời mời gọi khó khăn nhất cuối chương 5, cũng là điều kiện để mỗi tín hữu chứng tỏ mình là con của Cha trên trời, là “hãy yêu mến kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ anh em” (Mt 5,44-45). Đời người được ví như thời gian ông chủ đi xa, như Thiên Chúa vắng bóng. Ngài nhường lại không gian, thời gian và trao cho mỗi người những tài năng theo đúng khả năng của mỗi người. Thời điểm ông chủ trở về, lúc Chúa đến, là giờ chết của mỗi người, hay là ngày tận thế. Sự phán xét vào lúc ấy là chung cục không thể thay đổi gì nữa. Người được mời gọi vào hưởng niềm vui của chủ và kẻ bị quăng ra ngoài nơi tối tăm và trở thành kẻ khóc lóc và nghiến răng. Tất cả ranh giới này là vĩnh viễn. Phụng vụ Lời Chúa vào cuối năm phụng vụ mời gọi mỗi người rà soát lại túi của mình xem mình đã sinh lời được những gì và đánh mất những gì và cần phải làm thêm gì nữa để hoàn thiện mỗi ngày. Chắc chắn rằng, lời mời gọi này, Chúa Giê-su đã mời gọi hơn 2000 năm và còn mời gọi, nhắc nhở chúng ta mỗi ngày chứ không chỉ là cuối năm phụng vụ. Vấn đề là các tín hữu của Ngài có để tâm và nhiệt tâm hay không mà thôi.

Joseph Phạm Duy Thạch SVD

 



[1] Mna (μνᾶ, μνᾶς) là một đơn vị tiền tệ trong tiếng Hy Lạp. Theo Friberg, nó có giá trị tương đương 60 drachmas, hay là 1/60 talenton. Trong Ước, nó có giá trị tương đương với 100 shekels. Danker còn nói thêm là nó có thể mua được 20-100 con bò tùy theo thời giá.

[2] Khác với Luca, Matthew dùng đơn vị talenton (τάλαντον). Theo Friberg thì một talenton có giá trị cân nằng bằng 26-28 kilogram hay tương đương với 3000 shekels Do thái. 5 talenton xap xi 30, 000 đồng Rô-ma. 2 talenton, xấp xỉ 12,000 đồng Rô-ma.

[3] D. J. Harington, The Gospel of Matthew (SP 1; Collegeville 1991) 352.

[4] ὀκνηρός tính từ này thường được dịch là lười biếng nhưng nó cũng có một nghĩa khác đó là chần chừ, do dự, ngại, sợ. Cách hiểu này xem ra hợp lý hơn theo cách ngụy biện của tên đầy tớ này. Nhưng nó lại không đúng với sự thật là anh ta biếng nhác.

[5] D. J. Harington, The Gospel of Matthew (SP 1; Collegeville 1991) 353.

Saturday, 7 November 2020

DỤ NGÔN MƯỜI TRINH NỮ ĐI ĐÓN CHÀNG RỂ , THIÊN ĐÀNG HỎA NGỤC HAI BÊN











 Bối cảnh: là một tiệc cưới. Nó diễn tả một niềm vui cho tất cả mọi người. Không ai phải buồn. Ống kính được chỉa vào một nhóm 10 cô trinh nữ trong đêm hôm ấy. Họ có bổn phận phải đón chàng rể và tháp tùng chàng vào phòng tiệc cưới và chung vui với chành rể. Muốn làm được nhiệm vụ ấy và hưởng được niềm vui của chú rể cách trọn vẹn họ phải có sự khôn ngoan, chuẩn bị một cách chu đáo. Dụng cụ quan trọng nhất trong cuộc đón rước này là những chiếc đèn. Và đèn chỉ có tác dụng khi nó cháy sáng. Đèn muốn cháy sáng thì phải có dầu. Đời vốn không như giấc mơ. Chàng rể đến đúng giờ thì tốt rồi nhưng khổ nỗi chàng rễ có lúc đến trễ. Các trinh nữ tháp tùng không có quyền hỏi là, sao chàng rể đến trể vậy?. Điều họ có thể làm là trang bị cho mình đầy đủ nhất có thể thì dù cho chàng rể có đến trễ thì họ cũng có thể sẵn sàng. Họ có thể ngủ nhưng đèn thì phải luôn cháy sáng.

Những điểm chú giải:

1.   Động từ diễn tả sự cảnh báo cao độ: hãy canh chừng, coi chừng (gregoreo Mt 24,42-43; 25,13; 26,38.41 trong vườn cây dầu). Chúng ta gặp thấy động từ này trong Mt 24,42-43. Trong Mt 24,42 Chúa Giê-su cảnh báo là hãy coi chừng vì anh em không biết Chúa của anh em đến ngày nào. Đây cũng là động từ được Chúa Giêsu dùng để cảnh báo các môn đệ trong vườn cây dầu (Mt 26,38.41). Họ đã không nghe lời cảnh báo của Chúa Giêsu. Họ ngủ li bì trong giờ khắc quyết định, khi Đức Giêsu phải cầu nguyện, lo lắng đến đổ mồ hôi máu. Dĩ nhiên, đây không chỉ nói về giấc ngủ về thể lý nhưng là giấc ngủ về phương diện thiêng liêng. Họ thiếu sự cầu nguyện, niềm tin, lòng can đảm, tín thác và trung thành với Chúa. Và rõ ràng cuối cùng họ đã sa ngã. Họ chạy tán loạn, mỗi người mỗi ngã, mảnh ai nấy chạy bỏ lại thầy bơ vơ một mình.

