Thursday, 11 November 2021

KHÔNG AI BIẾT NGÀY ĐÓ GIỜ ĐÓ, KỂ CẢ NGƯỜI CON. Chú Giải Tin Mừng CN XXXIII TN B (Mc 13,24-32)

 KHÔNG AI BIẾT NGÀY ĐÓ GIỜ ĐÓ, KỂ CẢ NGƯỜI CON. Chú Giải Tin Mừng CN XXXIII TN B (Mc 13,24-32)

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

24 Ἀλλ᾽ ἐν ἐκείναις ταῖς ἡμέραις μετὰ τὴν θλῖψιν ἐκείνην ὁ ἥλιος σκοτισθήσεται, καὶ ἡ σελήνη οὐ δώσει τὸ φέγγος αὐτῆς,

 25 καὶ οἱ ἀστέρες ἔσονται ἐκ τοῦ οὐρανοῦ πίπτοντες, καὶ αἱ δυνάμεις αἱ ἐν τοῖς οὐρανοῖς σαλευθήσονται.

 26 καὶ τότε ὄψονται τὸν υἱὸν τοῦ ἀνθρώπου ἐρχόμενον ἐν νεφέλαις μετὰ δυνάμεως πολλῆς καὶ δόξης.

 27 καὶ τότε ἀποστελεῖ τοὺς ἀγγέλους καὶ ἐπισυνάξει τοὺς ἐκλεκτοὺς [αὐτοῦ] ἐκ τῶν τεσσάρων ἀνέμων ἀπ᾽ ἄκρου γῆς ἕως ἄκρου οὐρανοῦ.

 28  Ἀπὸ δὲ τῆς συκῆς μάθετε τὴν παραβολήν· ὅταν ἤδη ὁ κλάδος αὐτῆς ἁπαλὸς γένηται καὶ ἐκφύῃ τὰ φύλλα, γινώσκετε ὅτι ἐγγὺς τὸ θέρος ἐστίν·

 29 οὕτως καὶ ὑμεῖς, ὅταν ἴδητε ταῦτα γινόμενα, γινώσκετε ὅτι ἐγγύς ἐστιν ἐπὶ θύραις.

 30 Ἀμὴν λέγω ὑμῖν ὅτι οὐ μὴ παρέλθῃ ἡ γενεὰ αὕτη μέχρις οὗ ταῦτα πάντα γένηται.

 31 ὁ οὐρανὸς καὶ ἡ γῆ παρελεύσονται, οἱ δὲ λόγοι μου οὐ μὴ παρελεύσονται.

 32 Περὶ δὲ τῆς ἡμέρας ἐκείνης ἢ τῆς ὥρας οὐδεὶς οἶδεν, οὐδὲ οἱ ἄγγελοι ἐν οὐρανῷ οὐδὲ ὁ υἱόςεἰ μὴ ὁ πατήρ (Mk. 13:24-32 BGT)

24 Nhưng trong những ngày ấy, sau những thử thách ấy, mặt trời trở thành tối tăm và mặt trăng sẽ không cho ánh sáng của nó

25 Và các ngôi sao từ trời sẽ rơi xuống và các quyền lực trên trời sẽ bị lung lay

26 Và lúc ấy, người ta sẽ thấy Con Người đến trong đám mây với nhiều quyền năng và vinh quang.

27 Và lúc ấy, Người sẽ sai các thiên sứ và triệu tập những người được chọn từ bốn phương từ tận cùng cõi đất và tận cùng trời cao.

28 Hãy học dụ ngôn từ cây vả khi cành của nó trở nên mềm và sinh ra lá, anh em biết là mùa hè đã đến gần.

29 Cũng vậy, khi thấy những điều này xảy ra, anh em biết rằng Người đã gần bên, ngay bên cửa.

30 Quả thật, Thầy bảo anh em, thế hệ này sẽ không qua đi, cho đến khi những điều này xảy ra.

31 Bầu trời và trái đất sẽ qua đi, nhưng lời của Thầy sẽ không qua đi.

32 Về ngày đó và giờ đó, không ai biết, cả các thiên thần và Người Con cũng khôngngoại trừ Chúa Cha.



Bối cảnh

Mc 12,24-32 nằm trong số những bài giảng về thời Cánh Chung trong Tin Mừng Máccô (13,1-37), thường được gọi là tiểu Khải Huyền,[1] đối lại với sách Khải Huyền (đại Khải Huyền). Những đoạn này cũng được tìm thấy trong Mátthêu và Luca: Con Người quang lâm (Mt 24,29-31; Lc 21,25-28) và dụ ngôn cây vả (Mt 24,32-36; Lc 21,29-33). Sự kiện Con Người quang lâm sẽ đến sau những sự kiện liên quan đến những người mạo danh Đức Kitô đến và lừa gạt những người được chọn (Mc 13,6). Đức Giêsu cảnh báo các môn đệ phải coi chừng nếu không sẽ bị lừa gạt (x. Mc 13,5). Những Kitô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, “làm những dấu lạ và những việc khác thường, nhằm lừa gạt những người đã được tuyển chọn, nếu có thể” (Mc 13,22). Hình ảnh Con Người đến trong đám mây, gợi nhớ đến hình ảnh Con Người đến trong đám mây được nói đến trong sách ĐaniEL. Hình ảnh “Con Người đến trong vinh quang” cũng được Đức Giêsu nhắc đến nhiều lần trong suốt quá trình rao giảng (Mt 25,31; Mc 8,38; Lc 9,26; 9,32; 21,27; 24,26).

Cấu trúc

(a) Các tinh tú: Lu mờ và sa xuống (13,24b-25a)

quyền lực trên trời sẽ bị lung lay (13,25b).

(b) Con Người: Quyền năng và vinh quang (13,26)

Lệnh triệu tập những người đã chọn (13,27)

(a’) Hiện tượng cây vả cho biết thời điểm mùa hè (13,28)

(b’) Thấy những hiện tượng ấy, biết Người đã đến gần (13,29b)

(c) Sự chắc chắn của lời: (Mc 13,30-31)

(b’’) Không biết ngày giờ (13,32)

Một số điểm chú giải

1.     “Trong những ngày ấy” (ἐν ἐκείναις ταῖς ἡμέραις): Là một loại ngôn ngữ được dùng cách phổ biến để diễn tả những sấm ngôn về thời cánh chung (x. Gr 3,16; 5,18; 31,29; 33,15-16; Ge 3,2; Dcr 8,23). Thành ngữ này đã xuất hiện hai lần trước trong bài giảng về cánh chung (13,17: “Khốn thay cho những người mang thai và những người đang cho con bú trong những ngày đó”; 13,19: “Vì những ngày đó sẽ là những ngày khốn cùng đến mức từ lúc khỏi đầu, từ lúc Thiên Chúa dựng nên vạn vật cho đến bây giờ, chưa khi nào xảy ra và sẽ không còn xảy ra nữa”; Mc 2,20).[2]  “Những ngày” (số nhiều) ám chỉ một khoảng thời gian vô định, không biết bao lâu, nhưng chỉ biết là khoảng thời gian của của thời cánh chung.    

2.     Sau những thử thách ấy (τὴν θλῖψιν ἐκείνην): Danh từ “thử thách” có mạo từ xác định, và đại từ chỉ định (ấy, đó) diễn tả thử thách đã nhắc trước đó. “Thử thách ấy” có thể là “giặc giả”; “dân này chống dân kia; nước này chống nước nọ”; “động đất”; “đói kém” (x. Mc 13,7-8); Sự bắt bớ, trao nộp, xảy ra ngay cả giữa những thành viên trong gia đình (x. Mc 13,9.12); Cảnh gian nan tại Jêrusalem (x. 13,14-20).

3.     Mặt trời … mặt trăng …ngôi sao: Nhưng thay đổi của mặt trời, mặt trăng, và các ngôi sao là những dấu hiệu vào những ngày cuối cùng, tiếp theo những cơn gian nan khởi đầu ấy. Nếu như “cơn thử thách ấy” xảy ra chủ yếu trên mặt đất, thì trong “những ngày ấy” (những ngày cuối cùng), những ảnh hưởng liên quan đến những tinh tú trên trời: Mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Theo J. Marcus, đây là những điềm thiêng và dấu lạ báo trước sự xuất hiện của Con Người, đối lại với những dấu lạ và điềm thiêng mà những Kitô giả và các ngôn sứ giả trình diễn để đánh lừa những “người được chọn”.[3] Mặt trời, biểu tượng ánh sáng ban ngày, và nơi phát ra ánh sáng trên mặt đất sẽ trở nên tối tăm. Mặt trăng, một vật thể phát sáng ban đêm cũng không còn cho ánh sáng. Dĩ nhiên, theo khoa học, sở dĩ mặt trăng phát sáng được là nhờ phản chiếu ánh sáng của mặt trời. Nó không tự mình phát sáng. Các nhà du hành vũ trụ Neil Armstrong và Buzz Aldin đã đặt chân lên mặt trăng năm 1969 và đã khám phá ra mặt trăng có màu xám đen. Mặt trăng có độ sáng khác nhau là do bề mặt phản chiếu ánh sáng tiếp xúc với ánh sáng mặt trời khác nhau khi nó xoay quanh trái đất (chu kỳ 27,32 ngày). Theo khoa học tự nhiên, khi mặt trời trở nên tối tăm thì dĩ nhiên mặt trăng cũng không còn chiếu sáng nữa. Tuy nhiên, theo vũ trụ quan thế kỷ thứ nhất, có lẽ các tác giả sách Tin Mừng chưa biết tỏ tường những kiến thức khoa học này. Họ chỉ biết mặt trời chiếu sáng ban ngày, và mặt trăng chiếu sáng ban đêm, giống như đã được diễn tả trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng. Vầng sáng lớn hơn điều khiển ban ngày và vầng sáng nhỏ hơn điều khiển ban đêm. Người cũng làm ra các ngôi sao” (St 1,16). Những ngôi sao rơi xuống, không đề cập gì đến ánh sáng của chúng, có lẽ vì theo trình thuật Sáng Tạo, các ngôi sao không được xem như là biểu tượng ánh sáng. Sự tối tăm của mặt trời, mặt trăng cùng với sự rơi xuống của các ngôi sao cho thấy một sự đảo lộn nào đó trong trật tự sáng tạo, hoặc sự mất chức năng của các vật thể được tạo ra để làm chủ bầu trời.[4] Những hình ảnh của vũ trụ cho thấy sự phai tàn của thụ tạo rất thường thấy khi các ngôn sứ công bố “Ngày của Đức Chúa”. Ngôn sứ Giôen mô tả rất sống động sự kiện này: “Ngày tối tăm u ám, ngày mây mù tối đen. Một dân đông đúc và hùng mạnh đang tràn ngập núi đồi như thể ánh bình mình. Một dân như vậy xưa nay chưa hề có, và muôn năm muôn đời cũng sẽ chẳng bao giờ có nữa. Đi trước dân này là khối lửa thiêu, theo sau họ là hỏa hào bốc cháy” (Ge 2,2-3). Đó là dấu hiệu cho cuộc sáng tạo mới cùng với sự phục sinh sự sống của Chúa. Trong sách Khải Huyền, độc giả cũng thấy những hình ảnh vũ trụ thay đổi tương tự. Khi Con Chiên mở ấn thứ sáu thì “có động đất mạnh. Mặt trời tối đen như vải thợ dệt bằng lông, mặt trăng hoàn toàn ra như máu. Sao trên trời sa xuống đất tựa như trái vả xanh rụng xuống từ cây vả bị gió lớn lay mạnh. Trời bị cuốn đi như một cuốn sách cuộn lại. Mọi núi non và hải đảo bị dời đi nơi khác” (Kh 6,12-14).

