Friday, 10 September 2021

CỨU-PHÁ HỦY, PHÁ HỦY-CỨU. Chú giải Tin Mừng CN XXIV TN B (Mc 8,27-35)

Bản Văn và Dịch Sát Nghĩa

Hy Lạp

Việt

27  Καὶ ἐξῆλθεν Ἰησοῦς καὶ οἱ μαθηταὶ αὐτοῦ εἰς τὰς κώμας Καισαρείας τῆς Φιλίππου· καὶ ἐν τῇ ὁδῷ ἐπηρώτα τοὺς μαθητὰς αὐτοῦ λέγων αὐτοῖς· τίνα με λέγουσιν οἱ ἄνθρωποι εἶναι;

 28 οἱ δὲ εἶπαν αὐτῷ λέγοντες [ὅτι] Ἰωάννην τὸν βαπτιστήν, καὶ ἄλλοι Ἠλίαν, ἄλλοι δὲ ὅτι εἷς τῶν προφητῶν.

 29 καὶ αὐτὸς ἐπηρώτα αὐτούς· ὑμεῖς δὲ τίνα με λέγετε εἶναι; ἀποκριθεὶς Πέτρος λέγει αὐτῷ· σὺ εἶ χριστός.

 30 καὶ ἐπετίμησεν αὐτοῖς ἵνα μηδενὶ λέγωσιν περὶ αὐτοῦ.

 31 Καὶ ἤρξατο διδάσκειν αὐτοὺς ὅτι δεῖ τὸν υἱὸν τοῦ ἀνθρώπου πολλὰ παθεῖν καὶ ἀποδοκιμασθῆναι ὑπὸ τῶν πρεσβυτέρων καὶ τῶν ἀρχιερέων καὶ τῶν γραμματέων καὶ ἀποκτανθῆναι καὶ μετὰ τρεῖς ἡμέρας ἀναστῆναι·

 32  καὶ παρρησίᾳ τὸν λόγον ἐλάλει. καὶ προσλαβόμενος Πέτρος αὐτὸν ἤρξατο ἐπιτιμᾶν αὐτῷ.

 33 δὲ ἐπιστραφεὶς καὶ ἰδὼν τοὺς μαθητὰς αὐτοῦ ἐπετίμησεν Πέτρῳ καὶ λέγει· ὕπαγε ὀπίσω μου, σατανᾶ, ὅτι οὐ φρονεῖς τὰ τοῦ θεοῦ ἀλλὰ τὰ τῶν ἀνθρώπων.

 34 Καὶ προσκαλεσάμενος τὸν ὄχλον σὺν τοῖς μαθηταῖς αὐτοῦ εἶπεν αὐτοῖς· εἴ τις θέλει ὀπίσω μου ἀκολουθεῖν, ἀπαρνησάσθω ἑαυτὸν καὶ ἀράτω τὸν σταυρὸν αὐτοῦ καὶ ἀκολουθείτω μοι.

 35 ὃς γὰρ ἐὰν θέλῃ τὴν ψυχὴν αὐτοῦ σῶσαι ἀπολέσει αὐτήν· ὃς δ᾽ ἂν ἀπολέσει τὴν ψυχὴν αὐτοῦ ἕνεκεν ἐμοῦ καὶ τοῦ εὐαγγελίου σώσει αὐτήν.

36  τί γὰρ ὠφελεῖ ἄνθρωπον κερδῆσαι τὸν κόσμον ὅλον καὶ ζημιωθῆναι τὴν ψυχὴν αὐτοῦ;

 37  τί γὰρ δοῖ ἄνθρωπος ἀντάλλαγμα τῆς ψυχῆς αὐτοῦ;

 38  ὃς γὰρ ἐὰν ἐπαισχυνθῇ με καὶ τοὺς ἐμοὺς λόγους ἐν τῇ γενεᾷ ταύτῃ τῇ μοιχαλίδι καὶ ἁμαρτωλῷ, καὶ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου παισχυνθήσεται αὐτόν, ὅταν ἔλθῃ ἐν τῇ δόξῃ τοῦ πατρὸς αὐτοῦ μετὰ τῶν ἀγγέλων τῶν ἁγίων.

 (Mk. 8: 27-38 BGT)

27 Đức Giêsu và các môn đệ của Người đi vào những làng Kaisarea của Philippos. Và trên đường Người cứ hỏi các môn đệ của Người, nói rằng: “Người ta nói Ta là ai?”

28 Họ trả lời Người, nói rằng: “Gioan Tẩy Giả, và những người khác Êlia, rồi những người khác nữa rằng một trong các ngôn sứ.

29 Rồi Người cứ hỏi họ: “Còn anh em nói Ta là ai? Đáp trả, Phêrô nói cùng Người: “Thầy là Đấng Kitô

30 Rồi Người đã cảnh báo họ để họ không nói vói ai về Người

31 Và Người bắt đầu dạy họ rằng nhất thiết Con Người phải đau khổ nhiều và bị các kỳ mục và các thượng tế và kinh sư nộp và bị giết chết và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy.

32 Người cứ nói lời ấy một cách thẳng thắn rõ ràng, và Phêrô đưa người ra riêng và bắt đầu khiển trách Người

33 Nhưng khi quay lại và nhìn các môn đệ của Người, Người khiển trách Phêrô và nói: “Đi ra phía sau Thầy, Satan, vì đó không phải là suy nghĩ của Thiên Chúa nhưng là của người ta.

34 Rồi, sau khi gọi đám đông cùng với các môn đệ của Người lại, Người nói cùng họ nếu ai muốn theo sau Tôi thì, hãy từ bỏ chính mình và hãy vác lấy thập giá của mình và hãy theo Tôi.

35 Người muốn cứu mạng sống của mình sẽ phá hủy nó; Còn người sẽ phá hủy mạng sống mình vì Tôi và Tin Mừng thì sẽ cứu được nó.

36 một người sẽ được lợi ích gì nếu đạt được cả thế giới nhưng đánh mất mạng sống của mình.

37 Người ta sẽ trao điều gì để đổi lại mạng sống của mình?

38 nếu ai xấu hổ vì Tôi và những lời của Tôi trong thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, Con Người cũng sẽ xấu hổ vì người ấy khi Người đến trong vinh quang của Chúa Cha cùng với các sứ giả thánh.

 


Bối Cảnh

Trong bối cảnh chung của toàn bộ Tin Mừng Máccô Mc 8,27-35 được xem như là đoạn trung tâm của Tin Mừng. Nếu xem trình thuật về sứ vụ công khai của Đức Giêsu như là hai mái nhà thì đoạn văn này chính là cái “kèo” chính, điểm giao nhau giữa hai mái nhà. Tin Mừng Máccô được khởi đầu bằng giới thiệu rằng: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”. Trong câu giới thiệu này, độc giả có thể nhận ra 3 danh xưng của nhân vật chính của câu chuyện Tin Mừng: Đức Giêsu, Đấng Kitô, và Con Thiên Chúa. Đức Giêsu là một tên gọi mà người Do Thái đương thời ai cũng biết. Họ biết đến Người như là Giêsu Nadarét, hay chàng thợ mộc Giêsu (Mc 6,3).[1] Dĩ nhiên, để hiểu rằng Người là Đấng Kitô, và nhất là “Con của Thiên Chúa” không phải là chuyện dễ dàng. Bằng chứng là trong Tin Mừng, không phải ai cũng hiểu, và ai cũng tin được. Tin Mừng sẽ từng bước chứng minh điều này cho dân chúng đương thời, cho các môn đệ, và cho độc giả qua mọi thời đại rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa. Chương 8 là chương giữa của Tin Mừng Máccô, gồm có 16 chương. Từ chương đầu tiên đến chương 8, Đức Giêsu đã làm đủ loại phép lạ và giảng dạy lời có uy quyền, để bày tỏ thân phận đích thực của mình. Đến giữa Tin Mừng, Đức Giêsu mới thăm dò, kiểm tra xem dân chúng và chính các môn đệ hiểu gì về Người. Có hai luồng tư tưởng khác biệt nhau rõ rệt: (i) Đám đông đoán chừng Người là Gioan Tẩy Giả, Êlia, hay một trong cách ngôn sứ; (ii) Đại diện các môn đệ, đã nói đúng rằng “Thầy là Đấng Kitô” (đúng như lời tựa của Tin Mừng). Tuy nhiên, phải hiểu thế nào về Đấng Kitô, và phải hiểu Người cũng là Con Thiên Chúa thì từ đoạn này (Mc 8,27-35), Đức Giêsu cần phải dạy các môn đệ nhiều hơn nữa. Từ đoạn này cho đến lúc bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giêsu dạy cho các môn đệ biết về thân phận Đấng Kitô chịu đau khổ. Trong bối cảnh trực tiếp đoạn văn này nằm ngay sau đoạn nói về phép lạ chữa lành người mù ở Bếtsaiđa. Trong phép lạ này, có hai giai đoạn chữa lành anh mù: (i) Anh thấy người ta trông như cây cối, họ đi đi lại lại (8,24); (ii) Anh trông rõ và khỏi hẳn; anh thấy tỏ tường mọi sự (8,25). Hai giai đoạn này có thể tượng trưng cho hai giai đoạn Đức Giêsu mạc khải (mở mắt) cho các môn đệ và dân chúng thấy Người cách tỏ tường. Trước phép lạ này, Đức Giêsu đã quở trách các môn đệ rằng: “Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư?” (8,18). Sau trình thuật về tuyên xưng của Phêrô, kèm theo tiền báo và dạy về Thương Khó – Chết – Phục Sinh, Đức Giêsu “Biến Hình” trên núi cao (9,2-8) nhằm bày tỏ căn tính của mình trước mắt các Tông Đồ. Lời tiền báo về mầu nhiệm Khổ nạn – Chết – Phục Sinh có liên hệ chặt chẽ với hai lần tiến báo tiếp theo với cùng một nội dung trong 3 chương liên tiếp (8,27-30; 9,30-32; 10;32-34). Cả 3 Tin Mừng Nhất Lãm đều ghi lại 3 lần tiền báo như thế, nhưng chỉ trong Máccô độc giả mới thấy nhịp độ dày đặc và dồn dập của thông diệp quan trọng này. Lời tiền báo này sẽ được hiện thực hóa trong trình thuật về cuộc Thương Khó – Tử Nạn của Đức Giêsu.