2.   Tính từ khôn ngoan (phronimos Mt 24,45;25,2.4.8.9). Matthew dùng tính từ này nhiều hơn bất kỳ tác giả sách Tân Ước nào. Matthew dùng đến 7 lần trong khi Luca dùng có 2 lần (Lc 12,42; 16,8) và cả Máccô và Gioan đều không dùng lần nào. Nó được dùng 5 lần trong các thư của thánh Phaolô (Rm 11:25; 12,26; 1 Cr 4,10; 10,15; 2Cr 11,19). Tính từ khôn ngoan được dùng đến 4 lần trong dụ ngôn này. Lần đầu tiên nó đi kèm với danh từ số năm (năm người khôn ngoan), 3 lần sau được dùng như là những danh từ với mạo từ xác định chỉ những kẻ khôn ngoan (những trinh nữa khôn ngoan). Ngoài dụ ngôn này, Matthew còn dùng tính từ này 3 lần khác nữa. (1) Mt 7:24 so sánh một người nghe lời Chúa Giêsu và đem ra thực hành với một người khôn ngoan xây nhà trên đá. Nhờ vậy, ngôi nhà được chắc chắn dù cho mưa, gió, lũ cũng không thể giật sập được. Sự khôn ngoan của người biết nghe và thực hành Tin Mừng của Chúa. (2) Trong Mt 10,16 Chúa Giêsu dạy các môn đệ là Ngài sai các môn đệ như chiên đi vào giữa bầy sói, cho nên các ông phải “khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu”. Đó là sự khôn ngoan để phản ứng, cư xử trước những kẻ bắt bớ.  (3) Mt 14:45 nói đến hai hình ảnh của hai người đầy tớ và số phận của họ. Một người thì khôn ngoan và trung tín. Anh ta sẽ được ông chủ đặt lên coi sóc mọi việc, mọi gia nhân trong nhà. Người kia thì xấu xa và sẽ bị ông chủ phanh thây, quăng vào chung với những kẻ giả hình. Ở đó anh ta phải khóc lóc và nghiến răng. Tính từ khôn ngoan rõ ràng là tính từ có tính quyết định trong dụ ngôn này. Sự khôn ngoan của các trinh nữ ở đây được cụ thể hóa bằng việcchuẩn bị thêm một bình dầu. Người việt nam hay gọi là sơ-cua. Một bình dầu sơ-cua. Người khôn ngoan và cẩn thận luôn luôn dự trù mọi phương án xấu nhất có thể và chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ. Thế giới hiện đại, pin dự phòng là một trong những phương tiện không thể thiếu trong những chuyến đi xa. Sự khôn ngoan, chuẩn bị giúp cho đương sự không phải bị động, lúng túng và nhiều khi bế tắc trong nhiều tình huống. Tình huống lúng túng, bị động, phụ thuộc vào người khác của các cô trinh nữ khờ dại trong dụ ngôn này là một ví dụ điển hình. Người ta có thể vay mượn từ người khác, hoặc xin xỏ từ người khác, nhưng người khác không bị bắt buộc phải giúp bất cứ ai hỏi xin mình. Đó là quyền tự do riêng tư của họ. Trong trường hợp này những trinh nữ khôn ngoan đã trả lời là “không đủ cho cả các chị và cả chúng em”. Dĩ nhiên rồi, người ta chỉ chuẩn bị đủ cho người ta thôi, đâu có ai dự tính đến là những người khác sẽ thiếu và chuẩn bị cả cho người khác. Những cô trinh nữ khờ dại trở nên lúng túng bị động vì họ đã không chuẩn bị. Họ có thể đi mua, và thực tế họ đã đi mua, và mua được dầu nhưng có mua được cũng không có tác dụng gì nữa. Chàng rể đã vào phòng tiệc cưới và cửa đã đóng lại. Nhiệm vụ đi đón chàng rể của họ đã thất bại thảm hại. Họ phải đón chàng rể chứ không phải chàng rể đón họ. Chàng rể vào rồi thì còn cầm đèn để đón ai nữa. Trong cuộc đời, nhiều người thường hay lâm vào tình trạng bị động như thế và những điệp khúc “giá như” chuẩn bị trước, “phải chi” biết trước… cứ lặp lại cách tiếc nuối mà chẳng có tác cụng gì.

3.   Tính từ khờ dại, ngu ngốc (moros). Tính từ này được thánh Matthew sử dụng ít hơn (6 lần) so với tính từ khôn ngoan (7 lần). Ngoài 3 lần trong dụ ngôn này (ít hơn khôn ngoan 1 lần), Matthew cũng sử dụng tính từ này thêm 3 lần nữa. Trong Mt 5,22 “sự ngu ngốc” được xem như là hình thức chống lại người khác ở mức độ nghiêm trọng nhất (Chúa Giêsu liệt kê theo thứ tự 1. Ai giận anh em mình… 2. Ai mắng chửi anh em mình… 3. Ai nói (với anh em mình) là “đồ ngốc”). Hình phạt dành cho kẻ mắng anh em mình là “đồ ngốc” cũng là  hình phạt cao nhất: “đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” trong khi hình phạt dành cho hai sự xúc phạm đầu tiên lần lượt chỉ là: “đáng bị xét xử” và “đáng bị đưa ra tòa”. Trong Mt 7,26 đối lại với những người nghe lời Chúa Giêsu và đem ra thực hành - những người được ví như người khôn xây nhà trên đá - những kẻ nghe lời Chúa Giêsu nhưng không đem ra thực hành thì được ví như người ngu dại xây nhà trên cát. Nhà của họ sẽ bị sụp đổ tan tành trước những trận mưa, lũ và gió bão. Trong Mt 23,17 Chúa Giêsu dùng tính từ này cùng với tính từ mù quáng để lên án những kinh sư và người pha-ri-sêu, là những là những kẻ dẫn đường mù quáng, vì họ cho rằng người ta có thể thề bằng đền thờ mà không bị trói buộc, trong khi thờ bằng vàng trong đền thờ thì bị trói buộc. Chúa Giêsu cho rằng vàng trong đền thờ thì không quan trọng bằng đền thờ là nơi làm cho vàng được thánh hiến. Như thế, ngu ngốc là một đặc tính đáng nguyền rủa và không thể chấp nhận được theo giáo huấn của Chúa Giê-su.