4.     Các quyền lực trên trời: Các quyền lực trên trời có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, quyền lực này bao gồm mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Những quyền lực này sẽ lay chuyển như vừa đề cập ở trên. Những quyền lực này cũng có thể nói đến các “thần linh nguyên tố” (stoicheia tou cosmou) được cho là điều khiển những tinh tú trên trời (Gl 4,3; Cl 2,8.20; Pr 3,10.12).[5] Rất khó để hiểu các quyền lực trên trời này chính xác là ai hay quyền lực nào. Tuy nhiên, tất cả những lối diễn tả này cho thấy có một sự thay đổi, đảo lộn, rung chuyển của vũ trụ trước khi Con Người xuất hiện. Tất cả mọi ánh sáng như lu mờ trước ánh sáng thật là chính Đức Kitô Phục Sinh. Các quyền lực trên trời đều lay chuyển trước một quyền lực vững bền là quyền lực của Đấng Phục Sinh.

5.     Con Người (the Son of Man)[6]: Đây là danh xưng xuất hiện trong văn chương khải huyền của sách ngôn sứ ĐaniEL. Đn 7,13 nói rằng “trong thị kiến ban đêm ông thấy có ai như con người, người đến với mây trời”. Con Người cũng nói với ĐaniEL rằng “hãy hiểu rằng thị kiến đề cập đến thời gian cuối cùng” (Đn 8,17). Danh hiệu Con Người trong tiếng Hy Lạp là “ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου” dịch sang Tiếng Việt là con trai của con người. Trong tiếng Do Thái, đó là một lối diễn đạt cá nhân hóa một danh từ chung chỉ nhân loại nói chung, bằng cách thêm vào cụm từ “con của”, diễn tả một con người cụ thể, một thành viên của loài người. Nghĩa của nó có thể như là “ai đó” hay “một người bất kỳ”. Cách dùng của Đn 7,13-14 diễn tả một Con Người đến trong đám mây, đã trở thành một vài dạng suy đoán của Do Thái và Kitô giáo sơ khai, đoán trước một tác nhân siêu nghiệm thời cánh chung của cuộc phán xét và giải thoát mang tính thần linh. Trong Tân Ước, tác nhân ấy gần như được đồng hóa với Đức Giêsu Phục Sinh. Thuật ngữ này xuất hiện trong cả bốn Tin Mừng và luôn luôn phát xuất từ miệng của Chúa Giêsu. Với một ngoại lệ (Ga 5,27), các sách Tin Mừng luôn luôn dùng mạo từ xác định, như thế giới thiệu thuật ngữ như là một nhân vật được biết rồi, thậm chí trong bối cảnh trong đó nó chưa được đề cập trước đó. Thuật ngữ này có thể có ám chỉ về Mêsia được nói đến trong Đn 7. Trong bối cảnh này, Con Người có một vị thế hết sức quan trọng. Người “cỡi mây trời” mà đến và triệu hồi tất cả những người được chọn trong bối cảnh cuộc phán xét, thưởng – phạt phân minh.[7]

6.     Nhiều quyền năng và vinh quang: Vinh quang của Đức Giêsu được tỏ bày qua khả năng làm những phép lạ trong suốt hành trình rao giảng của Người. Đặc biệt, trong biến cố Biến Hình Người cũng bày tỏ vinh quang cách tỏ tường. Tuy nhiên, vinh quang ấy sẽ trở nên trọn vẹn sau khi Người Phục Sinh. “Quyền năng và vinh quang” là hai danh từ được dùng để diễn tả Đức Giêsu Phục Sinh. Đức Giêsu Phục Sinh đã khẳng định với các Tông Đồ rằng Người đã được “ban tất cả quyền lực trên trời và dưới đất” (Mt 28,18). Người cũng từng nói trước rằng Con Người “ngự đến cùng với các thiên thần, trong vinh quang của Cha Người” (Mc 8,38). Vinh quang của Đức Giêsu được tỏ hiện cho các môn đệ thấy trong biến cố Biến Hình (Lc 9,32). Vinh quang ấy sẽ được biểu lộ cách trọn vẹn sau khi Người trải qua đau khổ: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu đau khổ như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Thánh Phaolô cũng xác quyết về quyền năng của Đức Giêsu Phục Sinh: “Xét như Đấng từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1,4). Trong thư gửi tín hữu Philípphê, thánh Phaolô cũng cho biết Thiên Chúa đã siêu tôn Đức Giêsu và tặng ban cho Người một danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu và muôn vật trên trời, dưới đất, trong âm phủ đều bái quỳ Người (Pl 2,9-10). Sách ĐaniEL cho thấy vinh quang và quyền năng được ban cho Con Người. Đấng Lão Thành trao cho Con Người “quyền thống trị, vinh quang và vương quyền, muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7,14).

7.     “Những người được chọn” (τοὺς ἐκλεκτοὺς): Tính từ “eklektos” trong Tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tuyệt vời”, “được uyển chọn”. Trước đó, Đức Giêsu đã đề cập đến những người “được tuyển chọn” khi Người nhắc đến những ngày gian nan: “Nếu Chúa không rút ngắn lại những ngày ấy thì không ai được cứu thoát, nhưng vì những kẻ Người đã tuyển chọn, Người rút ngắn những ngày ấy lại” (Mc 13,20). Người cũng nói đến những Kitô giả và ngôn sứ giả đến để “lừa gạt những người được tuyển chọn” (Mc 13,22). Những người được chọn là ai? Họ có thể là các thành viên trong cộng đoàn Kitô hữu. Sự chọn lựa họ là kết quả của ân sủng của Chúa, chứ không phải do đặc quyền riêng của họ.[8] Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn loại trừ ai cả. Đức Giêsu đến “để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10). Dụ ngôn Khách Mời Dự Tiệc Cưới cho thấy ông chủ tiệc cho mời tất cả những người bất kể ai, từ khắp các ngã đường vào trong bữa tiệc của con trai mình. Tuy nhiên, cuối cùng, vẫn có những người bị quăng ra ngoài vì đã không mặc y phục cưới. Đức Giêsu kết luận cho dụ ngôn này “vì người được gọi thì nhiều và kẻ được chọn thì ít” (Mt 22,14). Chúa gọi rất quảng đại, nhưng những người được gọi cũng phải đóng góp phần mình để hoàn tất quá trình được tuyển chọn ấy. Sự bất hợp tác có thể làm cho lòng quảng đại của Thiên Chúa trở nên vô nghĩa. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Êphêxô khuyên nhủ rằng: mỗi người hãy “sống xứng đáng với ơn kêu gọi” mà họ đã được lãnh nhận (Ep 4,1). Có lẽ “người được chọn” là một từ ngữ mang tính kỹ thuật phù hợp cho cộng đoàn của Đấng Mêsia về ơn cứu độ và ý nghĩa là “tất cả đều được mời (vào bữa tiệc Mêsia), nhưng không phải tất cả đều tham dự”. Nói cách khác chỉ có được chọn thôi là không đủ.[9]

8.     Từ tận cùng cõi đất và tận cùng trời cao”: Thành ngữ này kết hợp vối “bốn phương trời” làm nên một sự bao quát toàn thể vũ trụ, bao gồm toàn bộ mọi loài thụ tạo, không trừ một cá thể nào ở ngóc ngách nào của vũ hoàn.[10] Những người được chọn ở khắp bốn phương trời.