Cấu trúc

Ngoài phần bối cảnh, đoạn Mc 8,27-35 được chia làm hai phần khá rõ. Phần I: là câu hỏi và giải đáp liên quan đến căn tính của Đức Giêsu. Có hai giải đáp và một lệnh cấm. Giải đáp thứ nhất của dân chúng qua lời kể của các môn đệ: (A) Gioan Tẩy Giả, Êlia, hay một trong các ngôn sứ. Giải pháp thứ hai từ các môn đệ qua lời tuyên xưng của Phêrô: (B) “Thầy là Đấng Kitô”. Tiếp theo sau lời tuyên xưng này là một lệnh cấm tiết lộ căn tính của Đức Giêsu cho bất kỳ ai (C). Phần II: là bài học về mầu nhiệm Thương Khó – Chết – Phục Sinh của Đức Giêsu. Phần này là một cấu trúc đảo đổi (chiasm), gồm có hai cặp thành phần song song với nhau: (A) Dạy về Thương Khó – Chết – Phục Sinh // (A’) Dạy về ý nghĩa của Cuộc Thương Khó – Thập Giá – Sự Sống; (B) Cảnh báo Phêrô trước lời dạy của Đức Giêsu// (B’) Cảnh báo của Đức Giêsu trước phản ứng của Phêrô.

Bối cảnh (8,27a)

I.                Căn Tính Đức Giêsu: Đức Giêsu là ai?

(A)Gioan Tẩy Giả, Êlia, một trong các ngôn sứ (8, 27b-28)

(B)Thầy là Đấng Kitô” (8,29)

(C) Lệnh cấm nói với ai về Người (8,30)

II.             Dạy về cuộc Thương Khó

(A) Dạy về cuộc Đau khổ – Chết – Phục Sinh (8,31-32a)

            (B) Phêrô khiển trách Người Đức Giêsu (8,32b)

(B’) Đức Giêsu khiển trách Phêrô (8,33)

(A’) Dạy về Thập giá – Tự hủy – Sự Sống (8,34-35)

Một sổ điểm chú giải

1.     Kaisarea của Philippos[2]:  Đây là danh xưng của thành phố nổi tiếng nằm về phía Bắc của Galilê, dưới chân núi Hermon. Thành phố này thuộc lãnh địa của tiểu vương Philíppos, một trong ba người con của vua Hêrôđê cả. Trong ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm chỉ có Máccô và Mátthêu nhắc đến địa danh này. Máccô nói là “những làng thuộc Kaisarêa của Philíppos” trong khi đó Mátthêu nói là “một phần đất thuộc Kaisarêa của Philíppos”. Ý nghĩa của hai cách dùng này xem ra không khác nhau là mấy. Điều đáng để ý ở đây là địa danh Kaisarêa Philíppos. Tại sao các tác giả lại nhắc đến bối cảnh này. Đây là một thành phố khá lớn thời Đức Giêsu. Danh xưng của nó được ghép bởi hai cái tên: (i) Tên của hoàng đế Tiberius Kaisarêa Augustus, thời Đức Giêsu rao giảng (tại vị từ 14 CE – 37 CE, Tổng trấn Pontius Pilatus, 26 CE – 36 CE), trước ông là hoàng đế là Kaisarêa Augustus (tại vị, 27 BCE – 14 CE); (ii) Tên của tiểu vương Philíppos, con của vua Hêrôđê cả. Tiểu vương này thường gọi là Hêrôđê Philippos II (tại vị, 4 BCE – 34 CE, vùng đông Bắc sông Jorđan). Có một thành phố khác mang tên Kaisarêa nổi tiếng hơn. Đó là thành phố cảng Kaisarêa Maritima, thủ phủ của đế quốc Rôma ở Juđêa, nằm trên bờ biển Địa Trung Hải. Kaisarêa của Philíppos, nghĩa là thành phố mang tên hoàng đế Rôma (Kaisarêa), được tiểu vương Philippos xây. Về mặt tôn giáo, đây là thành phố thờ thần Hy Lạp mang tên là Pan nổi tiếng (thần mình người đầu dê). Ngày nay, còn có hai dấu tích về hai đền thờ, được sử dụng thờ thần Pan thời bấy giờ. Như thế, chúng ta có thể đoán ngụ ý của tác giả khi ra để cho Đức Giêsu ra “đề kiểm tra” cho các môn đệ trong bối cảnh này. Tại nơi mà, về mặt chính trị, người ta tôn vinh hoàng đế của Rôma và về mặt tôn giáo, người ta thờ thần Pan của Hy Lạp, thì người ta trả lời thế nào về vị thế của Đức Giêsu, các môn đệ hiểu thế nào về căn tính người Thầy của họ? Đâu là vị trí của Đức Giêsu so sánh với những nhân vật được tôn vinh/ thờ phượng nơi thành phố này? Câu hỏi được đặt ra có vẻ đúng lúc và đúng nơi.

2.     “Người ta nói Ta là ai?” Như đã nói trong phần “bối cảnh”, đây là câu hỏi kiểm tra chất lượng của học kỳ dành cho các môn đệ sau một thời gian theo Đức Giêsu học hỏi và nhìn thấy nhiều dấu lạ Người làm. Ngay trước đề thi này là những trình thuật liên tục về những phép lạ: Chữa con gái người phụ nữ gốc Phênixi, xứ Xyri (7,24-30); Chữa người vừa điếc vừa ngọng (7,31-37); Hóa bánh ra nhiều lần thứ hai (8,1-10). Những phép lạ này cùng với vô số phép lạ trước đó nữa là những dữ liệu quá nhiều để cho các môn đệ giải câu hỏi kiểm tra này. Câu hỏi này đã có lần được những người đồng hương giải đáp vừa đúng vừa trật: đúng là họ biết Người là bác thợ, con bà Maria, và anh em của Người là Giôxét, Juđa, Simon, chị em của Người là bà con lối xóm với họ (6,3); sai ở chỗ họ nhìn nhận phẩm chất ngôn sứ nơi Người, không thấy được năng lực thần linh khác biệt nơi Người (6,5-6).

3.      “Gioan Tẩy Giả, Êlia, một trong các ngôn sứ”: Đáp án này do các môn đệ gom góp lại từ dân chúng. Thật ra, tất cả những đáp án này đã được tác giả nói đến trong trình thuật liên quan đến sự nổi danh của Đức Giêsu được vua Hêrôđê nhận biết (5,14-16). Trong trình thuật đó, vua Hêrôđê đã khẳng định rằng Đức Giêsu chính là ông Gioan mà vua đã cho chém đầu: “Ông Gioan, ta đã cho chém đầu, chính ông ấy đã trỗi dậy” (5,16). Niềm tin rằng Đức Giêsu chính là Gioan Tẩy Giả được chứng minh bằng hiệu quả là các phép lạ Người làm: “Đó là ông Gioan Tẩy Giả đã từ cõi chết trỗi dậy nên mới có quyền năng làm phép lạ” (5,14). Sự đồng hóa Đức Giêsu với ngôn sứ Êlia có lẽ cũng nằm trong lý do làm phép lạ ấy. Ông Êlia là một ngôn sứ lẫy lừng thời Cựu Ước. Ông cũng làm nhiều phép lạ: Phép lạ làm cho vò dầu không cạn và hũ bột không vơi ở Xarépta (1 V 17,7-15); Làm cho con trai bà góa Xarépta sống lại (1 V 17,17-24). Ông không chết nhưng được mang đi trong cơn gió lốc trên một cỗ xe đỏ như lửa và những con ngựa đỏ như lửa (2 V 2,1.11). Ngôn sứ Êlia được ngôn sứ Mikha loan báo là sẽ trở lại trước ngày “vĩ đại và kinh hoàng” của Đức Chúa (Mk 4,5). Trong Tân Ước, chính Đức Giêsu ám chỉ Êlia chính là Gioan Tẩy Giả (Mt 11,14; 17,10-12; Mc 9,12), qua đó gián tiếp chối từ câu trả lời của chúng. Đức Giêsu cũng không thể nào là Gioan Tẩy Giả được bởi lẽ chính Người đã chịu phép dìm của chính Gioan Tẩy Giả (Mc 1,9-11; Mt 3,13-17; Lc 3,21-22). Mátthêu còn thêm vào “ngôn sứ Giêrêmia” ngay sau “ngôn sứ Êlia” trước cụm từ “hay một trong các ngôn sứ”. Máccô chỉ có cụm từ “một trong cách ngôn sứ”. Đức Giêsu đã từng ví mình như một ngôn sứ khi Người bị chối từ tại quê nhà Nadarét. Người xem đó như là hình ảnh một ngôn sứ bị chối từ “ở chính quê hương mình và trong gia đình mình” (Mt 13,57; Mc 6,4; Lc 4,24; Ga 4,44). Đức Giêsu đồng hóa mình với hình ảnh một ngôn sứ phải chết trong thành Jêrusalem: “Hôm nay, ngày mai và ngày mốt tôi phải tiếp tục đi, vì ngôn sứ mà chết ngoài thành Jêrusalem thì không được” (Lc 13,33). Trong bối cảnh Người vào thành Jêrusalem huy hoàng, dân chúng cũng gọi Người là ngôn sứ: “Ngôn sứ Giêsu người Nadarét, xứ Galilê đấy” (Mt 21,11; Cf. 21,46). Khi Đức Giêsu làm cho con trai bà góa thành Nain sống lại, dân chúng đã kính sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Một ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” (Lc 7,16; Cf. Ga 6,14; 7,40). Người phụ nữ Samari cũng nhìn nhận Đức Giêsu là một vị ngôn sứ (Ga 4,19). Người mù từ thuở mới sinh cũng tuyên xưng tương tự (Ga 9,17). Trong con mắt của các môn đệ, Người là vị “ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân” (Lc 24,19). Như thế, Đức Giêsu quả thực là một ngôn sứ theo hai nghĩa: (i) Người rao giảng và làm phép lạ; (ii) Người bị chối từ và bị giết chết.