4.   Tính từ sẵn sàng (hetoimos 24,44; 25,10). Đây là một tính từ đặc trưng của Tin Mừng Matthew. Tính từ này có nghĩa là được chuẩn bị, hay là sẵn sàng. Trong bối cảnh này nó được dùng như danh từ có mạo từ xác định: những kẻ đã chuẩn bị, những kẻ đã sẵn sàng, theo chàng rể vào tiệc cưới. Tính từ này xuất hiện 3 lần khác nữa trong Tin Mừng Matthew. Trong một dụ ngôn về Nước Trời cũng liên quan đến tiệc cưới (22, 4.8), tiệc cưới, cỗ bàn được ông chủ thông báo với thực khách là đã “được chuẩn bị”, “đã sẵn sàng”. Nhưng nhiều thực khách đã không sẵn lòng đến dự. Mt 24,44 là một lời mời gọi mang tính cảnh báo “hảy sẵn sàng” vì Con Người sẽ đến vào ngày và giờ chúng ta không ngờ.

5.   Động từ trì hoãn (chronizo) được dùng hai lần trong Tin Mừng Matthew (Mt 24,48; 25,5). Mt 24,48 nói đến việc người đầy tớ có suy nghĩ rằng chủ anh ta trì hoãn, chưa đến, nên anh ta cứ mặc sức đánh đập các đầy tớ đồng môn và ăn uống xay xỉn. Chàng rể trong dụ ngôn này cũng trì hoãn, không đến đúng giờ nên các trinh nữ mệt và ngủ thiếp đi. Hành động trì hoãn  này có hai tác dụng: (1) Tính bất ngờ và (2) cơ hội để kiểm chứng sự tốt xấu của các đầy tớ (hay là các trinh nữ trong dụ ngôn này) qua sự chuẩn bị chu đáo và sẵn sàng của họ. Động từ này rất quen thuộc với những ai di chuyển bằng tàu hay máy bay trong thời hiện đại. “delay” (trì hoãn) là điều chẳng ai muốn nhưng hành khách chẳng thể làm được gì ngoài việc sẵn sàng và chờ đợi. Sự bất ngờ thể hiện rõ trong lời căn dặn rằng không ai biết ngày hoặc giờ (Mt 24,36.42.44.50; 25,13). Đây cũng là ý tưởng rất đặc trưng của Tin Mừng Matthew. Trong Tin Mừng Matthew, Chúa Giêsu căn dặn đến năm lần sự bất ngờ này. Nói theo kiểu người Việt là “năm lần bảy lượt” Chúa Giêsu nói đến sự bất ngờ này. Như vậy, nó rất quan trọng, buộc những người đọc Tin Mừng Chúa phải quan tâm lưu ý nằm lòng, nếu không hậu quả sẽ khó lường.

6.   Kiểu mẫu hai nhóm người: Trong Tin Mừng Mattheu người ta thường thấy kiểu kể chuyện đặt song hành hai nhóm người. Nhóm này khôn – nhóm kia dại, nhóm này sẵn sàng – nhóm kia không, nhóm này vào – nhóm kia ở ngoài, nhóm này bị chối từ – nhóm kia được đón nhận, nhóm này chung vui – nhóm kia buồn bã, thất vọng. Mt 7,13-20 cũng nói đến hai nhóm: nhóm này chọn cửa rộng – nhóm kia chọn cửa hẹp; dẫn đến nhóm này được cứu và nhóm kia bị diệt vọng; một nhóm cây tốt sinh quả tốt và nhóm cây xấu sinh quả sâu. Đặc biệt Mt 7,24-27 nói đến việc một nhóm người nghe và thực hành lời Chúa, được ví như người khôn xây nhà trên đá và dù cho mưa, lũ, gió cũng không làm sập được; nhóm khác nghe lời Chúa Giê-su mà không thực hành thì giống như người ngu xây nhà trên cát, khi mưa, lũ, gió đến nó sẽ sụp đổ tan tành. Mt 24,45-51 nói đến hai đầy tớ, một đầy tớ trung thành và khôn ngoan người sẽ được ông chủ đặt lên coi sóc mọi việc trong nhà và một đầy tớ xấu, sẽ bị ông chủ phanh thây, quẳng vào với những tên giả hình và nơi đó anh ta phải khóc lóc nghiến răng. Mt 24,40-41 nhấn mạnh đến việc một người bị đem đi còn người kia bị bỏ lại. Cấu trúc diễn ta hai nhóm người rất phổ biến trong Tin Mừng Matthew và nó diễn tả một cách sống động giữa hai sự chọn lựa và dẫn đến hai kết quả trái ngược nhau.