9.     “Dụ ngôn cây vả”: Một cách tự nhiên, khi cây vả đâm chồi, sinh lá non, người ta biết rằng mùa hè đã gần đến. Giống như ở Việt nam, hễ thấy phượng nở và ve kêu là học trò biết rằng mùa hè đã đến gần. Cây vả là một loại cây khá phổ biến trong vùng Địa Trung Hải. Nó rụng lá và ngủ suốt mùa đông như nhiều loại cây khác. Lá xanh lại xuất hiện vào cuối mùa xuân (vào tháng Tư, khoảng Lễ Vượt Qua)[11], ngay trước mùa hè và nó cho trái hai lần. Lần đầu tiên vào khoảng đầu tháng Năm đến tháng Sáu. Lần thứ hai vào khoảng cuối tháng Chín đến đầu tháng Mười Một. Đức Giêsu dùng từ “dụ ngôn” nhưng rõ ràng trong trường hợp này, Người muốn nói đến một quy trình thay lá tự nhiên của một cây vả, chứ không phải là một dụ ngôn. Người muốn các môn đệ áp dụng kinh nghiệm thực tế đó để nhận biết biến cố “Con Người đến trong vinh quang và quyền năng”. Đức Giêsu cũng từng dùng cách nói này để trách đám đông không nhận biết thời đại này, tức là thời đại của Đức Giêsu, trong khi họ có thể nhận ra các hiện tượng thiên nhiên một cách chính xác. Khi thấy mây kéo đến phía Tây, họ biết rằng “mưa đến nơi rồi”; và khi thấy gió thổi đến từ phía Nam, họ biết rằng “trời sẽ oi bức” (x. Lc 12,54-56). Khác với đám đông, các môn đệ phải học từ quy trình thay lá tự nhiên của cây vả, để nhận biết thời điểm Con Người xuất hiện.

10.  “Những điều này xảy ra”: Nhìn vào cấu trúc ở trên, độc giả có thể nhìn thấy ví dụ về quy trình thay lá của cây vả (a’) // (a) Những hiện tượng bất thường của các tinh tú trên trời: Mặt trời trở nên tối tăm, mặt trăng không còn cho ánh sáng, các quyền lực trên trời lay chuyển. Như vậy, cụm danh từ “những điều này” (xảy ra) trong bối cảnh này là những hiện tượng bất thường liên quan đến các thực thể trên trời đã đề cập trước đó. Cũng như, sự sinh lá của cây vả báo hiệu một mùa hè đang đến, hiện tượng lạ lùng của mặt trời, mặt trăng và các tinh tú báo hiệu cho sự việc Con Người đang đến. “Những điều này” cũng có thể mở rộng ra cho tất cả những cơn gian nan khởi đầu mà Đức Giêsu nói trước đó (Mc 13,5b-25) vì trong câu hỏi của các môn đệ, đại từ “ταῦτα” (những điều ấy) cũng được sử dụng.[12]

11.  “Người đã gần, ngay bên cửa”. Chủ từ ẩn của động từ “ἐστιν” (thì, là) ngôi thứ ba số ít có thể là Người (Con Người) hoặc là “nó” (sự đến của Con Người).[13] Sự “gần” của mùa hè song song với “gần” của Con Người. Tuy nhiên, sự “gần” của Con Người còn được bổ trợ bằng một cụm giới từ mang tính giái thích: “Ngay bên cửa”. Cụm giới từ này nhấn mạnh rằng khoảng cách thời gian là rất gần. Sau khi nói về những hiện tượng bất thường xảy ra, rồi nói đến việc Con Người ngự đến trong vinh quang. Câu hỏi đặt ra là khi nào xảy ra những điều ấy? Để trả lời cho câu hỏi đó, Đức Giêsu lại dạy các ông hãy học từ ví dụ của cây vả. Hệt như khi thấy lá của cây vả bắt đầu xuất hiện thì họ biết mùa hè gần rồi, khi thấy những hiện tượng lạ lùng từ mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, họ cũng biết rằng Con Người sắp đến. Tuy nhiên, ví dụ cây vả thì rõ ràng nhưng sự kiện Con Người đến không thể dễ dàng nhận thấy.

12.  Thế hệ này chẳng qua đi cho đến khi những chuyện này xảy ra”: Cách nói này rất khó giải thích vì rõ ràng thiếu sự hoàn tất của lời tiền báo của Người. Vấn đề đầu tiên cần xác định là ý nghĩa của cụm từ “những chuyện này”. Có phải là chúng muốn ám chỉ đến những điều đã được đề cập trong 13,3-23? Có một cách giải thích là nên hiểu câu này như là một thành ngữ khẳng định chắc chắn rằng những chuyện này sẽ xảy ra. Cách hiểu thứ hai, “những chuyện này” đề cập đến cuộc Thương Khó, Chết và Phục Sinh sắp xảy đến của Đức Giêsu, biến cố mà Người đã tiền báo đến ba lần trước đó. Cách hiểu này gợi nhớ đến lời dạy tương tự trong Mc 9,1: “Ta bảo thật các người: Trong số những người có mặt ở đây, có những người sẽ không phải nếm trải sự chết cho đến khi thấy Triều Đại Thiên Chúa đến đầy uy lực”.[14] Thế hệ này là thế hệ hiện tại, có thể kéo dài đến cuối thế kỷ thứ nhất (8,12.38).[15] Các môn đệ của Đức Giêsu cũng như những người tin vào Người sẽ trải qua những giây phút hiện tại kinh hoàng, khi họ chứng kiến Đức Giêsu bị bắt, tra tấn và giết chết. Cũng có thể họ cũng chứng kiến biến cố kinh hoàng khi Jêrusalem và Đền Thờ Thứ Hai bị phá hủy vào năm 70.[16] Rồi, họ cũng chung số phận khi đi theo lời mời gọi “vác thập giá của mình mà theo Chúa” (Mc 8,34). Đức Kitô Phục Sinh vinh quang chính là niềm tin và niềm hy vọng cho họ trong những cơn gian nan thử thách. Tuy nhiên, sự kiện Con Người đến trong mây trời đầy quyền năng và vinh quang vẫn chưa xảy ra. Đây là niềm hy vọng cho các tín hữu qua mọi thời đại.

13.  Không ai biết … ngoai trừ Chúa Cha”: Những lời của Đức Giêsu nói chắc chắn sẽ được ứng nghiệm. Đức Giêsu đã bảo các môn đệ hãy học lấy ví dụ về quy trình thay lá của cây vả, báo hiệu một mùa hè sắp đến. Tuy nhiên, cho đến cuối cùng người ta cũng không thể biết được ngày giờ cụ thể. Đức Giêsu lặp lại ba lần trạng từ mang nghĩa phủ định “οὐδεὶς” (không ai); “οὐδὲ οἱ ἄγγελοι ἐν οὐρανω” (các thiên sứ trên trời cũng không); “οὐδὲ ὁ υἱός” (Người Con cũng không) (x. Mc 13,32; Mt 24,36). Bí mật về “ngày” và “giờ” của sự kiện cánh chung là không thể bật mí. Nếu Đức Giêsu (Người Con) không biết thì rõ ràng Người không thể nào bật mí được. Việc Người Con được liệt kê vào trong danh sách của những người không biết “ngày ấy và giờ ấy” cánh chung làm cho các Kitô hữu thời sơ khai không khỏi bối rối (không ngạc nhiên khi mà một vài bản chép tay trong đoạn tương đương của Mátthêu bỏ đi chi tiết này, Luca thậm chí bỏ luôn câu này). Chi tiết này không có trong các bản Latin (Vulgate), các bản tiếng Siriac và Coptic. Có tác giả cho rằng cụm từ “ngay cả các thiên thần trên trời cũng không, ngay cả Người Con cũng không, trừ Chúa Cha” được thêm vào bản gốc vốn chỉ có cụm từ “không ai biết”. Tuy nhiên, cách nghĩ này xem ra vô lý, vì khó có thể lý giải được tại sao người ta lại thêm vào cụm từ có tính giảm thiểu kiến thức của Người Con. Chính vì thế tác giả Granfield và Grundmann khẳng định những cụm từ ấy là nguyên gốc chứ không phải thêm vào.[17] Cách nói này của Đức Giêsu có lẽ tương tự như cách nói của Người dành cho hai người con ông Dêbêđê, khi họ đến xin Người hai vị trí bên tả và bên hữu. Người đã trả lời họ rằng Người không có quyền cho, nhưng Cha Người chuẩn bị cho ai thì người ấy được (Mc 10,35-40; Mt 20,20-23). Điều này ngụ ý rằng Đức Giêsu “ngày” và “giờ” chính xác của biến cố cánh chung không nằm trong ý định mạc khải của Chúa. Tương tự, khi các tông đồ hỏi về thời điểm Đức Giêsu khôi phục vương quốc IsraEL, Ngài đáp lại rằng “anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn đã đặt để trong quyền năng của Ngài” (Cv 1,6-7)