4.     “Đấng Kitô”: Đây chính là danh xưng mang ý nghĩa Kitô học khá cao trong truyền thống Tân Ước. Danh xưng này đã được Máccô giới thiệu ngay trong câu đầu tiên của Tin Mừng thứ hai. Thế nhưng, đó là một danh xưng được các môn đệ nghiệm ra với một nửa ý nghĩa, sau một quá trình dài theo Đức Giêsu. Sau này, danh xưng Giêsu Kitô đi liền với nhau quen thuộc đến nỗi người ta nhiều khi nhầm tưởng đó là tên gọi bình thường mà quên đi ý nghĩa Kitô học cao sâu thẳm của nó. Đó là câu trả lời long trọng của Phêrô đại diện cho các môn đệ. Câu trả lời này tách biệt Phêrô và nhóm môn đệ ra khỏi nhóm dân chúng. Christos có nguồn gốc từ trong tiếng Do Thái, [המשיח‎] (Mêsia), người được xức dầu. Nó được dùng như một danh hiệu thuộc hoàng gia. Đức Giêsu được gọi Mêsia nhiều lần khác, như trong Mc 8,29, 14,61 và 15, 32 và được ám chỉ như Đấng Mêsia trong Mc 9,42, 12,35 và 13,21.[3] Lời tuyên xưng của Phêrô gắn liền với một truyền thống lâu đời trong dân Do Thái. Đấng Mêsia là Đấng hằng được mong đợi, sẽ mang đến một vương quốc bền vững mãi mãi. Truyền thống này xuất phát từ lời hứa với vua Đavíd trong sách SamuEL quyển thứ hai chương 7 và lời của ngôn sứ Isaiah với nhà Đavíd, vua Akhát trong sách ngôn sứ Isaiah, cũng chương 7.  Sách SamuEL quyển thứ hai kể rằng, khi vua Đavíd đã yên vị trong cung điện bằng gỗ bá hương còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải. Đavíd chạnh lòng và muốn xây cho Chúa một ngôi nhà đẹp. Ít ra thì ngôi nhà ấy cũng bằng gỗ bá hương như cung điện của ông. Tuy nhiên, Đức Chúa đã bảo Nathan nói với Đavíd rằng: “Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quốc của nó được vững bền…nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi” (2Sm 7,12-16). Và trong bối cảnh liên quân Aram và vương quốc miền Bắc (IsraEL) đang tiến đánh Juđa. Vua Akhát và thần dân của vương quốc miền Nam (Juđa), Isaiah được sai đến an ủi và khích lệ Akhát đến hai lần. Lần thứ nhất, Đức Chúa bảo Isaia nói với Akhát cứ bình tĩnh, chớ sờn lòng, chuyện ấy sẽ không xảy ra: “Nếu các ngươi không vững tin, thì các ngươi sẽ không đứng vững” (Is 7,9). Lần thứ hai, Đức Chúa bảo vua Akhát hãy xin một dấu. Nhưng Akhát trả lời rằng: “Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa”. Isaia liền nói : “Chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là EmmanuEL” (Is 7,14 ; Cf. Is 11,1-5).[4] Ngôn sứ Jêrêmia cũng nói đến lời hứa của Đức Chúa: “Ta sẽ làm nẩy sinh cho nhà Đavíd một chồi non chính trực. Vị vua lên ngôi vị sẽ là người khôn ngoan tài giỏi trong xứ sở, vua sẽ thi hành điều chính trực công minh. Thời bấy giờ Juđa sẽ được cứu thoát, IsraEL được sống yên hàn. Danh hiệu người ta tặng vua ấy sẽ là ‘Đức Chúa sự công chính của chúng ta’” (Gr 23,5-6). Ngôn sứ Mikha nói về nơi mà Đấng chăn dắt IsraEL sẽ ra đời: “Phần ngươi, hỡi Bếtlehem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các chi tộc Juđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh IsraEL, nguồn gốc của người có từ trước, từ thuở xa xưa” (Mk 5,1). Đức Giêsu không từ chối câu trả lời của Phêrô, nghĩa là lời tuyên xưng của Phêrô đúng về cơ bản. Còn về ý nghĩa thực sự của danh xưng này thì Phêrô và các môn đệ cần phải học hỏi thêm. Mátthêu thêm vào danh xưng “Con Thiên Chúa Hằng Sống” sau danh xưng “Đấng Kitô”: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (Mt 16,16), trong khi Luca nói rằng “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9,20). Dường như Luca và Mátthêu muốn mạc khải căn tính thần linh nơi Đức Giêsu.

5.     Cảnh cáo: Động từ “cảnh cáo” (ἐπιτιμάω) được dùng 3 lần trong đoạn Tin Mừng này. Hai lần có chủ ngữ là Đức Giêsu và một lần chủ ngữ là Phêrô. (i) Sau khi Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô”, Đức Giêsu liền “cảnh cáo” (có thể hiểu là căn dặn, khuyến cáo, hoặc cấm) họ để họ không nói cho ai về Người. Mátthêu nói rõ hơn “để họ không nói với ai Người là Đấng Kitô” (16,20). Luca chỉ dùng đại từ “điều này” (touto) (9,21), có thể thay thế cho nội dung lời tuyên xưng. Đây được gọi là “bí mật Mêsia”.[5] Trong bối cảnh này các môn đệ chưa được tiết lộ thân phận của Người vì họ chưa hiểu hết ý nghĩa của danh xưng “Đấng Kitô”. Họ chỉ mới hiểu được khía cạnh vinh quang của Người như là: Giảng dạy uy quyền, làm nhiều phép lạ, dẹp yên sóng biển, hóa bánh ra nhiều[6]… Họ cần phải hiểu những khía cạnh khác nữa của Đấng Kitô. (ii) Sau khi Đức Giêsu tiền báo về mầu nhiệm Khổ Nạn – Chết – Phục Sinh, Phêrô liền dẫn Người riêng ra và bắt đầu “cảnh cáo” (có thể hiểu là can gián) Người. Đây có thể là phản ứng tiêu cực của Phêrô trước Mầu Nhiệm Khổ Nạn. Mátthêu còn thêm vào nội dung lời can gián của Phêrô: “Xin Thiên Chúa ban ân sủng cho Ngài, Chúa ơi! Điều này sẽ không xảy ra cho Ngài” (Mt 16,22). (iii) Sau phản ứng này, Đức Giêsu quay lại nhìn các môn đệ, rồi “cảnh cáo” (có thể hiểu là khiển trách) Phêrô. Phêrô nói riêng với Đức Giêsu, nhưng Đức Giêsu “khiển trách” Phêrô khi “quay lại và nhìn” các môn đệ. Điều này ngụ ý rằng nếu có ai trong các môn đệ cùng chung ý hướng như Phêrô, tức là can ngăn Thầy, thì cùng chịu một lời trách mắng tương tự.