7.   Ghi chú về văn hóa: Tục rước đón dâu của miền Trung Cận Đông cổ đại có thế có hai dạng. Thứ nhất, chàng rể có thể ở tại nhà cha mình trong khi cô dâu được hộ tống bởi một đoàn tùy tùng đến nhà chú rể và chú rể chỉ việc rước cô dâu vào tiệc cưới nhà chú rể. Thứ hai, chú rể có thể cùng đoàn tùy tùng đến rước cô dâu từ nhà cha mẹ cô dâu đến nhà cha mẹ chú rể. Trong thời hiện đại, tiệc cưới được tổ chức chung một nhà hàng đặt sẵn, các đôi hôn nhân công giáo thường di chuyển từ thánh đường đến nhà hàng và phần rước dâu dường như không tồn tại. Trong dụ ngôn này có thể là trường hợp thứ hai.Đám cưới có thể được tổ chức ở nhà cô dâu, và chàng rể cùng nhà trai đến nhà cha mẹ cô dâu. Những cô trinh nữ sẽ được nhà gái chuẩn bị để đón chàng rể quý này vào phòng tiệc. Trong dụ ngôn này, tuy cô dâu không được nhắc đến, nhưng ta không thể tưởng tượng được một đám cưới thiếu cô dâu. Những trinh nữ chờ đợi được hiểu là đón chàng rể cùng với cô dâu chứ không phải một mình chàng rể. Đó là những vai phụ không thể thiếu được để tăng thêm niềm vui và long trọng trong ngày tân hôn của chú rể. Trong các tiệc cưới hiện đại, đoàn bưng quả cho chú rể thường được tuyển chọn rất kỹ lưỡng với những trai tân, gái trinh có ngoại hình và có chiều cao đều nhau theo cặp. Đó có thể được xem như là các trinh nữ trong truyền thống cổ xưa. Chỉ khác là tất cả đều được làm ban ngày nên họ không cần đèn. Thế nhưng, họ cũng phải chờ đợi chàng rể y chang như thế, nếu chàng rể không đến kịp giờ họ cũng phải chờ, đến khi nào hoàn thành nhiệm vụ thì thôi.

Luận giải: Dụ ngôn mười trinh nữ đi đón chàng rể nằm trong bối cảnh những bài giảng về thời cánh chung (thời cuối cùng) của Tin Mừng Matthew (ch.24 – 25). Đây là một trong những dụ ngôn chỉ có trong Tin Mừng Matthew mà thôi.[1] Có nhiều nhà chú giải cho rằng dụ ngôn theo nguyên gốc có thể nói về Tiệc Cưới Nước Trời trong đó Chúa Giê-su là chàng rể, chính là Thiên Chúa đến viếng thăm dân Người và mời gọi họ vào tiệc vui với Ngài. Đối tượng người nghe lúc Chúa Giêsu giảng dạy có thể là những người đồng hương Do Thái. Đó cũng là một khả thi. Tuy nhiên, theo cách bố trí của Tin Mừng Matthew (dụ ngôn năm trong chương 24-25: bài giảng về thời cánh chung) thì dụ ngôn này rất có thể là nói về thời cánh chung, thời Chúa Giêsu đến lần thứ hai để phán xét và ban thưởng luận phạt những người có công và kẻ có tội. Và đối tượng mà dụ ngôn nhắm đến là tất cả mọi người tin trên toàn thế giới qua mọi thời đại. Dụ ngôn phân rõ ranh giới giữa hai nhóm trinh nữ có cùng nhiệm vụ và cùng vị trí thế nhưng sự chu đáo, sự khôn ngoan thì quá sức khác biệt. Năm người khôn ngoan thì biết chuẩn bị cho mình phương án dự phòng để họ có thể xoay sở trong tình huống khó khăn. Ngược lại, năm người khờ dại thì rõ ràng thiếu sự tiên liệu và không lo lắng cho đủ. Và hậu quả là như ông bà ta thường nói: “Người không biết lo xa, ắt sẽ buồn gần”. Kết quả đã cho thấy những người có phương án dự phòng cách khôn ngoan thì luôn có khả năng thành công trong mọi việc. Còn kẻ thiếu khôn ngoan, không biết lo lắng thì nguy cơ thất bại luôn rình chờ. Trong đời, có những may mắn thế nhưng không có nhiều và không phải lúc nào cũng gặp may được. Người khôn ngoan thì tự tạo ra sự chắc chắn cho mình chứ không phải cứ trông vào may mắn hay cậy dựa vào người khác. Trên đường đời luôn có những người tốt, thế nhưng, không phải lúc nào gặp khó khăn thì cũng có người tốt để cậy nhờ. Sự từ chối của những cô khôn ngoan không hẳn là sự ích kỷ, nhưng là không đủ cho cả hai, dầu của họ chỉ đủ dùng cho nhiệm vụ của họ. Dầu dùng cho ngày cánh chung được tích góp, chuẩn bị bằng cả cuộc đời của mỗi tín hữu chứ không phải là mua, hay xin xỏ trong chốc lát. Quả thế, những hành động yêu thương, bác ái; những cử chỉ thân thiện, tử tế với bạn hữu; những hy sinh của bản thân; những gọt dũa cho giống hình ảnh Thiên Chúa… tất cả những hoa trái ấy (dầu đèn của đức tin) mỗi cá nhân tự sinh ra mỗi người trong cuộc đời họ, không thể vay mượn của ai được. 