Bình luận tổng quát

Phần cuối của những trình thuật về hành trình rao giảng của Đức Giêsu, trong Tin Mừng Nhất Lãm thường được kết thúc bằng những bài giảng về Cánh Chung – những sự sau cùng của thế giới: Chết, sống lại, phán xét, thưởng phạt, sự sống mới ở đời sau. Tin Mừng Máccô cũng không ngoại lệ. Hay nói khác đi, Tin Mừng Máccô là khuôn mẫu cho hai Tin Mừng Nhất Lãm còn lại. Khi nói về sự kiện cánh chung, một thể văn thường được sử dụng là thể văn khải huyền, một thể văn đã phát triển khá phổ biến trong văn chương Do Thái thời Cựu Ước. Chương 13 của Máccô được xem là một tiểu Khải Huyền nói về những biến cố sau hết của thế giới. Muốn hiểu được tiểu Khải Huyền của Máccô, phải đọc lại bối cảnh của hai đại Khải Huyền khác trong truyền thống Thánh Kinh: Sách ĐaniEL trong Cựu Ước và sách Khải Huyền trong Tân Ước. Sách ĐaniEL được soạn thảo khoảng năm 165, khi vua Antiôkhô IV của Seleucid đang cai trị đất Palestine. Ông cố gắng biến đền thờ Jêrusalem thành nơi thánh hiến cho Chúa Thiên Đàng (Baal Shamin) và thay hế Torah (Luật của người Do Thái). Một số người đạo đức Do Thái xem những hành động này là những tai họa, vì vua Antiôkhô tước đoạt của người Do Thái Đền Thờ, Luật Pháp, đất đai của tổ tiên họ. Sách ĐaniEL khuyên những người trung thành xem Chúa như là nguồn hy vọng duy nhất của họ. Các đế quốc hùng mạnh rồi cũng sẽ đầu hàng Thiên Chúa của họ. Sách Khải Huyền của thánh Gioan được viết vào khoảng năm 95 (triều đại của hoàng đế Domitian. Nó nhắm đến các tín hữu đang đau khổ vì sự bách hại dữ dội ở Tiểu Á. Họ bị bắt buộc tham dự vào những nghi thức thờ hoàng đế Rôma và các nữ thần. Tác giả khuyên các tín hữu không nên tham gia vào những nghi thức ấy và cũng không phản kháng cách bạo lực. Thay vì xem Domitian như là thần, là Chúa, các tín hữu được khuyên phải xem Đức Kitô Phục Sinh, Con Chiên bị giết như là Chúa đích thực, vua đích thực và vĩnh cửu. Họ được khuyến khích trung thành dù trải qua bao đau khổ của sự bắt bớ. Cuối cùng, Đức Kitô sẽ chiến thắng.[18]

Dưới ánh sáng của hai sách Đại Khải Huyền, độc giả có thể hiểu phần nào Tiểu Khải Huyền trong chương 13 của Tin Mừng Máccô. Các Kitô hữu cộng đoàn Máccô đang chịu đau khổ và cần được an ủi, động viên, khích lệ, cũng như một câu trả lời cách nào đó cho những khó khăn thử thách của họ. Câu trả lời ngắn hạn cho câu hỏi của họ là tại vì lòng trung thành của họ đối với Thầy Chí Thánh Giêsu, và thông điệp của Người về Nước Thiên Chúa. Câu trả lời dài hạn là đau khổ của các tín hữu bây giờ là một phần của kế hoạch của Thiên Chúa – đỉnh cao là sự mạc khải của Con Người vinh quang và sự chiến thắng của những người được Chúa chọn (những Kitô hữu trung thành đến cùng).

Đoạn Tin Mừng chúng ta đang tìm hiểu, chính là sự tiền báo về đỉnh cao của mạc khải của Thiên Chúa, cũng như niềm hy vọng vinh thắng cuối cùng của các tín hữu. Các thực thể đất trời, vũ trụ sẽ đảo lộn và lay chuyển. Mặt trăng, mặt trời, những nguồn ánh sáng tưởng chừng là vô tận theo mạc khải của sách Sáng Thế (St 1), cũng vụt tắt, để nhường chỗ cho sự xuất hiện uy nghi của ánh sáng thật và vĩnh cửu là Đức Kitô như Người đã tự bạch: “Ta là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12; 9,5). Độc giả hẳn cũng không quên rằng trong khoảnh khắc Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, “bóng tối bao phủ khắp mặt đất” vì ánh sáng thật sắp tắt đi trong một khoảng thời gian, để rồi chiếu sáng muôn thuở. Phụng vụ Ánh Sáng trong đêm Vọng Phục Sinh, nhắc nhở các tín hữu cách sống động rằng Đức Kitô phục sinh là ánh sáng thật của thế gian. Hình ảnh Con Người ngự trong đám mây mà đến, chính là hình ảnh đã được nói đến trong sách ĐaniEL. Đó là Con Người được ban toàn quyền trên trời dưới đất và cả trong âm phủ. Vinh quang của Người chói ngời và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận. Những đau khổ của các Kitô hữu sẽ chứng tỏ lòng trung thành của họ và chứng tỏ rằng họ đã sống ơn gọi mà họ đã được kêu gọi – vác thập giá mình mỗi ngày mà theo Đức Kitô. Khi trung thành với hành trình ơn gọi ấy đến cùng, họ sẽ được các thiên thần mời về như những người “được chọn” và được Con Người ban thưởng hạnh phúc vinh quang, viên mãn với Người. Tuy vậy, cho đến bao giờ, ngày nào, giờ nào Con Người sẽ trở lại trong vinh quang “để phán xét người sống và kẻ chết”? Điều đó vẫn chưa được mạc khải, hay nói đúng hơn là “thiên cơ bất khả lộ”. Xét cho cùng, bí mật này là công bằng và chính đáng đối với Chúa và với tất cả mọi người. Cuộc đời con Người phải là một chuỗi ngày chọn lựa Chúa và thánh ý Người. Họ được mời gọi luôn trung thành, liên lỉ với chọn lựa cùa mình mỗi phút, mỗi giây của cuộc đời, cho dù xảy ra biết bao đau khổ gì đi nữa. Đó không phải một toan tính trong chốc lát, nhất thời, chụp dựt, kiểu như nếu biết ngày mai Chúa đến, thì hôm nay đi xưng tội là vừa, còn cả cuộc đời hưởng thụ thân xác cho sướng. Chọn lựa Chúa là chọn lựa sống trong tương quan tình yêu luôn luôn với Chúa và với người khác chứ không phải là toan tính, mưu mô để được vào Nước Trời. Đành rằng hạnh phúc Thiên Đàng là một món quà nhưng không của Chúa và trên thực tế Người có thể ban cho một tên trộm lành trong một phút giây (Lc 23,43). Đó là một giây phút hoán cải, tin tưởng đích thực, chứ không phả được mưu mô, toan tính từ lâu. Vì thế, nếu ai có ý định “cướp” Nước Thiên Đàng ngay từ đầu thì có lẽ Chúa sẽ không ban.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] Từ khải huyền nghĩa là mạc khải, bộc lộ, và như là một dạng văn chương, một sự khải huyền có mục đích tỏ lộ những mầu nhiệm tương lai hay lãnh vực thiên giới. Nội dung của chương 13 Tin Mừng Máccô nói về những sự cuối cùng (chết, sống lại, phán xét, những phần thưởng và những hình phạt, sự sống mai sau), khải huyền được xem như là giải quyết sự chung cuộc hay cánh chung. Khải huyền đôi khi được gọi là “văn chương của những yếu thế”. Nó thường xuất hiện giữa những dân bị áp bức, hoặc dân lưu lạc những người co ít cơ hội chống lại những quyền lực kinh tế, chính trị [J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel According to Mark (SP 2; Collegeville 1991) 378-9]; “In the scenario of Mark 13, the first stage, the “beginning of the birth-pains,” includes the themes of a preliminary time of evil (the beginning of the war, the deception of false messiahs in vv. 5b–6) as well as persecution (vv. 9–13). The second stage, the “tribulation,” combines the themes of divine intervention, judgment, and the fate of sinners. The judgment on the city would also affect representative leaders of the persecution against the followers of Jesus, among both the Jews and the Romans. The third stage involves the appearance of the Son of Man, described in theophanic terms, and the gathering of the elect (vv. 24–27). Chapter 13 thus contains two divine interventions, an act of divine judgment without a mediator and an act of salvation through the mediation of the Son of Man and his angels” [A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 615].

[2] C.A. Evans, Mark 8:27-16:20 (WBC; Dallas 2002) 34B, 327.

[3] J. Marcus, Mark 8–16. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) XXVII A, 906.

[4] C.A. Evans, Mark 8:27-16:20, 328.

[5] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel According to Mark, 374.

[6] See G. W. E. NICKELSBURG, The Anchor Bible Dictionary, “Son of Man”.

[8] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel According to Mark, 373.

[9] W.D. Davies – D.C. AllisonJr., A critical and exegetical commentary on the Gospel according to Saint Matthew (ICC; LondonNew York 2004) III, 207.

[10] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel According to Mark, 375.

[11] Ibid.

[12] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark, 616.

[13] C.A. Evans, Mark 8:27-16:20 (WBC; Dallas 2002) 334.

[14] J.E.A. Chiu, “Mark”, The Paulist Biblical Commentary (ed. R.J. Clifford et al.) (New York 2018) 1016.

[16] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel According to Mark, 376.

[17] C.A. Evans, Mark 8:27-16:20 (WBC; Dallas 2002) 34B, 336.

[18] X. J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel According to Mark, 379-380.

Thursday, 4 November 2021

ĐẠO ĐỨC GIẢ - ĐẠO ĐỨC THẬT. Chú Giải Tin Mừng CN XXXII TN B (Mc 12,38-44)

 

Hy Lạp

Việt

38  Καὶ ἐν τῇ διδαχῇ αὐτοῦ ἔλεγεν· βλέπετε ἀπὸ τῶν γραμματέων τῶν θελόντων ἐν στολαῖς περιπατεῖν καὶ ἀσπασμοὺς ἐν ταῖς ἀγοραῖς

 39  καὶ πρωτοκαθεδρίας ἐν ταῖς συναγωγαῖς καὶ πρωτοκλισίας ἐν τοῖς δείπνοις,

 40  οἱ κατεσθίοντες τὰς οἰκίας τῶν χηρῶν καὶ προφάσει μακρὰ προσευχόμενοι· οὗτοι λήμψονται περισσότερον κρίμα.

 41  Καὶ καθίσας κατέναντι τοῦ γαζοφυλακίου ἐθεώρει πῶς ὁ ὄχλος βάλλει χαλκὸν εἰς τὸ γαζοφυλάκιον. καὶ πολλοὶ πλούσιοι ἔβαλλον πολλά·

 42  καὶ ἐλθοῦσα μία χήρα πτωχὴ ἔβαλεν λεπτὰ δύο, ὅ ἐστιν κοδράντης.