6.     Người phải đau khổ – bị giết chết – phục sinh:

Ba lần tiên báo về khổ nạn-chết-phục sinh

8,31

9,31

10,33-34

Nhất thiết là…

Con Người

Phải đau khổ nhiều và bị chối bỏ

Bởi các kỳ mục, thượng tế và kinh sư

 

 

 

Bị giết chết

Và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy

 

Con Người

Sẽ bị nộp

cho người đời

 

 

 

 

 

Họ sẽ giết người

Và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy

 

Con Người

Sẽ bị nộp

Cho các thượng tế và kinh sư

Họ sẽ kết án tử hình Người

Nộp Người cho dân ngoại

Và họ sẽ đánh Người, khạc nhổ vào Người và hành hạ Người

 

Và họ sẽ giết Người

Và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy

Sau lời tuyên xưng của Phêrô, Đức Giêsu cấm họ không được nói cho ai điều này, vì họ chưa hiểu biết trọn vẹn về Đấng Kitô. Chính vì vậy, người thuật chuyện cho chúng ta biết rằng “Người bắt đầu dạy họ rằng”. Mở đầu cho lời dạy quan trọng này là động từ không ngôi: “cần thiết, phải” (δεῖ: Con Người cần phải, nhất thiết phải).[7] Động từ không ngôi này thường được dùng để diễn tả một nhiệm vụ thần linh có tính bắt buộc. Đây là mạc khải quan trọng về mầu nhiệm Khổ Nạn – Chết – Phục Sinh, thông điệp nền tảng, mà Đức Giêsu sẽ mạc khải nhưng cũng là mệnh đề khởi đầu cho toàn bộ quá trình mạc khải về những điều mà các môn đệ chưa hiểu về Đấng Kitô, mà họ vừa tuyên xưng. Từ lúc này trở về sau, Đức Giêsu bắt đầu từ từ dạy họ tất cả.[8] Sau lần tiền báo này, sẽ có thêm hai lần nữa (tổng cộng có ba lần)[9] Đức Giêsu thông báo cùng nội dung tương tự (8,31; 9,31; 10,33-34).[10] Thông điệp nền tảng này chính là đỉnh cao của sứ vụ công khai của Đức Giêsu, là mấu chốt cho ơn cứu độ nhân loại. Mạc khải này quả thật mang đến một cú sốc quá lớn đối với Phêrô và các môn đệ. Trong mạc khải của Đức Giêsu có một điều rất quan trọng, “sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy”. Tuy nhiên, các môn đệ dường như quên bẳng đi chi tiết này và không muốn để ý đến. Họ bị hoảng sợ trước sự đau khổ và cái chết của Đấng Kitô quyền uy, vinh quang mà họ đang say mê. Đó là Đấng họ đang mong chờ, chứ sống lại thì có nghĩa lý gì đâu. Họ quên hẳn đi chi tiết quan trọng đó cho đến khi Người thật sự sống lại, nên ai nấy đều ngỡ ngàng không tin nổi điều đó là sự thật. Đức Giêsu phải hiện ra lần này đến lần khác với cá nhân có và tập thể có để tỏ bày, giải thích, khiển trách, nhắc nhở. Cuối cùng, họ cũng hiểu ra được và tin vào Đấng Phục Sinh và nhận lãnh sứ mệnh rao truyền.

7.     Ba ngày: Con số 3 là một con số khá đặc biệt trong truyền thống Tân Ước: Ba lần Đức Giêsu tiền báo về cuộc khổ nạn -  Phục Sinh; bộ ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan; Phêrô chối Chúa ba lần; Đức Giêsu đi cầu nguyện ba lần cùng một nội dung trong Vườn Cây Dầu (Mc 14,41) ; Đức Giêsu hỏi Gioan ba lần “Con có yêu mến Thầy không” (Phêrô đáp trả ba lần là “thưa Thầy có”); Dân chúng ở với Đức Giêsu ba ngày rồi mà không có gì ăn (Mt 15,32; Mc 8,2); Ông Phêrô muốn dựng ba cái lều cho Đức Giêsu, Môsê và Êlia trên Núi Biến Hình (Mc 9,5; Mt 17,4; Lc 9,33); Ba người họp lại nhân danh Đức Giêsu thì có Người ở giữa (Mt 18,20); Đức Giêsu ở lại trong đền thờ ba ngày (Lc 2,46); … Con số ba đặc biệt liên quan đến sự chết và sự sống lại. Đức Giêsu của Máccô nói rằng ba ngày sau khi chết Người sẽ trỗi dậy (Mc 8,31; 9,31) trong khi đó Đức Giêsu của Mátthêu và Luca thì nói là “ngày thứ ba”, Người sẽ trỗi dậy (Mt 17,23; Lc 9,22; Cf. Lc 24,7.21) (Kinh Tin Kính, “Ngày thứ ba”, Người sống lại như lời Thánh Kinh). Đức Giêsu cũng báo trước bằng những hình ảnh khác nhau về cái chết và sự sống lại của Người liên quan đến con số “ba ngày”: Ông Giôna đã ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy (Mt 12,40; Gn 2,1); Ông Ladarô cũng được mai táng 3 ngày, ngày thứ bốn được Đức Giêsu gọi ra khỏi mồ (Ga 11,39.43-44); Các ngươi cứ phá hủy đền thờ này đi nội trong ba ngày, Ta sẽ hồi phục lại nó (Ga 2,19-20: Cf. Mt 26,61; 27,40.63; Mc 14,58; 15,29). Trong văn hóa Do Thái, chết 3 ngày thì mới là chết thật sự. Chính vì thế, Đức Giêsu dùng con số ba ngày như muốn chứng mình rằng Người đã chết thật sự chứ không phải giả chết.[11]

8.     Kỳ mục – Thượng tế – Kinh sư: Đây là bộ ba các nhóm nhân vật đức cao vọng trọng, quyền chức, hiểu biết, và cả kinh nghiệm bậc nhất trong dân Do Thái. Họ đồng thời cũng có thể là các thành viên của Thượng Hội Đồng Do Thái.[12] Họ là những đối thủ chính yếu của Đức Giêsu. Trong 3 lần tiền báo về cuộc Thương Khó – Chết – Phục Sinh trong Tin Mừng, có đến hai lần Máccô nhắc đến những nhóm người này. Trong lần tiền báo thứ nhất, cả ba nhóm người cũng được nhắc đến như là những người chối bỏ Đức Giêsu (8,31; Lc 9,22; Mt 16,21). Trong lần tiền báo thứ ba, chỉ có nhóm các thượng tế và kinh sư, được nhắc đến như là những kẻ lên án xử tử Người và nộp Người cho dân ngoại (ngụ ý là Phi-la-tô) (10,33). Riêng lần thứ hai, động từ “nộp” được dùng ở thể bị động (Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta). Tác nhân của hành động nộp có thể là nhóm kinh sư và pharisêu như ở lần thứ ba, hoặc cũng có thể ám chỉ đến Juđa Iscariốt. Sau khi Đức Giêsu thanh tẩy đền thờ, bộ ba nhóm này đã chất vấn Đức Giêsu về quyền của Người: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy, hay ai đã cho ông quyền để làm các điều ấy” (11,27-28; Lc 20,1; Mt 21,23). Sau khi Đức Giêsu kể dụ ngôn những người làm vườn nho sát nhân, hạ nhục, đánh đập, giết chết các đầy tớ của ông chủ, thậm chí giết luôn cả đứa con duy nhất của ông, họ đã tìm cách bắt Người (Mc 12,12). Cuối cùng họ sai người đi bắt Đức Giêsu trong Vườn Cây Dầu (14,43; Lc 22,52; Mt 26,47); Tề tựu đầy đủ để xét xử Người (Mc 14,53; Mt 26,57); Bàn kế hại Đức Giêsu, để xử tử Người (Mt 27,1); Họp bàn với nhau, rồi trói Đức Giêsu lại, giải đi nộp cho Philatô (Mc 15,1); Xúi đám đông đòi tha cho Banaba mà giết Đức Giêsu (Mt 27,20). Tất cả đều xảy ra đúng như lời Đức Giêsu đã báo trước.

9.     “Đi ra phía sau Ta, Xatan”: Đức Giêsu gọi khiển trách Phêrô là “Xatan”. Xatan chính là tên cám dỗ Đức Giêsu trong hoang địa và Đức Giêsu đã chiến thắng (Mt 4,1-11). Vào cuối cuộc cám dỗ ấy, Đức Giêsu đã ra lệnh cho Xatan: “Hãy cút khỏi đây”, Xatan. Trong bối cảnh này, Đức Giêsu cũng như đang gặp lại cơn cám dỗ của Xatan trong suy nghĩa và lời nói của Phêrô. Xatan muốn Đức Giêsu nghe theo lời nó, để thỏa mãn những nhu cầu của bản thân mà quên đi ý định của Chúa Cha. Phêrô cũng mong Đức Giêsu không phải trải qua mầu nhiệm đau khổ và sự chết như Người vừa tiền báo. Chính vì thế, Đức Giêsu đã không ngần ngại gọi Phêrô là Xatan và cũng ra lệnh “Đi về phía sau Thầy” (biến đi khỏi mắt Thầy). Động từ được sử dụng cho cả Xatan và Phêrô là một: “Đi khỏi”, ở mệnh lệnh cách (ὕπαγε). Phêrô dường như đang muốn đi trước Thầy mình, muốn hướng dẫn cho Thầy mình cách tránh né sứ vụ. Chất Xatan của Phêrô có thể được hiểu như là “không suy nghĩ theo công việc của Chúa mà nghĩ theo phi vụ của con người” (8,33).