Sự xuất hiện cách bất ngờ của chàng rể đã làm cho các trinh nữ giật mình. Và dẫu vậy thì những kẻ đã có sự chuẩn bị chu đáo vẫn có thể trở tay kịp. Còn những kẻ thiếu sự tiên liệu thì trở tay không kịp. Lời cảnh báo của Chúa Giêsu “hãy coi chừng” cùng với lý do là “không biết giờ nào, ngày nào”, được lặp đi lặp lại nhiều lần cho thấy tầm quan trọng của nó đối với đời người. Đó không đơn giản chỉ là bài học cho sự thành công của những công việc đời thường. Nhưng là, chọn lựa sống còn của con người cả đời này và đời sau nữa. Chàng rể là Chúa Giêsu đến lần cuối và những ai được vào tiệc cưới với Ngài là vào vĩnh viễn, còn những ai bị đứng ngoài là đứng ngoài thiên thu vạn đại. Tất cả đều phụ thuộc vào chọn lựa và sống mỗi ngày của chúng ta. Việc vào nước trời không phải là một chọn lựa nhất thời. Như kiểu các trinh nữ khờ dại, thấy chàng rể đến thì mới lật đật đi mua dầu. Đó là thái độ của những kẻ toan tính nhất thời. Đời sống ki-tô hữu phải là những chọn lựa và chiến đấu liên lỷ, không phải là một toan tính vào giờ chót của cuộc đời mình. Dĩ nhiên, Chúa ban ơn cứu độ cho nhiều người vào giờ chót như kẻ trộm lành chẳng hạn. Tuy nhiên, đó là giây phút gặp gỡ và quay về thật sự, chứ không phải anh ta toan tính rằng cả đời mình cứ làm ác, sống thoải mái, phạm đủ thứ tội đi rồi đến gần cuối đời quay trở về là vừa. Đó là toan tính của những kẻ bất chính và những người khờ dại. Vì Chúa đến bất ngờ, chẳng có ai làm chủ được mạng sống của mình và quyết định được giờ chết của mình. Những trinh nữ khôn ngoan chuẩn bị mọi sự chu đáo để làm tròn sứ mạng đón rước chàng rể và được phần thưởng là chung vui với chàng rể. Những người tín hữu phải có sự chuẩn bị hơn thế nữa bởi lẽ người họ chờ đón không chỉ là chàng rể của một buổi tiệc cưới nhưng là người cha yêu thương của họ. Phần thưởng của họ không chỉ là một buổi tiệc cưới với những món ăn ngon và niềm vui trong một đêm, nhưng là niềm vui, sự hạnh phúc viên mãn đến tròn kiếp sau. Người ki-tô hữu khôn ngoan, luôn sống đẹp tình Chúa tình người, cư xử tử tế và đúng mực trong mọi việc với mọi người thì không cần quan tâm ngày giờ nào Chúa đến, vì thực tế Chúa đang ở trong tâm và trong từng hành động của họ rồi.

Joseph Pham Duy Thạch SVD



[1] Những dụ ngôn còn lại chỉ có trong Matthew mà thôi là: dụ ngôn cỏ lùng (13,24-30.36-43); dụ ngôn kho tàng và ngọc quý (13,44.52); dụ ngôn người tôi tớ không biết tha thứ (18,23-35), dụ ngôn những người nông dân làm vườn nho (20,1-16); dụ ngôn hai người con (21, 28-32) và dụ ngôn sự phán xét của các quốc gia (25,31-46).

Thursday, 29 October 2020

TÂM SỰ ANH MÙ BARTIMÊ

Tôi là Bartimê. Thật ra đó không phải là tên của tôi. Tôi có một tên khác, nhưng không một ai biết đến. Bartimê chỉ có nghĩa là con ông Timê. Họ không biết tên tôi. Có ai đó đã nói rằng tôi là con của ông Timê. Thế là từ đó, mọi người gọi tôi là “con ông Timê”. Tên ấy

nghe còn tạm được. Có nhiều người chỉ gọi tôi là “người mù”, “gã mù” (Lc 18,35). Họ gọi tôi bằng chính tật nguyền tôi đang mang. Thế đấy, hình như trong xã hội này, tôi, “gã mù ăn xin”, không hề có một danh phận, không có giấy tờ tùy thân, không có một tên gọi như bao nhiêu người khác.

Ngày ngày tôi ngồi bên vệ đường thành Giêrikhô. Thành Giêrikhô là một thành khá giả, thế mà tôi chẳng có gì cả. Tôi chỉ ngồi bên vệ đường dọc theo cổng thành Giêrikhô. Đó là chỗ ngồi dành cho những con người không có danh phận. Đó là nơi chốn chỉ dành cho những người bị đẩy ra ngoài lề xã hội như tôi. Tôi ngồi đó. Ngồi vì không còn sức để đứng nữa. Ngồi đó cũng biểu lộ một sự thiếu chỗ đứng giữa xã hội phồn hoa ồn ào náo nhiệt này.

Tôi nào thích ngồi đó đâu. Nhưng tôi là kẻ mù lòa, biết làm gì bây giờ, đành ngồi đó ngày qua ngày. Ngồi bên vệ đường để ăn xin lòng thương xót của người qua kẻ lại. Tôi ngồi đó để lượm lặt chút tiền dư bạc thừa của người qua kẻ lại để nuôi sống bản thân mình.

Tôi mù lòa. Đôi mắt của tôi chẳng nhìn thấy gì cả. May mắn là Chúa còn ban cho tôi đôi tai rất thính. Hằng ngày, tôi nghe không biết bao nhiêu chuyện của người qua kẻ lại. Nghe chứ không được quyền nói. Có ai thèm nghe tôi đâu mà nói. Mù biết gì mà lên tiếng. Ăn xin, sống nhờ tình thương của thiên hạ thì nói ai nghe.

Một trong những thông tin tôi nghe được có khả năng làm thay đổi cuộc đời tôi. Đó là thông tin về một Đức Giêsu xuất thân từ Nagiarét. Người đến để “công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4,18).