 43  καὶ προσκαλεσάμενος τοὺς μαθητὰς αὐτοῦ εἶπεν αὐτοῖς· ἀμὴν λέγω ὑμῖν ὅτι ἡ χήρα αὕτη ἡ πτωχὴ πλεῖον πάντων ἔβαλεν τῶν βαλλόντων εἰς τὸ γαζοφυλάκιον·

 44  πάντες γὰρ ἐκ τοῦ περισσεύοντος αὐτοῖς ἔβαλον, αὕτη δὲ ἐκ τῆς ὑστερήσεως αὐτῆς πάντα ὅσα εἶχεν ἔβαλεν ὅλον τὸν βίον αὐτῆς.

 (Mk. 12:38-44 BGT)

38 và trong buổi giảng của Người, Người nói: “Anh em hãy để ý các kinh sư, những người thích đi quanh trong bộ áo dài và thích những lời chào ở những nơi công cộng.

39 và ngồi chỗ tốt nhất trong các hội đường và chỗ danh dự trong các bữa tiệc.

40 những kẻ nuốt hết tài sản của những bà góa và những kẻ cầu nguyện với hình sự giả vờ lâu giờ. Những người này sẽ nhận bản án nặng nề hơn [sự xét xử nhiều hơn].

41 Khi đang ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng, Người cứ quan sát cách đám đông ném những đồng tiền vào trong thùng dâng cúng và nhiều người giàu cứ ném nhiều.

42 Sau khi đến, một bà góa nghèo đã ném vào hai đồng nhỏ, đó là những phần tư của đồng xư Rô-ma

43 và sau khi gọi các môn đệ đến, Đức Giê-su nói cùng họ: “Thầy bảo thật anh  em rằng bà góa nghèo này đã ném vào thùng dâng cúng nhiều hơn tất cả những người ném vào đó.

44 vì tất cả đã ném [vào đó] những thứ dư giả của họ, nhưng bà ấy từ sự túng thiếu của mình. Bà đã ném tất cả những cái bà có cho mạng sống của bà.

Bối cảnh

Đoạn Mc 12,38-44 là một trình thuật trích ra từ những trình thuật về kỳ giảng của Đức Giê-su tại Giê-ru-sa-lem (11,1 – 13,37). Bản văn này tiếp tục đề tài xung đột giữa nhóm kinh sư và Đức Giê-su, xuất hiện nhiều trong kỳ giảng tại Giê-ru-sa-lem. Trong những trình thuật trước đó, các kinh sư xuất hiện như những người chống đối Đức Giê-su (trừ Mc 12,28-34). Sau khi Đức Giê-su thanh tẩy đền thờ, các Thượng Tế và Kinh Sư đã tìm cách giết Đức Giê-su (Mc 11,8); Các Kinh Sư đến cùng với các Thượng Tế và Kỳ Mục nhằm chất vấn về quyền thanh tẩy Đền Thờ của Đức Giê-su (Mc 11,27). Sau khi Đức Giê-su kể dụ ngôn “người làm vườn nho phản chủ” (12,1-11), nhóm Thượng Tế, Kỳ Mục và Kinh Sư tìm cách bắt Người vì họ tin rằng Đức Giê-su ám chỉ họ (Mc 12,12). Trong câu chuyện này, Đức Giê-su dạy các môn đệ hãy coi chừng những thói xấu tỏ tường của các kinh sư. Việc các Kinh Sư nuốt hết tài sản của các bà góa, nối kết chặt chẽ với câu chuyện bà góa nghèo bỏ tiền vào thùng dâng cúng liền sau đó. Bà góa nghèo dâng cúng cách quảng đại, có mối liên hệ chặt chẽ với câu chuyện bà góa nghèo thành Sa-rép-ta trong sách Các Vua (1 V 17,1-16). Câu chuyện này được Đức Giê-su nhắc lại để lý giải tại sao những người Na-gia-rét thất bại trong việc đón tiếp Người (Lc 4,25-26). Các bà góa là những người mà dân Ít-ra-el phải quan tâm đến theo Luật Cựu Ước (Xh 22,22; Đnl 24,17; 24,19.20.21; 26,12; 27,19).

Cấu trúc

I. Lời cảnh báo về những tiêu cực của các Kinh Sư

(a) Những thói xấu của các Kinh Sư:

Hám danh: Thích/ đi quanh trong bộ áo dài

những lời chào; ngồi chỗ tốt nhất - chỗ danh dự (12,38-39)

Hám lợi: Nuốt hết tài sản của những bà góa (12,40a)

Giả hình: Làm bộ cầu nguyện lâu giờ (12,40b).

(b) Bản án: Sẽ nhận được bản án nặng hơn (12,40c).

II. Hai cách dâng tiền

Bối Cảnh: Đức Giê-su quan sát cách người ta bỏ tiền (12,41a)

(a) Nhiều người giàu cứ ném nhiều (12,41b).

(b’) Một bà góa nghèo đã ném vào hai đồng nhỏ (12,42)

(c) Bà góa đã ném vào thùng dâng cúng nhiều hơn tất cả (12,43)

(a’) Họ ném những thứ dư giả của họ (12,44a)

(b’) Bà góa: Từ sự túng thiếu

ném tất cả những cái bà có dành cho mạng sống của bà.

Một số điểm chú giải

1.     Hãy để ý các Kinh Sư[1]: Động từ Đức Giê-su dùng ở thể mệnh lệnh “βλέπετε” thường có nghĩa là “hãy nhìn, hãy quan sát, hãy chú ý”. Tuy nhiên, trong bối cảnh này rất có thể nghĩa phù hợp là “hãy coi chừng”, “hãy dè chừng”, bởi vì dường như các kinh sư chỉ được nhắc đến một cách gián tiếp, chứ không phải họ đang xuất hiện trước mặt các môn đệ. Mệnh lệnh “hãy coi chừng” được đặt trong bối cảnh một buổi dạy dỗ của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Đức Giê-su cũng dùng mệnh lệnh này trong bài giảng cánh chung, để kêu gọi các môn đệ cảnh giác để không ai dẫn họ đi lạc đường (Mt 24,4; Mc 13,15; Lc 21,8). Mệnh lệnh hãy coi chừng, hãy tỉnh thức còn được nhấn mạnh, vì lý do họ không biết khi nào thì thời điểm ấn định đến (13,33). Họ cũng được mời gọi “để ý đến điều họ nghe; với khối lượng họ dùng”, sẽ được đong cho họ và được thêm nữa (Mc 4,24). Trước đó, các môn đệ cũng được cảnh báo “hãy coi chừng men Pha-ri-sêu và Hê-rô-đê”. “Men” có thể cũng có nghĩa là những thói xấu của họ. Pha-ri-sêu cùng với các Kinh Sư bị Đức Giê-su khiển trách là những kẻ giả hình (Mt 23). Vua Hê-rô-đê cả là người độc ác, vì tham quyền lực chính trị mà sẵn sàng hạ sát các hài nhi vô tội từ Bê-lem và các vùng lân cận (Mt 2,16). Tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pa đã cho chém đầu Gioan Tẩy Giả, khi ông dám vạch tội loạn luân của nhà vua (Mt 14,1-12; Mc 6,17-29). Trong bối cảnh này, Đức Giê-su chỉ nhấn mạnh đến các Kinh Sư. Trước đó, không bao lâu Mác-cô cho biết, các Kinh Sư và các Thượng Tế tìm cách giết Đức Giê-su, sau khi Người thanh tẩy Đền Thờ và còn nói rằng họ đã biến nhà Cha của Người thành hang trộm cướp. Họ lại tìm cách bắt Đức Giê-su, sau khi Người kể dụ ngôn “những người làm thuê nổi loạn” (Mc 12,12). Trước đó, một vị Kinh Sư đã xác nhận rất hay câu trả lời của Đức Giê-su về điều răn trọng nhất. Ông đã khẳng định rằng “mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực” – “yêu người thân cận như chính mình” thì quý hơn mọi “của lễ toàn thiêu và hy lễ” (Mc 12,33). Tuy nhiên, mỉa mai thay, ở đây Đức Giê-su lại cho thấy những vị Kinh Sư có một lối thực hành ngược lại với xác tín của người Kinh Sư nọ.[2] Cũng phải lưu ý rằng những kết án trong đoạn này không phải áp dụng cho mọi kinh sư, không trừ một ai.[3] Việc đặt những suy nghĩ, quan điểm của Đức Giê-su về các Kinh Sư trong một buổi giảng dạy giúp độc giả hiểu rằng Đức Giê-su không có ý phê phán, chỉ trích các Kinh Sư cho bằng là dạy các môn đệ hãy tránh những thói xấu ấy khi họ trở thành những người đứng đầu các nhóm ki-tô hữu.