10.  Từ bỏ chính mình – vác lấy thập giá của mình – theo: Trước khi Đức Giêsu nói lời (từ bỏ, vác lấy thệp giá, theo) người thuật chuyện cho biết rằng Đức Giêsu đã “gọi” đám đông và các môn đệ đến với Người (προσκαλεσάμενος) (Mc 8,34). Đây là tiếng gọi thần linh cho một sứ vụ thần linh. Lời mời gọi này dành cho cả các môn đệ và đám đông. Muốn đi theo lời mời gọi này, phải làm 3 hành động cùng lúc: “Từ bỏ chính mình”, “vác thập giá của mình”, và “đi theo” Chúa. Đây được xem là một tiến trình hoàn hảo của một người môn đệ. Các môn đệ đã từ bỏ gia đình, công việc và cuộc sống ổn định để theo Chúa. Tuy nhiên, đó chỉ là bước khởi đầu. Muốn theo Đức Giêsu đúng nghĩa hơn, họ được mời gọi phải từ bỏ chính mình và vác thập giá của mình. Thánh Luca còn thêm vào cụm giới từ “suốt ngày, từng ngày” (καθ᾽ ἡμέραν) vào sau động từ “vác thập giá của mình” (Lc 9,23). Thánh Luca và Mátthêu còn ghi lại tính chất quyết định của việc “vác thập giá” trong ơn gọi làm môn đệ của Đức Giêsu: “Ai không vác lấy thập giá mình mà theo tôi thì không thể làm môi đệ tôi được” (Lc 14,27; Mt 10,38). Từ bỏ chính mình trong bối cảnh này, bối cảnh sau lời “can gián” của Phêrô, có nghĩa là từ bỏ những suy nghĩ về lợi ích riêng tư của mình; Suy nghĩ theo cách của con người mà quên đi ý muốn thật sự của Thiên Chúa. Trong bối cảnh rộng hơn là từ bỏ ý riêng của mình để làm theo ý Chúa Cha (x. Mt 7,21; 12,50; Mc 3,35; Ga 4,34; 5,30; 6,38). “Thập giá” trong bối cảnh này tương tự như thập giá của Đức Giêsu: “Phải đau khổ nhiều và bị các kỳ mục và các thượng tế và kinh sư nộp và bị giết chết và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy”. Thập giá trong bối cảnh xa hơn là toàn bộ cuộc khổ nạn và các chết của Đức Giêsu trên thập giá. Đại từ sở hữu (của chính mình, của chính người ấy) đi ngay sau danh từ thập giá xác định rõ ràng “thập giá” đó là của mỗi cá nhân những người muốn theo Chúa chứ không phải là của Chúa. Đức Giêsu đã vác lấy thập giá của chính mình (Ga 19,17). Cả 3 Tin Mừng Nhất Lãm đều nhắc đến sự kiện ông Simôn vác thập giá đỡ cho Đức Giêsu (Mc 15,21; Mt 27,32; Lc 23,26), trong khi đó Gioan nhấn mạnh rằng “chính Người vác thập giá của mình”. Điều này có thể đánh tan suy nghĩ bình dân rằng Chúa gửi thập giá đến cho từng người. Có lẽ không phải như thế! Thập giá vẫn có đó trong cuộc đời mỗi người như một phương tiện để người ta bày tỏ niềm tin, lòng thành tín và tình yêu đối với Chúa và với tha nhân. Tình yêu không thập giá là tình yêu dổm; Thập giá không tình yêu là thập giá hờ. Thập giá chỉ có giá trị thực sự khi nó phát xuất từ sự tự nguyện dâng hiến vì yêu thương. Tình yêu đích thực luôn đòi hỏi một sự trả giá và hy sinh. Đức Giêsu đã chịu đóng đinh và chết trên chính thập giá mà người ta trao cho Người vác (Mt 27,35; Mc 15,24; Lc 23,33) mặc cho người đời vẫn thách thức và cám dỗ Người “xuống khỏi thập giá” (Mt 27,40.42; Mc 15,30.32; Lc 23,39). Đó là hình ảnh rõ nét và hoàn hảo cho mầu nhiệm tự hủy chính mình, vác lấy thập giá mình và làm theo ý muốn Chúa Cha.

11.  Cứu – phá hủy – phá hủy – cứu (mạng sống): Máccô dùng cấu trúc đảo đổi (chiamus), một cấu trúc đặc trưng trong văn chương Hy Lạp, để diễn tả mối liên hệ vừa hỗ tương vừa nghịch lý của nguyên do sâu xa của mầu nhiệm tự hủy, mà Đức Giêsu mời gọi các môn đệ và đám đông dấn thân. Các mệnh đề này được bắt đầu bằng một liên từ chỉ nguyên do “bởi vì” (yar, γὰρ).[13] Rõ ràng, các mệnh đề sau có liên hệ cách chặt chẽ với lời mời gọi ngay trước đó: “Từ bỏ chính mình” – “Vác thập giá mình” – “Đi theo” Đức Giêsu. Động từ “từ bỏ” ở trên được minh họa cách cụ thể, sống động bằng hành động “phá hủy” (có thể là giết chết) mạng sống mình. Danh từ “ψυχή” có nghĩa là “linh hồn”, “sự sống thể lý”; hay toàn bộ con người cả hồn và xác. Tạm gọi 4 lần xuất hiện của danh từ “xuykhe” trong đoạn này theo thứ tự từ 1 dến 4. Trong bối cảnh này, “xuykhe1” có thể hiểu là sự sống thể lý (muốn cứu sự sống thể lý); “xuykhe2” là toàn bộ xác và hồn. Nghĩa là muốn cứu sự sống thể lý thì mất hết cả hồn lẫn xác trong tương lai, đồng nghĩa với vào hỏa ngục. Tương tự, “xuykhe3” có thể hiểu là sự sống thể lý (muốn cứu sự sống thể lý); “xuykhe4” là toàn bộ xác và hồn. Nghĩa là, sự tự hủy sự sống thể lý có thể mang lại sự sống xác hồn vĩnh cửu. Đức Giêsu là minh họa cụ thể cho triết lý này. Người đã tự hủy, chết đi về thể xác rồi được Phục Sinh vinh quang và được trao ban toàn quyền trên trời dưới đất (Mt 28,18). Các thánh tử đạo, đầu tiên là thánh Stêphanô là những minh chứng sống động cho mầu nhiệm tự hủy và đạt đến vinh quang sáng ngời. Động từ “cứu” (σῴζω) được dùng hai lần trong câu này cũng rất có chủ ý (Mt 1,21). Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ (σωτὴρ), là Đấng Kitô và là Đức Chúa (Lc 2,11). Thánh Giuse được chỉ thị phải gọi tên Người là Giêsu vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ (Mt 1,21). Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”, Đấng xóa bỏ tội trần gian. Những người dân làng Samari đã tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian khi Đức Giêsu đến đó và lưu lại hai ngày (Ga 4,42). Năng lực cứu độ ở nơi Đức Giêsu. Người ta có cứu được mạng sống mình cũng nhờ vào Đức Giêsu Phục Sinh. Mục tiêu cuối cùng của cả đời người là “sự sống đời đời”. Mục tiêu cuối cùng của toàn bộ Tin Mừng cũng là để người ta có thể tin “Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, để nhờ tin mà có sự sống” (Ga 20,31). Nhìn vào phần cấu trúc (phần II) chúng ta có thể nhận ra cách dễ dàng sự song song giữa hai lần dạy của Đức Giêsu: (A) Khổ Nạn – Chết – Phục Sinh // (A’) Thập Giá – Tự Hủy – Sự Sống (xuykhe). Sự phục sinh song song với sự sự sống. Sự sống ở đây chính là sự sống lại và sự sống đời đời, khởi đầu bằng sự phục sinh của Đức Giêsu.

 

Cấu trúc đảo đổi (chiasmus) (Mc 8,35) ABB’A’

(A) ὃς γὰρ ἂν θέλῃ τὴν ψυχὴν1 αὐτοῦ σῶσαι

(B) ἀπολέσει αὐτήν2·

(B’) ὃς δ᾽ ἂν ἀπολέσῃ τὴν ψυχὴν3 αὐτοῦ ἕνεκεν ἐμοῦ

(A’) οὗτος σώσει αὐτήν4. (Lk. 9:24 BGT)