Kể từ ngày nghe tin đó, lòng tôi bừng sáng một niềm hy vọng được gặp Người, được nghe Tin Mừng làm cho tôi sáng mắt từ Người. Tôi háo hức đợi chờ người đi qua cuộc đời tôi. Người ta nói rằng: 3 điều làm nên hạnh ph1uc một đời người là: có một người để yêu; có


một công việc để làm; và có một hy vọng để nuôi. Vậy là tôi đã có 2 điều rồi, một cái hành khất, dẫu chỉ là một nghể èo uột nhưng cũng lương thiện đủ; và một niềm hy vọng được sáng mắt. Chính vì thế mà kể từ ngày ấy, tôi cảm thấy cuộc đời đáng sống, bởi tôi đã có một niềm hy vọng, một tương lai phía trước. Kể từ ấy, việc ăn xin chỉ là chuyện phụ. Tôi đến vệ đường Giêrikhô với một mục tiêu khác: đợi chờ cuộc gặp gỡ ngàn năm có một.

Rồi thời khắc ấy cũng đến. Buổi sáng hôm ấy tôi linh cảm một điều lạ thường sẽ xảy ra và háo hức đợi chờ. Tôi nghe thấy một đám đông ồn ào hơn mọi khi tiến đến. Một ai đó đã nói cho tôi biết rằng đó là Đức Giêsu Nagiarét. Vừa nghe cái tên ấy lòng tôi liền kêu lên: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!" (Mc 10,47).

Mọi người đều ngạc nhiên, chưng hửng khi nghe một giọng nói lạ phát ra từ miệng tôi. Họ thấy lạ bởi lâu nay tôi đâu có nói gì. Có nhiều người chắc lần đầu tiên nghe tiếng của tôi. Họ thấy lạ rằng sao tôi dám lên tiếng và gọi Đức Giêsu. Và họ thấy lạ rằng sao tôi lại biết Đức Giêsu là con vua Đavít. Họ đâu biết rằng từ khi nghe kể những câu chuyện về Đức Giêsu tôi đã luôn suy gẫm trong lòng. Rồi từ những dữ liệu Thánh Kinh, tôi chợt nhận ra rằng: Đây chính là con vua Đavít, là Đấng Mêsia mà Sách thánh Cựu Ước đã tiền báo. Người chính là Đấng duy nhất có thể mang lại cho tôi niềm vui sáng mắt.

Ngay lập tức, nhiều người quát nạt, bảo tôi im đi. Đó là chuyện thường ngày mà. Tôi sống nhờ vào tình thương của người qua đường nên ai cũng có thể nạt nộ tôi như thế. Như tôi đã tâm sự. Tôi chỉ nghe chứ không có quyền nói. Người mù ăn xin không có quyền nói. Nói cũng chẳng ai thèm nghe. Ngày thường thì tôi sẽ ngoan ngoãn vâng nghe lời của họ mà yên phận thủ thường.

Thế nhưng, hôm nay tôi quyết không thể im lặng được. Bởi lẽ tôi biết rằng đây là cơ hội quý báu nhất của đời tôi và có thể là cơ hội duy nhất trong đời tôi. Tôi sợ Người sẽ đi qua và không bao giờ trở lại nữa. Vì thế, mặc cho tiếng nạt nộ “câm mồm!” của đám đông, tôi càng la to hơn nữa: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10,48).

Đó là tiếng kêu tràn đầy khao khát hy vọng. Đó cũng là một tiếng kêu đánh đổi cả chén cơm, cả mạng sống của mình. Bởi lẽ, sau tiếng kêu ấy, có thể đám đông sẽ không còn bố thí cho tôi chút tiền dư bạc thừa, cơm thừa canh cặn. Tiếng kêu ấy có thể đẩy tôi vào một tình trạng cùng khổ trăm bề, thậm chí là nguy hại đến tính mạng vì tôi đã dám cãi lời đám đông ấy.

Một tiếng kêu đơn giản như thế nhưng đối với người mù ăn xin như tôi là một sự thách thức vượt lên chính mình. Có thể nói đó là một canh bạc sống con, một vụ đầu tư được ăn cả ngã về không. Tôi hồi hộp đến hoảng hốt. Không khí ồn ào náo nhiệt trở nên ngột ngạt đối với tôi.

Bỗng tôi nghe tiếng bước chân dừng lại. Tôi nín thở chờ đợi phản ứng của Đức Giêsu. Và rồi, Đức Giêsu đã lên tiếng: “Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10,49a). Tôi thở phào nhẹ nhõm và thầm kêu lên khe khẽ, nhưng không dấu nỗi sự rung lên vì sung sướng của cơ thể mình: Yeah! Thành công rồi! Một câu nói của Người không những làm cho tôi nhẹ nhõm mà còn làm thay đổi thái độ của đám đông đối với tôi. Đám đông bắt đầu quan tâm đến tôi. Một số người còn khích lệ tôi, trấn an tôi với lời lẽ thật êm đềm: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” (Mc 10,49b).

Tôi không thể chờ đợi thêm một phút giây nào nữa. “Tôi đứng phắt dậy, vất áo choàng lại và đến với Đức Giêsu” (Mc 10,50). Một hành vì hiên ngang đầu tiên trong đời của “gã mù ăn xin” giữa đam đông hành giả. Tôi cũng không còn thiết gì chiếc áo choàng, là vật sở hữu quý giá nhất cuộc đời tôi. Đó là tấm áo choàng che mưa, che nắng, giữ ấm cho cơ thể tôi.

Đó là vật mà theo luật Môsê, không một chủ cầm cố nào có quyền giữ qua đêm: “Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, thì ngươi phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn. Nó chỉ có cái đó để đắp, để làm áo che thân; nó sẽ lấy gì mà ngủ? Nó mà kêu cứu Ta, Ta sẽ nghe nó, vì Ta vốn nhân từ” (Xh 22,25-26).