2.     Những người thích đi quanh trong bộ áo dài: Các Kinh Sư được Đức Giê-su mô tả như là “những người thích...”. Động từ “thích” gồm có bốn túc từ, phác họa bốn sở thích đặc trưng của những người Kinh Sư: (i) Đi quanh trong bộ áo dài; (ii) Lời chào nơi công cộng; (iii) Chỗ nhất trong các hội đường; (iv) Chỗ vinh dự trong các đám tiệc. Túc từ đầu tiên là một ngữ động từ “đi quanh trong bộ áo dài”. Động từ “περιπατέω” có nghĩa đầu tiên là đi quanh đó đây. Tuy nhiên, nó cũng là một động từ diễn tả “một lối sống, cách ăn nết ở”, hay “cách cư xử” của một người.[4] Đặc biệt, nó đi chung với động từ “thích” rõ ràng diễn tả một thói quen sống của các Kinh Sư chứ không phải một hành động trong một lúc. Họ thích “đi dạo quanh trong bộ áo choàng dài”. “Áo choàng dài” là áo được các thiên thần mang (Mc 16,5); Hay những tín hữu được tôn vinh mang (Kh 6,11; 7,9.13); Hoặc là áo chuyên biệt dành cho các Tư Tế và Kinh Sư.[5] Những chiếc áo này làm cho người ta nhận ra họ là những Kinh Sư. Chiếc áo này cũng có thể biểu lộ sự giàu có, quý phái. Vì vậy, “đi vòng vòng với chiếc áo như thế có thể phô bày một địa vị cao”.[6] Nó khác với chiếc “áo choàng” thường phổ biến mà anh mù Bartimaios mặc (ἱμάτιον = himation), chiếc áo mà anh đã vứt đi khi vừa nghe Đức Giê-su gọi (Mc 10,50); Cũng như khác với chiếc áo ngoài (himation) của Đức Giê-su, những chiếc áo mà quân lính lấy chia nhau sau khi đóng đinh Đức Giê-su (Ga 19,23). Những người Kinh Sư với thói quen đi dạo quanh với áo chuyên dụng như thế quả là một hình thức câu “view”, gây sự chú ý của mọi người. Trong Tin Mừng Mát-thêu, Đức Giê-su còn thêm rằng “họ làm mọi việc cốt cho thiên hạ thấy”, “đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài” (Mt 23,5).

3.     Những lời chào: Việc thích đi quanh trong bộ áo dài dành cho giới của mình, đồng nghĩa với việc thích được người ta nhìn thấy với ánh mắt kính trọng, ngưỡng mộ. “Lời chào” những nơi công cộng chính là mục đích mà họ nhắm đến. Có thể, một sự cúi đầu với sự tôn trọng, hay là một lời chào “rabbi” cũng làm cho các Kinh Sư cảm thấy vui lòng, nở mặt nở mày. Thực tế, Đức Giê-su cũng nói là các Kinh Sư thích được người khác gọi là ‘rabbi’. Ngược lại, Đức Giê-su dạy các môn đệ rằng “đừng để ai gọi minh là ‘rabbi’, vì họ chỉ có một Thầy, còn tất cả đều là anh em với nhau” (Mt 23,7-8). Theo truyền thống Do Thái, lời chào được bắt đầu bởi người thấp hơn về cấp bậc trong việc học hỏi Lề Luật.[7] Những Kinh Sư có vẻ tìm kiếm những lời chào tôn vinh bản thân mình.

4.     Ngồi chỗ tốt nhất … chỗ danh dự: Hai túc từ tiếp theo của động từ thích diễn tả hai vị trí quan trọng, và danh dự nhất trong hai nơi đặc trưng: Một là vị trí tôn giáo trong nơi thờ phượng; hai là vị trí dành cho địa vị xã hội. “Vị trí nhất” trong các Hội Đường mang lại cho các Kinh Sư nhìn thấy của tất cả mọi người, cùng với sự tôn trọng địa vị của trí thức tôn giáo và chức sắc tôn giáo của họ. Mục đích thờ phượng với Chúa là trung tâm đã bị chệch hướng. Đặt mình làm trung tâm, đứng đầu trong các hội đường, nghĩa là biến Chúa thành thứ yếu, trong nơi mà đáng ra phải dùng để tôn vinh Chúa. Tương tự, ngồi ở “chiếu trên”, “mâm cao”, vừa được ăn ngon, vừa được vinh dự, được nở mặt nở mày. Có câu “một miếng giữa làng bằng một sàng trong bếp”. Đó là miếng ăn vinh dự, khẳng định địa vị xã hội của một người. Cách bố trí chỗ ngồi này gợi lên một văn hóa bữa ăn trong thế giới cổ xưa, theo đó, chỗ ngồi được bố trí theo địa vị xã hội.[8]

Với bốn túc từ đi kèm với động từ “yêu thích”: “Dạo quanh trong bộ áo dài”; “Lời chào hỏi nơi công cộng”; “Chỗ nhất trong Hội Đường”; “Chỗ danh dự trong các đám tiệc”, Đức Giê-su cho thấy cách rõ ràng sống động sự hám danh của những kinh sư trải rộng trong mọi lãnh vực của cuộc sống, trước mọi hạng người, từ chợ búa, đến những nơi tiệc tùng và nơi thờ tự. Đức Giê-su dạy các môn đệ rằng: Khi đi dự tiệc thì hãy chọn chỗ ngồi rốt hết, chỗ ngồi ít vinh dự nhất. Lý do là lỡ có người nào cao trọng hơn mình cùng hiện diện thì mình bớt xấu hổ. Nếu không có ai quan trọng hơn mình thì mình lại được người ta ngưỡng mộ, tôn vinh khi được chủ nhà mời lên trên (Lc 14,7-11). Đó chỉ là cách cư xử khôn khéo để tránh bị bẽ mặt trong một bữa tiệc. Cái quan trọng hơn, và là cốt lõi cho việc chọn chỗ cuối chính là triết lý “kẻ lớn hơn phải trở thành kẻ rốt hết và là tôi tớ của mọi người, cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống vì muôn người” (Mc 10,43-45). Còn về vị trí nhất trong Hội Đường, Đức Giê-su dạy chắc môn đệ rằng “khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6,6).

5.     Những kẻ nuốt hết tài sản (οἱ κατεσθίοντες): Ngoài hám danh, các Kinh Sư cũng là những kẻ hám lợi. Đức Giê-su dùng một động từ rất mạnh để diễn tả căn tính của các Kinh Sư. Nó không phải là một động từ mà là một danh động từ với mạo từ xác định, diễn tả một loại người. Các Kinh Sư được gọi là “những người nuốt hết tài sản”. Họ không đơn giản chỉ là những người làm hành động “nuốt hết tài sản”, mà họ “là” “những người nuốt hết tài sản”. Đó là bản chất của họ chứ không chỉ là một hành động thêm vào cuộc đời họ. Động từ làm nên “danh động từ” này là một động từ ghép: κατα + έσθω/ἐσθίω (kata + esthio), có nghĩa rất mạnh: “Thiêu rụi”, “ăn hết”, “nuốt”, thậm chí là “cướp”.[9] Danh từ “τὰς οἰκίας = tas oikias” có nghĩa đen là các ngôi nhà và những khối tài sản. Nó cũng có nghĩa bóng là “cơ thể”, “thân thể” của một người như là ngôi nhà của linh hồn. Trong ngữ cảnh này, có thể nên hiểu là “những ngôi nhà” và “những khối tài sản”, mà chính yếu là những “ngôi nhà” vì bà góa thường có ít tài sản như sẽ thấy sau.

6.     Những bà góa: Các “bà góa” thường được Cựu Ước nhắc đến như là những người nghèo khổ và bất hạnh nhất trong cộng đồng Do Thái.[10] Họ thường được xếp chung với một nhóm người đau khổ khác, là “các cô nhi” và “ngoại kiều” và luôn được Thiên Chúa bênh vực, chở che. Trong bộ Luật Gao Ước, Đức Chúa căn dặn dân Ít-ra-el “không được ức hiếp cô nhi, quả phụ” (Xh 22,21). Hình phạt dành cho những người ức hiếp cô nhi, quả phụ là họ sẽ bị “gươm chém giết” và “vợ của” họ sẽ trở thành “góa bụa” và “những đứa con” của họ sẽ trở thành “cô nhi” (Xh 22,22). Sách Đệ Nhị Luật cũng có nhiều quy định liên quan đến cách đối xử với các góa phụ: “Anh chị em không được giữ áo của người góa bụa làm đồ cầm” (Đnl 24,17); “Khi anh chị em gặt lúa trong ruộng mình mà bỏ sót một bó lúa trong ruộng thì không được quay lại lấy; bó lúa ấy dành cho quả phụ, ngoại kiều và cô nhi” (Đnl 24,19); Không được quay lại tìm trái ô-liu, hay trái nho sót vì những trái đó “dành cho ngoại kiều, cô nhi và quả phụ” (Đnl 24,20-21). Dân Ít-ra-el còn được dạy là phải trích một phần hoa lợi cho ngoại kiều, cô nhi và quả phụ (Đnl 26,12). Người làm thiệt hại đến quyền lợi của ngoại kiều, cô nhi và quả phụ là người đáng bị nguyền rủa (Đnl 27,19). Trong Tân Ước, Đức Giê-su đã thương đến bà góa thành Na-in có đứa con trai duy nhất bị chết. Người đã chạnh lòng thương, an ủi rằng “bà đừng khóc nữa” và rồi, Người làm cho con trai bà sống lại (Lc 7,11-17). Hơn ai hết, những Kinh Sư phải hiểu rõ những quy định của Torah liên quan đến những sự ưu ái và bác ái dành cho nhóm người nghèo hèn, yếu đuối này. Vậy mà, Đức Giê-su lại mô tả các Kinh Sư như là những người “nuốt sạch”, hay “cướp” nhà của các “bà góa”. Thật đáng xấu hổ và không thể chấp nhận được. Là những bậc thầy về Lề Luật, họ chẳng những phải là những người đi đầu trong việc thi hành Lề Luật, cụ thể là những điều khoản liên quan đến các quả phụ, mà còn phải cổ vũ mọi người thi hành Luật này. Tuy nhiên, như Đức Giê-su đã nói: Họ “ngồi trên tòa Mô-sê mà giảng dạy”, nhưng “họ nói mà không làm”, “không động ngón tay vào” (x.Mt 23,3-4)