(A) Ai muốn cứu mạng sống1 mình

(B) Sẽ phá hủy 2

(B’) Ai phá hủy mạng sống3

(A’) Sẽ cứu 4

Bình luận tổng quát

Sau một quãng thời gian dài các môn đệ theo Đức Giêsu, chứng kiến bao nhiêu phép lạ Người làm, từ trừ quỷ, đi trên nước, chữa mọi loại bệnh tật, hóa bánh ra nhiều (2 lần), và cho người chết sống lại, đã đến lúc các môn đệ phải bước vào kỳ thi kiểm tra nhận thức về Thầy của mình. Câu hỏi rất đơn giản: “Người ta nói Con Người là ai? Còn anh em nói Thầy là ai?” Câu trả lời của các môn đệ về suy nghĩ của dân chúng được gop góp từ đoạn văn Mc 6,14-16: Gioan Tẩy Giả, Êlia, một trong các ngôn sứ. Câu trả lời của Phêrô như một phần kết tốt đẹp cho nửa phần đầu của Tin Mừng Máccô (từ chương 1 đến chương 8). Máccô giới thiệu đây là Tin Mừng của Đức Giêsu, Đấng Kitô, Con Thiên Chúa (Mc 1,1). Giờ đây, Phêrô đã tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Lời tuyên xưng ấy là đúng chính xác rồi. Tuy nhiên, Đức Giêsu lại cấm ngặt không cho các ông nói về Người. Điều này chứng tỏ rằng các môn đệ vẫn chưa hiểu đầy đủ ý nghĩa của căn tính “Kitô” mà họ tuyên xưng. Đấng Kitô mà họ đang thấy là một Đấng Kitô quyền năng huy hoàng theo kiểu hoàng gia và nhà giải phóng. Còn một mặt khác của Đấng Kitô mà họ chưa biết và cũng không bao giờ muốn biết. Đó là Đấng Kitô chịu nhiều đau khổ – chịu chết – phục sinh. Đây là mầu nhiệm nền tảng trong sứ vụ của Đấng Kitô. Thế nhưng, vừa khi nghe điều đó, Phêrô đã vội can gián, không muốn Đức Giêsu nói về điều đó. Vì nếu điều đó xảy ra, thì mộng vàng của tất cả các môn đệ đều tan thành mây khói. Đức Giêsu chết là hết, chẳng còn danh vọng gì nữa. Ơn gọi môn đệ sẽ kết thúc trong bi thảm, thất bại. Đức Giêsu đã cho Phêrô thấy, đó là ý tưởng của Xatan. Tên cám dỗ đã dùng mọi cách khiến Đức Giêsu phải sa ngã trong sa mạc 40 đêm ngày. Tuy nhiên, cuối cùng Đức Giêsu đã chiến thắng nó. Câu mệnh lệnh: “Xatan kia xéo đi! (biến đi)” (Mt 4,10), có cùng động từ với câu mệnh lệnh Đức Giêsu dùng cho Phêrô: “Xatan, xéo ra đằng sau Thầy” (Mc 8,33). Phêrô không phải Xatan nhưng ý tưởng suy nghĩ của ông lặp lại y chang mưu đồ cám dỗ của Xatan. Ý tưởng cám dỗ lại một lần nữa xuất hiện khi Đức Giêsu đang trong giây phút thập tử nhất sinh. Người qua kẻ lại xúi dục Người xuống khỏi thệp giá: “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào” (Mt 27,40; Mc 15,30); “hắn là vua IsraEL! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền! (Mt 27,42; Mc 15,32). Đức Giêsu lại một lần nữa chiến thắng cám dỗ của ma quỷ. Người đã sẵn sàng tự hủy và chết trên thập giá, vì vâng theo thánh ý Cha và yêu thương nhân loại. Người mời gọi tất cả những ai muốn theo Người, muốn làm môn đệ Người, phải từ bỏ chính mình, vác lấy thập giá mình mà theo. Từ bỏ mình để nghe theo thánh ý Chúa Cha. Vác thập giá của mình là bước vào hành trình Khổ Nạn với Đức Giêsu. Chỉ khi dám phá hủy sự sống thể lý thì người môn đệ mới cứu được sự sống hồn xác đời đời như Đức Giêsu Kitô. Sự tự hủy sự sống thể lý chỉ có giá trị cao quý thật sự khi nó bắt nguồn từ tình yêu và cho tình yêu. Ngược lại một tình yêu không có sự tự hủy, sự hy sinh thì khó có thể nảy sinh hoa trái hạnh phúc.

 Mỗi người sinh ra trên cuộc đời này đều được Thiên Chúa đặt để trong một mối dây ràng buộc yêu thương đối với một hay nhiều người khác. Tất cả đều được sinh ra từ tình yêu quan phòng của Thiên Chúa Ban Ngôi. Những đứa con đều được sinh ra và dưỡng dục trong vòng tay yêu của cha mẹ, anh chị em, ông bà cũng như những người thân ruột thịt. Những người trẻ tuổi dậy thì hừng hực trong tình yêu nam nữ. Tình yêu này được kết ước trong một giao ước tình yêu tròn đầy và duy nhất của đôi uyên ương. Tình yêu vợ chồng này lại sinh ra những hoa trái tình yêu là những người con. Đó là vòng tròn khéo kín nối kết nhân loại với với nhau và với Thiên Chúa. Ngoài ra, còn biết bao nhiêu tình yêu khác chất chứa trong trái tim nhỏ bé của con người: Yêu bạn bè, yêu thầy cô, yêu người, yêu quê hương, yêu xóm làng, yêu thiên nhiên… Muốn cảm nhận hương vị ngọt ngào của tình yêu thì những “tình nhân” đều cần phải có những sự hy sinh nhất định. Chúng ta có thể gọi những hy sinh đó là thập giá tình yêu mà Đức Giêsu đã vác và mời gọi mỗi người hãy chung đường với Người.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] The people in Nazareth take offense at him because of the disparity between their alleged knowledge of who he is and his (authoritative) teaching in their synagogue [A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 401].

[2] X. M.K.M, “Caesarea Philippi”, The HarperCollins Bible Dictionary (ed. P.J. Achtemeier) (New York 1996) 162-163; “In the oldest days it was called Balinas, for it had once been a great centre of the worship of Baal” [W. Barclay, The Gospel of Mark (DSB; Philadelphia 2000, c1975) 191].

 

[3] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2002) 60; A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark, 402.

[5] Trong Tin Mừng Mác-cô, Đức Giê-su cấm 3 nhóm nhân vât nói về Người, với những lý do khác nhau: (1) Quỷ; (2) Các môn đệ; (3) Những người được chữa lành. X. J.L.M. Thông, “‘Bí Mật Công Khai’. Cấm Không Được Nói Mà Ai Cũng Biết!” [Tin Mừng Gio-an, Évangile de Jean, Gospel of John: “Bí mật công khai”. Cấm không được nói mà ai cũng biết! (TM Mác-cô) (leminhthongtinmunggioan.blogspot.com)] (truy cập 02/09/2021).

[6] Phê-rô cố giữ vinh quang này không muốn đi vào đau khổ (8,32, 9,5) [J.E.A. Chiu, “Mark”, The Paulist Biblical Commentary (ed. J.E.A. Chiu) (Collegeville 2018) 999].

[7] Ê-li-a phải đến trước (Mc 9.11); Tin Mừng phải được loan báo cho tất cả các nước (13,10); Cha mẹ không biết là con phải ở trong nhà của Cha Con sao (Lc 2,49).

[8] “The fact that its theme will be repeated prominently from now on, suggests that we should read it as signaling a new and central theme in Jesus’ teaching to his disciples” [[8] R.T. France, The Gospel Of Mark. A Commentary on The Greek Text (NIGTC; Grand Rapids 2002) 333]; According to J. Marcus, “began to” thus suggests the beginning of a series” [J. Marcus, Mark 1–8. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) XXVII, 603].

[9] Mát-thêu có thêm một lần thứ tư nữa ngay trước dịp Lễ Vượt Qua: Anh em biết còn hai ngày nữa là đến Lễ Vượt Qua, và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá” (Mt 26,2).

[10] The similarities and differences of the three passion predictions: All have a similar structure: (a) a reference to the Son of Man, (b) a reference to those who will be responsible for his death, (c) a prophecy of his death, and (d) a prophecy of his resurrection “after three days.” There are individual variations; the second and third, for example, speak of the Son of Man being “turned over” to his enemies, whereas the first speaks of the necessity of his suffering and rejection by them; the second speaks of these opponents in a very general way, as “human beings,” whereas the first and third spell them out as the chief priests and the scribes. Most strikingly, the third gives a detailed description, unparalleled in the other two, of the specific sufferings that the Son of Man will endure. [J. Marcus, Mark 1–8. A New Translation with Introduction and Commentary, 604].

[11] Cũng có thể hiểu như J.Marcus, ba ngày không phải là một con số chính xác như chỉ là cách nói diễn tả một khoảng thời gian ngắn có độ dài không xác định (. Marcus, Mark 1–8. A New Translation with Introduction and Commentary, 487)

[12] Các hội đồng của những lãnh đạo và kỳ mục (Mt 5,22; 10,17; Mc 13,9; Cv 22,5), tòa án tối cao của các thượng tế và kỳ mục tại Giê-ru-sa-lem. Họ xét xử Đức Giê-su (Mt 26,59); Kiểm tra và trừng phạt các mông đệ (Cv 4 – 6; 23 – 24); Giuse Arimathea là một thành viên của hội đồng (Mc 15,43); Hội Đồng Giê-ru-salem bao gồm những kinh sư, tư tế, pha-ri-sêu; trong Mác-cô các thượng tế, kỳ mục và kinh sư (14,54 -55; 15,1) được nối kết cụ thể với Hội đồng trong vụ xét xử Đức Giê-su [x. A.J.S, “Sinhedrin”, The HarperCollins Bible Dictionary, 971-972]; Luca nói đến một hội cuộc họp của các kỳ mục, gồm có các thượng tế và kinh sư (Lc 22,66) trong khi Mác-cô dường như ám chỉ một nhóm kỳ mục tách biệt khỏi nhóm thượng tế và nhóm kinh sư (J. Marcus, Mark 1–8. A New Translation with Introduction and Commentary, 605).

[13] Thật ra, câu 35 chỉ là câu đầu tiên trong loạt 4 câu bắt đầu bằng liên từ “γὰρ”:

35 Người muốn cứu mạng sống của mình sẽ phá hủy nó; Còn người sẽ hủy bỏ mạng sống mình vì Tôi và Tin Mừng thì sẽ cứu được nó.

36 một người sẽ được lợi ích gì nếu đạt được cả thế giới nhưng đánh mất mạng sống của mình.

37 Người ta sẽ trao điều gì để đổi lại mạng sống của mình?

38 nếu ai xấu hổ vì Tôi và những lời của Tôi trong thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, Con Người cũng sẽ xấu hổ vì người ấy khi Người đến trong vinh quang của Chúa Cha cùng với các sứ giả thánh.