Tôi quyết định vất áo choàng lại vì tôi biết rằng Đức Giêsu có thể cho tôi những thứ quan trọng gấp ngàn lần chiếc áo choàng ấy. Người thanh niên giàu có đã “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi” (Mc 10,22) trước lời mời gọi: “hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời” (Mc 10,21). Còn tôi, tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả để đến với Đức Giêsu.

Tôi nhảy chồm trong đêm tối của mù lòa để đến cùng Đức Giêsu nhanh nhất có thể. Đó là một cú nhảy liều lĩnh của kẻ có niềm tin. Có tiếng gọi của Đức Giêsu dường như tôi quên hết mọi sợ hãi, xé tan bóng đêm đang bao phủ đời tôi để chạy đến cùng Người.

Đức Giêsu đã không làm cho tôi thất vọng. Người quan tâm đến chính nhu cầu của tôi. Người ân cần hỏi tôi: "Anh muốn tôi làm gì cho anh?". Đó là một câu hỏi tôi chưa từng được hỏi trong đời. Lần đầu tiên có một người quan tâm đến điều tôi cần. Lần đầu tiên có người hỏi ý kiến của tôi. Một cuộc đối thoại song phương giữa hai con người lần đầu tiên diễn ra với tôi. Thế ra, tôi cũng có quyền muốn gì hay sao? Tôi cũng có quyền yêu cầu điều gì hay sao? Tôi cũng có quyền trình bày nguyện vọng của mình hay sao? Tất cả đều rất lạ lẫm đối với “gã ăn xin mù lòa” này. Tôi cần thời gian để thích nghi với chuyện này.

 Nguyện vọng cả đời của tôi được trao gửi cho Đức Giêsu, niềm hy vọng duy nhất của tôi: "Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được" (Mc 10,51). Tôi cứ ngỡ rằng Người có một phương thần dược gì đó để chữa cho tôi, hay ít ra Người cũng đụng chạm vào mắt tôi. Nhưng không! Người chỉ nói cùng tôi: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!"(Mc 10,52). Đúng là như những gì người ta nói: “Họ sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì lời của Người có uy quyền” (Lc 4,32). Chỉ cần một lời nói của Người thì tức khắc, tôi liền nhìn thấy tỏ tường.

Lời nói của Người làm cho tôi suy nghĩ thật nhiều. Sao Người lại nói cùng tôi “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!". Lẽ ra, Người phải nói rằng: “Anh hãy nhìn thấy đi”, giống


như Người đã từng nói cùng người bị bệnh phong hủi: “Tôi muốn, anh sạch đi” (Mc 1,41). Tôi nghĩ rằng hẵn Người có một dụng ý nào đó dành cho tôi. Có lẽ, đó là một mệnh lệnh “hãy ra đi” mà Người dành cho tôi. Người không muốn tôi phải ngồi bên vệ đường ăn xin nữa. Người muốn tôi phải lên đường để làm chứng nhân cho Tin Mừng. Tin Mừng về điều mà ngôn sứ Isaia đã loan báo từ ngàn xưa: Đấng Mêsia đã đến. Người đã đang và sẽ “công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức”.

Người muốn cho tôi hiểu rằng Người có khả năng làm cho người mù sáng mắt, nhưng không phải tất cả những người mù đều lãnh nhận được hồng ân ấy. Điều gì làm nên sự khác biệt? Thưa! Điều làm nên sự khác biệt chính là niềm tin: “niềm tin của anh đã cứu chữa anh”. Dĩ nhiên là Chúa chữa lành. Nhưng sự chữa lành ấy chính là đáp ứng lại nguyện vọng, niềm khát khao, sự tin tưởng và tôi đã dành cho Người. Tôi đã mạnh dạn gọi tên Người giữa những tiếng cản ngăn, nạt nộ; Tôi đã sẵn sàng vứt bỏ lại tấm áo choàng, tải sản quý giá duy nhất đề đến với Người; Tôi đã mạnh dạn, can đảm lao di trong đêm tối, như người con tin tưởng nhảy ra trong đám khói mù, để lọt vào vòng tay người cha đang chờ đón, dẫu rằng nó không hề nhìn thấy cha mình.

Người cũng giúp tôi hiểu rằng, việc chữa lành đôi mắt thể lý ấy chẳng nghĩa lý gì cả nếu như tôi không gia tăng niềm tín thác vào Người và sống ơn gọi làm người như Người mong muốn.

Sau khi “nhìn thấy được” tôi đã “bước theo Người trên con đường Người đi” (Mc 10,52). Sau lời mời gọi ấy, sau dấu lạ ấy, tôi đã biết mình không có con đường nào khác ngoài con đường mà Đức Giêsu đang đi. Người cho tôi sáng mắt để tôi bước theo Người, chứ không phải để thỏa mãn những nhu cầu riêng tư của bản thân. Dẫu cho tôi biết rằng “con đường Người đi” là con đường lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết, tôi cũng quyết bước theo Người. Đó là con đường mà Người mời gọi tôi “hãy đi” và đi cho trọn. Đó cũng là con đường tốt nhất, mang lại cho tôi sự sáng mắt trọn vẹn, dẫn đến sự sống đời đời.

fR. Joseph Phạm Duy Thạch SVD.

 

Saturday, 18 July 2020

Cỏ lùng trong ruộng lúa, cỏ lùng trong đời và cỏ lùng trong lòng (Mt 13, 26-30.36-43)

 

1.       Hat giống lúa: Chúa Giê-su đã lý giải cho các môn đệ là, chính Con Người, tức là Chúa Giê-su đã gieo hạt giống. Giống Chúa Giê-su gieo chắc chắn là giống tốt. Đó là con cái Nước Trời. Con cái Nước Trời là những người tin vào Chúa, nghe lời Chúa Giê-su giảng dạy và thực hiện theo.