7.     Những kẻ cầu nguyện bằng hình thức giả vờ lâu giờ”: Như đã nói trên, mục đích của mọi hành động của các Kinh Sư là “cốt để người ta thấy” (Mt 23,5). Bằng chứng cụ thể là họ “ những người cầu nguyện với sự giả vờ lâu dài”. Danh động từ “những người cầu nguyện với sự giả vờ lâu” song song với danh động từ “nuốt sạch nhà cửa”, diễn tả căn tính thứ hai của những người Kinh Sư. Không phải họ có hành động cầu nguyện với sự giả vờ lâu, nhưng họ “”, “những người cầu nguyện với sự giả vờ lâu giờ”. Danh từ “sự giả vờ” (πρόφασις = prophaxis) đối lại với danh từ “sự thật”. Sự “giả vờ” được bổ nghĩa bởi tính từ “lâu giờ”, “thời gian dài”. Tính từ này có thể hiểu là “sự giả vờ” kéo dài trong một thời gian dài; hoặc là trong một lần cầu nguyện, họ kéo dài thời gian cầu nguyện cách giả vờ, để người ta thấy họ siêng năng cầu nguyện.[11] Giả vờ trong cầu nguyện là lừa dối trước nhất là Thiên Chúa, kế đến là lừa dối chính mình và sau cùng là lừa dối người khác. Cùng mới sở thích chọn chỗ nhất trong các hội đường, căn tính “cầu nguyện với sự giả vờ lâu dài” diễn tả một hình thức thờ phượng lệch lạc của các Kinh Sư. Mục tiêu các Kinh Sư nhắm đến rất có thể chỉ là “lừa dối” người khác. Người bị họ lừa dối đầu tiên nhất trong bối cảnh này là các “bà góa”, những con người hiền lành, chất phát, dễ tin vào người khác, đặc biệt là những người có địa vị tôn giáo. Căn tính “cầu nguyện với sự giả vờ lâu dài” cũng cố, hỗ trợ cho căn tính “nuốt hết tài sản của các bà góa”. Có thể những Kinh Sư không dùng bạo lực để “cướp” tài sản của các “quả phụ”, nhưng cách sống giả vờ đạo đức của họ làm cho các “quả phụ” tự nguyện dâng cúng chính tài sản của mình cách mù quáng.[12]

8.     Sự kết án nhiều hơn” (κρίμα περισσότερον): Với vô số những thói xấu, cũng như những hành động bất chính biểu lộ căn tính đồi bại của họ, Đức Giê-su dự đoán một bản án “nghiêm khắc” dành cho họ. Bản án dành cho những người tự đề cao mình, tự nâng mình lên là “sẽ bị hạ xuống” (Mt 23,12). Bản án dành cho những người “nuốt hết tài sản của các bà góa” là “họ sẽ bị nguyền rủa” (Đnl 27,19); Vợ con của những người làm hại đến các quả phụ cũng sẽ trở thành các cô nhi và quả phụ (Đnl 22,22). Bản án nặng nề mà Đức Giê-su nói là các Kinh Sư sẽ nhận, có thể ám chỉ đến bản án nặng nề trong cuộc xét xử cuối cùng.[13] Bản án nặng nề dành cho những Kinh Sư gợi nhớ đến lời của ngôn sứ Malakhi nói về sự kết án của Đức Chúa vào thời cánh chung: “Đức Chúa sẽ vào trong đền thờ của Người (Mlk 3,1); công bố sự xét xử (Mlk 3,2-3) và kết án những ai áp bức quả phụ (Mlk 3,5), người nghèo và ngoại kiều. Điều này cho thấy rằng những sự kiện cuối cùng trong đền thờ, giới thiệu sự can thiệp cuối cùng của Đức Chúa trong ngày của Đức Chúa (Mlk 3,2).[14]

9.     Người cứ nhìn (ἐθεώρει): Hành động quan sát của Đức Giê-su được diễn tả bằng một động từ được dùng ờ thì chưa hoàn thành (ἐθεώρει: đang quan sát, cứ quan sát), để diễn tả một hành động kéo dài. Động từ này vừa có nghĩa là nhìn, quan sát vừa có nghĩa là nhận thức, hiểu, biết. Rõ ràng, hành động quan sát của Đức Giê-su trong tư thế ngồi và diễn ra lâu dài không chỉ có nghĩa là nhìn mà còn là hiểu biết và trải nghiệm cách thức người ta bỏ tiền vào thùng dâng cúng.

10.  Nhiều người giàu cứ bỏ nhiều … Một bà góa nghèo đã bỏ vào hai đồng nhỏ: Đức Giê-su đã quan sát lâu. Người nhìn thấu lòng người nên Người mới cảm nhận một cách tinh tế có hai loại người với hai thái độ trái ngược nhau khi bỏ tiền vào thùng dâng cúng[15]: (1) Nhiều người giàu; (2) Một bà góa nghèo. Có ít nhất bốn cặp phạm trù đối lập giữa nhóm người giàu và bà góa nghèo. (i) Nhiều đối lại với một; (ii) Giàu đối lại với nghèo; (iii) Nhiều đối lại với hai đồng xu nhỏ; (iv) Hành động “bỏ vào” (nghĩa đen quăng, ném) của nhiều người giàu được diễn tả bằng động từ dùng ở thì chưa hoàn thành, một hành động đang tiếp diễn, kéo dài, trong khi đó hành động của một bà góa nghèo được diễn tả bằng một động từ dùng ở thì aorist, diễn tả một hành động xảy ra một lần trong quá khứ và đã chấm dứt. Bà góa này được mô tả kỹ lưỡng hơn bằng cảnh bà “xuất hiện”, “đến” (ἐλθοῦσα): “Sau khi xuất hiện, một bà góa nghèo đã bỏ vào hai đồng xu”. Cụm từ “hai đồng xu nhỏ” có giá trị tương đương với một “quadrans” Rô-ma, mệnh giá nhỏ nhất của những đồng xu Rô-ma. Một quadrans tương đương với một phần tư của đồng tiền bằng đồng của Rô-ma (được gọi là “as”).[16] Giữa dòng người giàu tấp nập, sự tiến đến của người phụ nữ nghèo này dường như tạo ra sự tương phản, làm cho Đức Giê-su để ý. Sự giàu hay nghèo có lẽ có thể nhìn thấy nơi cách ăn mặc. Có điều khó hiểu là làm sao Đức Giê-su lại biết được bà này là một bà góa. Phải chăng bà này là một trong những bà góa mà Đức Giê-su biết? Phải chăng bà này là một trong những bà góa bị những người Kinh Sư nuốt hết tiền? Dường như Đức Giê-su rất rõ về gia cảnh của bà.

11.  Nhiều hơn: Nhìn vào cấu trúc của phần thứ hai (x. phần cấu trúc), chúng ta có thể thấy được rằng lời dạy của Đức Giê-su về cách bỏ tiền của bà góa nghèo chính là trung tâm của phần này. Theo đó, hành động của bà góa này chính là trung tâm của sự quan sát của Đức Giê-su. Dù cho bà chỉ “bỏ hai đồng xu nhỏ”, một con số không đáng kể gì so với số “nhiều” của những người giàu, Đức Giê-su vẫn công bố bằng một cách nói long trọng: “Thầy bảo thật anh em, bà góa này đã bỏ vào thùng dâng cúng nhiều hơn tất cả những người bỏ vào” (Mc 12,43). Dĩ nhiên, Đức Giê-su không tỏ ý khinh chê sự dâng cúng của những người giàu. Người chí muốn “bầu chọn” ai là người đã dâng cúng nhiều hơn hết. Tiêu chuẩn mà Đức Giê-su dựa vào để bầu chọn không phải là số lượng mà một người cho đi, nhưng là số lượng còn lại sau khi cho đi.[17]

12.  Những thứ dư giả … sự túng thiếu… tất cả những cái bà có: Đức Giê-su giải thích lý do cho tuyên bố cách long trọng của mình về cách bỏ tiền của bà góa nghèo. Ở lý do này chúng ta lại thấy những cặp phạm trù đối lập khác được đánh dấu bằng liên từ “nhưng” (δὲ): “Tất cả” đối lại với “bà ấy”; cụm giới từ “từ sự dồi dào” (dư thừa) đối lại với “từ sự túng thiếu”. Hành động “bỏ vào” của bà này được Đức Giê-su mô tả cách chi tiết, phong phú: “Nhưng bà này, từ sự túng nghèo của bà, đã bỏ vào tất cả những gì bà có, tất cả tài sản của bà”. Lại một lần nữa, độc giả không khỏi ngạc nhiên tự hỏi rằng: “Làm sao Đức Giê-su biết bà này đã bỏ hết tất cả những gì bà có?” Phải chăng đây là kiến thức thần linh? Hay Đức Giê-su đã biết bà này cách cá nhân?[18]

13.  Mạng sống hay tài sản? Động từ “bỏ vào” diễn tả hành động của bà góa nghèo, có hai túc từ “bà đã bỏ (1) Tất cả những gì mình có, (2) Tất cả tài sản (τὸν βίον) của mình”. Danh từ “βίος = bios” có hai nghĩa căn bản: (i) Sự sống, mạng sống (Lc 8,14; 1 Tm 2,2; 2 Tm 2,4; 1 Pr 4,3); (ii) Những thứ cần để duy trì sự sống (tài sản) (Mc 12,44; Lc 15,12.30; 21,4). Túc từ thứ hai có thể hiểu là “tất cả tài sản của bà”, hoặc là “tất cả mạng sống” của bà. Nghĩa thứ hai có vẻ hợp lý hơn, nhưng nghĩa thứ hai cũng bao hàm nghĩa thứ nhất. Nếu cho đi hết “tất cả những thứ cần để duy trì mạng sống” thì mạng sống sẽ bị lâm nguy. Nghĩa là cho cả mạng sống. Hình ảnh của bà góa này vừa cho thấy chân dung đích thực của “người môn đệ”, người dám bỏ mọi sự mà theo Chúa (Mc 10,21.28); vừa là hình ảnh tiên trưng cho mầu nhiệm Con Thiên Chúa, hiến mình làm giá chuộc muôn người (Mc 10,45).[19]