The Division of Herod's Kingdom:

  Territory under Herod Archelaus, from 6 Iudaea Province

  Territory under Herod Antipas

  Territory under Herod Philip II

  Salome I (cities of Jabneh, Azotas, Phaesalis)

  Roman province of Syria

  Autonomous cities (Decapolis)

 

 

 

Thursday, 2 September 2021

SỨ GIẢ KHÔNG BIÊN GIỚI. Chú giải Tin Mừng CN XXIII TN B (Mc 7,31-37)

 Bản Văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

31 Καὶ πάλιν ἐξελθὼν ἐκ τῶν ὁρίων Τύρου ἦλθεν διὰ Σιδῶνος εἰς τὴν θάλασσαν τῆς Γαλιλαίας ἀνὰ μέσον τῶν ὁρίων Δεκαπόλεως.

 32Καὶ φέρουσιν αὐτῷ κωφὸν καὶ μογιλάλον καὶ παρακαλοῦσιν αὐτὸν ἵνα ἐπιθῇ αὐτῷ τὴν χεῖρα.

 33καὶ ἀπολαβόμενος αὐτὸν ἀπὸ τοῦ ὄχλου κατ᾽ ἰδίαν ἔβαλεν τοὺς δακτύλους αὐτοῦ εἰς τὰ ὦτα αὐτοῦ καὶ πτύσας ἥψατο τῆς γλώσσης αὐτοῦ,

 34καὶ ἀναβλέψας εἰς τὸν οὐρανὸν ἐστέναξεν καὶ λέγει αὐτῷ· εφφαθα, ὅ ἐστιν διανοίχθητι.

 35 καὶ [εὐθέως] ἠνοίγησαν αὐτοῦ αἱ ἀκοαί, καὶ ἐλύθη ὁ δεσμὸς τῆς γλώσσης αὐτοῦ καὶ ἐλάλει ὀρθῶς.

 36καὶ διεστείλατο αὐτοῖς ἵνα μηδενὶ λέγωσιν· ὅσον δὲ αὐτοῖς διεστέλλετο, αὐτοὶ μᾶλλον περισσότερον ἐκήρυσσον.

 37καὶ ὑπερπερισσῶς ἐξεπλήσσοντο λέγοντες· καλῶς πάντα πεποίηκεν, καὶ τοὺς κωφοὺς ποιεῖ ἀκούειν καὶ [τοὺς] ἀλάλους λαλεῖν. (Mk. 7:31-37 BGT)

31 Rồi sau khi Người lại đi khỏi ranh giới vùng Tu-ros, Người lại đi xuyên qua vùng Xi-don vào vùng biển Ga-li-lai-a vào giữa ranh giới của vùng De-ca-po-lis.

32 và người ta mang đến cho Người một người điếc và ngọng và nài xin Người để Người có thể đặt tay trên anh.

33 và sau khi đưa riêng anh ta ra khỏi đám đông, Người đặt các ngón tay vào những cái tai của anh ta và sau khi nhổ nước miếng, Người chạm vào lưỡi anh ta

34 và sau khi nhìn lên trời, Người rên lên một tiếng và nói: Ép-pha-ta, nghĩa là “anh hãy được mở ra

35 và ngay lập tức những cái tai của anh mở ra và xiềng xích của lưỡi anh ta được tháo cởi và anh ta cứ nói chuẩn.

36 và Người nghiêm cấm họ để họ không thể nói với một ai nhưng Người càng cấm thì họ càng rao giảng nhiều hơn.

37 và người ta cực kỳ ngạc nhiên, nói rằng: “Người đã làm tất cả mọi sự tốt lành. Người thậm chí làm cho người điếc nghe được và người câm nói được”


Bối cảnh bản văn:

Đoạn Tin Mừng Mc 7,31-37 nằm trong loạt những hoạt động của Đức Giê-su ngoài vùng Ga-li-lê. Nó tiếp nối ngay sau trình thuật về phép lạ chữa lành con gái một người đàn bà gốc Phê-ni-xi, xứ Xy-ri-a (7,24-30). Mc 7,31-37 cũng là một phép lạ dành cho một người ngoại trên vùng De-ca-po-lis. Bé gái con người phụ nữ Phê-ni-xi bị quỷ ám (7,25), bệnh nhân trong câu chuyện này là một người vừa điếc vừa ngọng (7,32). Cả hai bệnh nhân trong hai câu chuyện đều có người cầu xin cho họ. Bà mẹ cầu xin tha thiết cho con gái (7,25-26) trong khi đó người ta mang người điếc và ngọng đến và xin Đức Giê-su đặt tay. Chữa bệnh bằng hình thức đặt tay là một thói quen của Đức Giê-su trong Tin Mừng Mác-cô (5,23; 6,5; 7,23; 8,23; 8,28; 10,13). Sau này, các môn đệ của Người cũng được ban cho khả năng này (16,16). Cùng với câu chuyện chữa lành con gái người phụ nữ Phê-ni-xi, câu chuyện này là bằng chứng cho thấy Đức Giê-su không xem người ngoại là ô uế, không thể tiếp xúc như những người Do Thái từng nghĩ. Trong trình thuật tranh luận về sự ô uế đích thực Đức Giê-su đã cho thấy rằng “thanh sạch” hay ô uế hệ tại ở lòng người, chứ không phải những thứ bên ngoài (Mc 7,1-23). Người đã thực hành điều này khi lần lượt đi qua nhiều vùng dân ngoại và cứu chữa ít nhất hai bệnh nhân ngoại giáo mà không sợ bị ô uế. Người có quyền trên các thần ô uế (Mt 10,1; Mc 1,27; 3,11; 5,8).

Cấu trúc

Ngoài phần bối cảnh, bản văn có thể được chia làm 3 cặp thành phần song song với nhau. Phần (A) Hành động của nhóm “người ta” // (A’) Phản ứng của họ sau khi thấy phép lạ (loan báo dù bị cấm); Phần (B) Những hành động của Đức Giê-su // (B) Những hiệu quả tỏ tường của những hành động ấy; (C) Mệnh lệnh “Ép-pha-ta” (hãy mở ra) // (C’) Mệnh lệnh “giữ im lặng”. 

Bối Cảnh: Nơi chốn (Tu-ros, Xi-don, Ga-li-lai-a, Deca-polis (7,31)

(A) Hành động của người ta: Mang bệnh nhân điếc và ngọng đến, xin Người đặt tay (7,32)

(B) Hành động của Đức Giê-su: Dẫn riêng ra – đặt ngón tay vào tai – nhổ nước miếng  chạm vào lưỡi  nhìn lên trời  rên lên một tiếng (7,33)

(C) Lệnh mở ra: Ép-pha-ta (7,34)

(B’) Hiệu quả những hành động Đức Giê-su: Nghe được và nói chuẩn (7,35)

(C’) Lệnh im lặng (7,36a)

(A’) Phản ứng của người ta: Loan báo (7,36b) và cực kỳ ngạc nhiên (7,37)

Một số điểm chú giải

1.     Các địa danh: Tu-ros, Xi-don, Deca-polis. Những vùng đất người thuật chuyện kể ở đây đều là vùng đất của người ngoại giáo. Ông muốn cho độc giả thấy rằng Đức Giê-su đang gieo bước hành trình về phía dân ngoại, sau cuộc đụng độ liên quan đến thanh sạch và ô uế với nhóm những Pha-ri-sêu và kinh sư, những nhà chuyên môn và giáo quyền Do Thái từ Giê-ru-sa-lem.

Tu-ros và Xi-don là hai thành phố cổ của vùng Phô-nê-xia, dọc theo biển Địa Trung Hải. Hiện nay hai thành phố này thuộc nước hiện đại Lê-ban-non. Tu-ros được biết đến từ thời Cựu Ước như là một thành phố rất kiên cố (Gs 19,29; 2 Sm 24,7). Vua Khi-ram của thành Tu-ros là bạn thân của vua Đa-vít (1 V 5,15). Chính vua này đã cung cấp gỗ bá hương, thợ mộc, thợ đẽo đá, và họ đã xây nhà cho vua Đa-vít (2 Sm 5,11; 1 Sbn 14,1; 22,4). Ông cũng cung cấp gỗ bá hương cho vua Sa-lô-mon để xây đền thờ Đức Chúa (1 V 9,11). Những người Tu-ros và Xi-don cũng giúp Ét-ra xây lại đền thờ (gọi là đền thờ thứ hai) (Er 3,7). Hoàng hậu Dê-de-bel, hiền thê của vua A-khát là người Xi-don (1 V 16,31). Xi-don được biết đến như là thành trì mà con cái Ít-ra-el không thể chinh phục trong cuộc chiến dành Đất Hứa (Tl 1,31). Có một thời dân Ít-ra-el chạy theo các thần của Xi-don (Tl 10,6-16; 1 V 11). Có rất nhiều lời ngôn sứ chống lại thành Tu-ros và Xi-don (Is 23; Gr 25; 27; 47; Ed 26 – 28; Ge 3; Am 1,9-10; Dcr 9,1-4). Na-bu-co-do-no-xo bao vây thành Tu-ros năm 585-572 CE. Alexander Đại Đế chinh phục Tu-ros năm 322 CE (và Xi-don năm 333) và phá hủy thành phố hoàn toàn. Sau này cả hai thành phố trở thành những tỉnh giàu có của đế quốc Rô-ma. Tác giả Tân Ước nhiều lần đề cập đến hai thành phố này. Dân cư của những thành phố này đã đến và nghe Đức Giê-su giảng (Mc 3,7-8; Lc 10,13). Vùng Tu-ros và Xi-don là nơi Đức Giê-su trừ quỷ cho con gái một phụ nữ người Ca-na-an (Mt 15:21-28; Mc 7,28-30). Đức Giê-su đề cập đến Tu-ros và Xi-don như hai thành được xét xử khoan hồng hơn hai thành của người Do Thái (Co-ra-zin và Bết-sai-da) (Lc 10,13-14; Mt 11,20-24), vì dân cư hai thành này đã không hoán cải khi nghe Đức Giê-su rao giảng.