2.       Hạt giống cỏ lùng: cũng giống như một ruộng lúa bình thường. Người nông dân gieo vào ruộng của mình những hạt giống tốt nhất. Họ không gieo cỏ lùng. Nhưng rồi cỏ lùng tự nó mọc lên và nhiều khi còn mạnh hơn cả những cây lúa. Người nông dân không hề ngạc nhiên và đặt câu hỏi, cỏ lùng ở đâu mà ra. Họ chỉ biết rằng, muốn có thu hoạch thì phải làm cỏ, bỏ phân cho lúa. Thường thì họ phải làm cỏ đến hai lần chứ không phải một lần là đủ. Người đầy tớ trong dụ ngôn lại đặt câu hỏi về nguồn gốc của cỏ lùng một cách khác thường. Và câu hỏi là có nên nhổ cỏ lùng hay không cũng vô cùng lạ lùng. Cho nên, những chi tiết này xem như không có thật trong đời thường của một nhà nông chinh hiệu. Đối với nhà nông thì việc nhổ cỏ và bón phân cho lúa là điều không cần bàn hỏi. Nếu không làm cỏ thì làm gì có lúa mà ăn. Có những chi tiết khác biệt này là bởi vì đây là một câu chuyện về Nước Trời chứ không phải là một ruộng lúa bình thường. Trong ruộng lúa nước trời ông chủ xử lý khác thường, bởi lẽ nó không còn là câu chuyện của cỏ cây hoa lá nhưng là chuyện của những con người có lý trí, ý chí và tình yêu. Không phải là chuyện của việc thu hoạch thóc lúa nhưng là cánh chung và ơn cứu độ, quyết định số phận của con người.

3.       Cách xử lý: Cứ để cả hai cùng mọc lên. Con cái Nước Trời và con cái Ác Thần cùng lớn lên. Thật kỳ lạ! nhưng nó lý giải được thực tiễn của chuyện thế gian. Thế gian luôn có kẻ tốt người xấu lẫn lộn và nhiều khi số lượng Lý Thông lại nhiều hơn số lượng Thạch Sanh nhiều lần. Và thế gian sao lắm mụ phù thủy mà lại quá ít nàng Bạch Tuyết. Ấy là thế gian. Và nhiều lần nhiều người vẫn đến thưa với Chúa rằng: sao Chúa không vặn cổ, nhổ răng, trụng nước sôi, chiên giòn những kẻ đâm cha, giết chú, cướp bóc, ám hại dân lành. Và những ngày gân đây người ta bức xúc trước cảnh con các ác thần tấn cong, đốt nhà thờ, đốt tượng Mẹ Maria trên đất Mỹ. “người đầy tớ” sẽ hỏi rằng sao Chúa không phạt tụi nó chết nhăn răng đi. Thế nhưng, Chúa vẫn ôn tồn: “ấy ấy, chớ đụng vào chúng, cứ để cả hai cùng mọc lên”. Tại sao lại thế? Liệu lúa sẽ bật rễ lên khi người ta nhổ cỏ lùng như cách ông chủ giải thích? Liệu người tốt sẽ bị ảnh hưởng nếu Thiên Chúa diệt trừ thẳng tay kẻ xấu? Quả thực, lúa có bật rễ lên, nhưng nó không làm cho lúa chết, sau khi được bón phân, và không còn sự tranh giành của cỏ lùng, lúa sẽ hồi phục và lớn nhanh. Thế nhưng, kẻ xấu, con cái ác thần, liệu có mãi mãi luôn luôn là con cái ác thần hay không? Và liệu con cái Nước Trời, tất cả và luôn luôn là con cái Nước Trời? Con người là một mầu nhiệm. Không ai được sinh ra và định sẵn sẽ là con cái ác thần cho đến chết. Tất cả đều được Thiên Chúa sinh ra và không ai được định sẵn là sẽ thánh thiện đến cuối cuộc đời. Tất cả đều được mời gọi thay đổi và tiến bước trên hành trình đức tin luôn mãi. Lòng trung thành, sự hướng thiện, niềm tin, niềm hy vọng giúp cho người ta bước vào Nước Trời. Chúa không diệt kẻ xấu ngay bởi Chúa biết họ vẫn có thể trở thành con cái Nước Trời. Biết bao nhiêu vị thanh đã từng ung dung bước vào quê trời sau một thời gian dài chìm đắm trong tội lỗi. Và đâu là giá trị thật sự của con các Nước Trời khi họ chỉ sống trong môi trường toàn là người tốt? làm sao có được những niềm tin sắt son nếu không có thời cấm cách, bách hại? Đó là mầu nhiệm Nước Trời, cứ để cả hai cùng mọc lên. Với ý chí, lý trí, và tự do của mình con người phải phân định, chọn lựa và kiên định cho đến hơi thở sau cùng. Cứ để cả hai cùng mọc lên vừa là cơ hội cho mỗi con người vừa biểu lộ long thương xót kiên nhân trao ban cơ hội đến tận cùng của Chúa. Con cái Nước TRời được mời gọi chứng tỏ sức mạnh của mình khi cùng lớn lên bên cạnh cỏ lùng. Và họ có sứ mạng biến đổi người xấu trở thành con cái Nước Trời như Chúa Giê-su đã làm: Người thường lui tới ăn uống, thu phục những người thu thuế và những tội nhân.

Jos. Phạm Duy Thạch, SVD