Bình luận tổng quát

Câu chuyện về “điều răn quan trọng nhất” (Mc 12,28-34) dường như là một bối cảnh rất cần thiết để đọc hai câu chuyện chúng ta đang bàn: Câu chuyện liên quan đến những thói xấu của các Kinh Sư (12,38-40) và câu chuyện về thái độ dâng cúng trong Đền Thờ (12, 41-44). Trong câu chuyện liên quan đến điều răn trọng nhất, người ta đã nghe một vị Kinh Sư thông thái khẳng định hùng hồn rằng: “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu mến người thân cận như chính mình là điều quý hơn mọi của lễ toàn thiêu và hy lễ” (12,33). Hơn nữa, Đức Giê-su lại xác nhận cách tích cực rằng: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa nữa đâu” (12,34). Tuy nhiên, ở đây chúng ta lại thấy Đức Giê-su đưa ra một lời cảnh báo về cách sống phản Tin Mừng, phản điều răn trọng nhất của các Kinh Sư. Họ hám danh qua việc đi vòng với trong tu phục chức sắc, nhằm tìm kiếm sự ngưỡng mộ, sự tôn vinh, và lời chào của những người dân. Khi đến nơi tiệc tùng hoặc đi ăn ở nơi công cộng, họ đều muốn tôn vinh chính mình bằng cách chọn chỗ nhất trong các bữa tiệc. Họ thích “ăn trên ngồi trốc” và thích được người ta nhìn thấy, nhìn nhận địa vị. Đáng ngại hơn, khi đi vào hội đường, họ lại chú ý đến vị trí vinh dự của riêng họ, thay vì để ý đến Chúa, dành tâm trí để nguyện cầu. Hơn nữa, họ còn là “những người cầu nguyện với sự giả vờ lâu dài”. Làm như thế họ lừa dối chính Chúa, chính bản thân họ và lừa dối người khác. Trong cách đối nhân xử thế với người thân cận. Họ lỗi phạm rất nặng trong việc “nuốt hết nhà cửa của các bà góa”. Các “bà góa” là những người nghèo, khổ nhất trong xã hội. Họ được Thiên Chúa yêu thương và bảo vệ cách đặc biệt. Hành động “nuốt hết tài sản của các bà góa” cho thấy căn tính đê tiện và hèn hạ của những người hiểu biết Luật Chúa. Nói chung, những người Kinh Sư thất bại toàn tập trong việc thực thi điều răn trọng nhất. Họ thiếu sự chân thành trong đời sống cầu nguyện và làm nguy hại đến mạng sống của những người thân cận. Họ sẽ bị kết án nặng nề trong ngày sau hết, vì thái độ sống thiếu chân thành với Chúa và gây đau khổ cho những người cùng khổ. Song song với hình ảnh của những người Kinh Sư là hình ảnh những người giàu có. Họ dường như cũng thiếu thành tâm trong thái độ dâng cúng. Họ chỉ bỏ vào thùng dâng cúng từ sự giàu có và dư giả của họ.

Trái ngược lại với hình ảnh những Kinh Sư và người giàu, bà góa nghèo, nổi lên như một ngôi sao sáng. Bà được phác họa như một hình ảnh một người đau khổ, cô đơn, một mình lạc lõng giữa đám người giàu. Số tiền bà bỏ ra chẳng đáng gì so với số tiền lẻ của những người giàu. Tuy nhiên, Đức Giê-su lại khẳng định “bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng dâng cúng nhiều hơn tất cả”. Đức Giê-su đo lường bằng tấm lòng, lòng quảng đại chứ không phải là số lượng tài sản được cho đi. Quả thế, bà đã không ngần ngại dâng hiến hết, tất cả những gì bà có để nuôi thân. Điều này ngụ ý rằng bà sẵn sàng dâng cả mạng sống mình cho Chúa mà chẳng tiếc xót gì. Bà góa này quả là mẫu hình lý tưởng về một người thực hiện điều răn trọng nhất một cách triệt để. Bà đã yêu mến Chúa ‘hết (ὅλος) lòng, hết (ὅλος) linh hồn, hết (ὅλος) trí khôn và hết sức lực”. Tính từ “ὅλος” (tất cả) cũng với tính từ “πάντα” (tất cả) được dùng cho hành động dâng hiến của bà góa cách nào đó phảng phất tính từ “tất cả” trong điều răn “yêu Chúa”.

Còn đó, trong xã hội này, những nhà lãnh đạo quốc gia, hội đoàn; lãnh đạo tôn giáo, lãnh đạo tinh thần, hám danh, hám lợi, đạo đức giả, nói ngon, nói ngọt nhằm “nuốt hết tài sản của các bà góa nghèo”. Còn đó trong xã hội những người giàu có giữ khư khư khối tài sản không muốn đóng góp sẻ chia với những dự án phát triển nhân sinh, không muốn đóng góp cho người nghèo, cho các cơ sở từ thiện, tôn giáo; Hoặc còn đó những người đóng góp vì danh vì lời, “thả con tép bắt con tôm”, để được ghi danh, nêu tên trong cộng đồng. Cũng còn đó những con người thực tâm, luôn sẵn sàng trao ban hết tất cả những gì mình có, mà chẳng màng đến danh lợi gì cho bản thân mình. Thái độ dâng cúng của bà góa nghèo đã cho thấy rằng không ai quá nghèo để không thể dâng hiến điều giá trị cho Chúa. Tiếc thay, số người sống chân thành, thực tâm thì quá ít so với lượng người sống ảo, tìm hư danh, và kiếm chác lợi lộc trên người khác thì quá nhiều, giống như hình ảnh “một’ bà góa nghèo “lọt thỏm” giữa đám người giàu trong quang cảnh dâng cúng, “mất hút” giữa nhóm Kinh Sư đông đảo dạo quanh trong bộ sắc phục quý phái.

Hành động “dâng hết tất cả những gì mình có để sống” của bà góa này, dĩ nhiên là một hình ảnh đẹp về lòng quảng đại. Tuy nhiên, liệu Đức Giê-su, hay cơ cấu Giáo Hội nào lại chấp nhận một bà góa làm như thế hay không? Đó vẫn là một vấn đề bỏ ngõ.[20] Có thể Mác-cô vừa muốn ca tụng tấm lòng quảng đại của bà góa nghèo, vừa muốn vạch trần một hệ thống tôn giáo bị tục hóa, chỉ còn hình thức bề ngoài, mà không có chiều sâu của sự thành kính. Đền thờ đã bị biến thành “hang trộm cướp”. Các chức sắc (kinh sư) thì trở thành những người “nuốt hết tài sản của các bà góa” và “những người cầu nguyện với sự giả vờ lâu dài” (nói theo ngôn ngữ giới trẻ là “diễn sâu”). Một hệ thống tôn giáo sa đọa, suy tàn đã làm cho làm cho những bà góa phải cho hết cả mạng sống của mình, và dẫn đến việc đền thờ bị quân đội tàn phá bình địa năm 70.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD.



[1]“In NTtimes scribes were not only proficient in reading and writing contracts and other administrative documents but also knowledgeable in Jewish law and so suited to take an active role in Jewish society. Since the Torah was the basic law for the Jewish people, the scribes combined in themselves the roles of lawyer and theologian.” [J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2002), 362].

[2] J.E.A. Chiu, “Mark”, The Paulsist Biblical Commentary (ed. R.J. Clifford et al.) (New York 2018) 1014.

[3] X. J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 365.

[4] BDAG, περιπατέω”.

[5] BDAG, “στολή”.

[6] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 583.

[7] “The respectful greeting was valued not only for its own sake but also for the glory it conferred on the recipient in the eyes of bystanders” [J. Marcus, Mark 8–16. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) XXVII A, 852].

[8] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark, 583.

[9] BDAG, “κατέσθω”.

[10] “Some Jewish widows in the first century ce were no doubt poor and powerless, as were some of the widows in early Christian communities” (A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark, 584).

[11] “In Matt 6:5, the “pretenders,” “dissemblers,” or “hypocrites” (οἱ ὑποκριταί) are criticized for praying publicly, in synagogues and on street corners, in order to impress people. The “hypocrite” here is “the ‘typical’ religious practitioner whose external performance sharply conflicts with fundamental religious and moral principles.” (A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark, 585).

[12] “The Lawyers with a reputation for importance and for piety might more easily have themselves appointed as trustees over the estates of widows and so gain a share in their estates”; “Then for using their piety as a cloak for making a profit on vulnerable members of society” [J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 363-364].

[14] J.E.A. Chiu, “Mark”, The Paulsist Biblical Commentary (ed. R.J. Clifford et al.) (New York 2018) 1014.

[15] “Exegetes usually interpret our verse as a reference to one of the thirteen trumpet-shaped offering boxes that stood in the Women’s Court, six of which were designated for freewill offerings” (J. Marcus, Mark 8–16, 857-858).

[16] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark, 589.

[18] J. Marcus trích lại Nineham cho rằng trừ khi Đức Giê-su có khả năng thấu thị, không thể giải thích làm sao Đức Giê-su biết (a) Bà này góa chồng, (b) Số tiền bà này ném vào thùng, (c) Số tiền này là tất cả những gì bà có để sống (J. Marcus, Mark 8–16. A New Translation with Introduction and Commentary, 859).

[19] Ibid.

[20] X. J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2002) 365; Some commentators (A.Wright; Sugirtharajah) recently “argue that Jesus never explicitly praises the widow’s donation and that the apparent encomium is in fact a lament over a foolish deed” (J. Marcus, Mark 8–16, 861).