Deca-polis (αἱ δέκα πόλεις: Mười thành phố)[1] ở phía Đông của sông Giordan và phía Đông Nam hồ Ga-li-lai-a. Đây là vùng dân cư của người Hy-lạp (Vương quốc Seleucid: 312-63 CE). Khi Rô-ma chinh phục Sy-ri-a năm 63 CE, họ gọi 10 thành này cũng như vùng được nối kết với nó là vùng “Decapolis”. Cũng giống như dân Tu-ros và Xi-don, dân miền Deca-polis cũng đến với Đức Giê-su để nghe Người giảng (Mt 4,24-25). Đức Giê-ru trừ đạo binh quỷ và cho chúng nhập vào đàn heo ở Ghê-ra-sa (một thành vùng Deca-polis) (Mc 5,9-20), kết quả là danh Người được rao giảng khắp vùng Thập Tỉnh. Người tiếp tục chữa một người vừa điếc vừa ngọng cũng ở vùng này (7,31-37), là câu chuyện chúng ta đang tìm hiểu. Sau phép lại này, dân chúng cũng kinh ngạc và rao giảng về Người.

Sự diễn tả cách ngắn gọn về những vùng Đức Giê-su băng qua (Tu-ros – Xi-don – Biển Ga-li-lai-a – Deca-polis. Tuy nhiên, trên thực tế đó là một vùng địa lý rất rộng lớn, từ bờ biển Địa Trung Hải (Tu-ros và Xi-don), Đức Giê-su băng qua Ga-li-lai-a, hoặc băng qua sông Gio-đan để đi vào ranh giới vùng Thập Tỉnh. Đó là hành trình dài từ Nam đến Bắc (Tu-ros – Xi-don), rồi từ Tây Bắc xuống Đông Nam (Biển Địa Trung Hải – Biển Ga-li-lai-a). Tác giả nói như thế, có thể để dẫn từ phép lạ trừ quỷ ở vùng Phê-ni-xi, bờ biển Địa Trung Hải qua phép lạ chữa bệnh ở vùng Thập Tỉnh, nhưng cũng để nhấn mạnh đến địa hình rộng lớn từ Đông Tây Nam Bắc tất cả các vùng dân ngoại Đức Giê-su đã đi qua.

2.     Người ta mang đến … nài xin (παρακαλοῦσιν): Một động từ ngôi thứ ba số nhiều được dùng để diễn tả hành động của một nhóm người hỗ trợ bệnh nhân. Đây là cách diễn tả thường thấy trong các phép lạ của Mác-cô: “Vào lúc hoàng hôn, người ta mang đến cho Người tất cả những người bệnh và bị quỷ ám” (1,32); “Người ta mang đến cho Người một người khiếm thị và xin Người chạm vào anh” (8,22). Bằng cách này, Mác-cô đưa những chứng nhân của dấu lạ vào câu chuyện. Họ là nhóm người vô danh, nhưng là những nhân vật nổi bật của câu chuyện như sẽ thấy sau. Đặc tính tích cực của những người này là niềm tin và niềm hy vọng mà họ có trước lúc phép lạ xảy ra và những đặc tính tốt này sẽ được củng cố sau phép lạ này. Sau khi mang bệnh nhân đến, họ nài xin Đức Giê-su để Người có thể đặt tay trên anh. Hành động nài xin vừa cho thấy lòng nhiệt thành bác ái đối với bệnh nhân, vừa cho thấy niềm hy vọng họ đặt vào Đức Giê-su. Cả hai động từ “mang đến” và “nài xin” đều dùng ở thì hiện tại để diễn tả một hành động trong quá khứ. Thì hiện tại này trong văn phạm Hy Lạp thường được gọi là “hiện tại mang tính lịch sử”. Nó thường dùng để làm cho hành động trở nên sống động, sinh động như là độc giả đang ở trong câu chuyện đang được kể vậy.[2] Yêu cầu chữa lành là một phần của cấu trúc trình thuật phép lạ, và động từ parakaleo (nài xin) được sử dụng tương tự trong 1,40; 5,23; 8,22.[3]

3.     Điếc và ngọng: Câm và điếc dường như là căn bệnh khá phổ biến trong xã hội Do Thái thời Đức Giê-su. Bệnh câm thường được gắn liền với tình trạng bị quỷ ám (người câm bị quỷ ám: Mt 9,32; cháu bị quỷ câm ám: Mc 9,17; người bị quỷ ám vừa mù vừa câm: Mt 12,22). Sau khi Đức Giê-s trừ quỷ rồi thì người câm nói được (Mt 9,33; Lc 11,14). Đức Giê-su có lần gọi “thần ô uế” là “thần câm và điếc”: “Thần câm và điếc kia, Ta truyền cho ngươi, hãy ra khỏi anh ta và không bao giờ nhập vào nữa” (Mc 9,25). Sứ mạng trừ quỷ là sứ mạng chính yếu của Đức Giê-su. Trong câu chuyện này không nhắc gì đến quỷ và trừ quỷ. Có thể đây là một căn bệnh liên quan đến quỷ câm điếc. Bệnh điếc gợi nhớ những niềm hy vọng của những người lưu đày trở về trong sách ngôn sứ I-sai-ah: “Mắt của người mù sẽ được mở ra, và tai của người điếc sẽ hết điếc” (Is 35,5-6).[4] Làm cho người điếc nghe được là một trong những sứ vụ của Đấng Mê-si-ah như đã được nhắc lại trong Tin Mừng: “Người mù xem thấy, kẻ què đi được, người phong được sạch, người điếc nghe được, người chết sống lại, người nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5; Lc 7,22). Không phải tình cờ mà người điếc là một người ngoại, bởi vì dân ngoại thường được liên kết với “sự điếc” trong nhiều đoạn văn của các sách ngôn sứ trong Cựu Ước (Is 42,17-19; 43,8-9; Mc 7,16) vì họ bị cho là không nhạy cảm với Lời Chúa.[5]

4.     Đặt tay (ἐπιθῇ αὐτῷ τὴν χεῖρα) … Đặt những ngón tay vào đôi tai: Đặt tay chữa lành là một trong những cách chữa bệnh của Đức Giê-su đã được dân chúng biết đến. Người thủ lãnh hội đường tin rằng Đức Giê-su có thể đặt tay và chữa lành con gái của ông (Mc 5,23; Mt 9,18); Người đặt tay trên một vài bệnh nhân ở làng quê Na-gia-rét và chữa lành họ (Mc 6,5); Người đặt tay trên anh mù và chữa lành mắt anh (Mc 8,23-25). Các môn đệ sau này cũng có khả năng đặt tay chữa bệnh như Đức Giê-su (Mc 10,16). Đức Giê-su đã đặt tay vào tai của bệnh nhân chứ không phải đặt tay trên anh như suy nghĩ của nhóm người này. Môn đệ Kha-na-ni-a ở Đa-mát đã đặt tay trên Phao-lô (lúc ấy đang bị mù) và Phao-lô thấy cái gì bong ra khỏi mắt ông và ông lại nhìn thấy được (Cv 9,12.17-18). Thánh Phao-lô cũng đã đặt tay và chữa lành bệnh kiết lị cho thân sinh của ông Púp-li-ô ở đảo Man-ta (Cv 28,8). Chữa bệnh bằng hành động chạm vào bệnh nhân cũng là cách thức phổ biến trong Tin Mừng Mác-cô (1,31.41; 5,23.41; 8,22; 9,27).

5.     Mang một mình anh khỏi đám đông: Mác-cô diễn tả hành động này rất chi li, đôi khi có vẻ trùng lặp với một động từ apolambano (mang ra một bên), trạng ngữ kat’ idian (cách riêng tư), ngữ giới từ “khỏi đám đông”. Trạng ngữ kat’ idian thường được dùng để diễn tả sự tách riêng với các môn đệ: “Người không bao giờ giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn, nhưng khi thầy trò ở riêng với nhau, thì Người giải thích hết” (4,34); “Thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng” (6,31-32); (Cf. 9,2.28; 13,3). Trong toàn bộ Tin Mừng Mác-cô, có hai lần Đức Giê-su dẫn bệnh nhân riêng ra một nơi để chữa bệnh. Ngoài câu chuyện này, trong câu chuyện chữa lành người mù Bết-sai-đa (Mc 8,23-26), Người cũng “dẫn anh ra khỏi làng, rồi nhổ nước miếng vào mắt anh, đặt tay trên anh và chữa lành. Hành động này có thể là một bằng chứng cho thuyết gọi là là “Bí Mật Mê-si-ah” trong Tin Mừng Mác-cô.[6]

6.     Nhổ nước miếng… chạm vào lưỡi: Trong thế giới của Hy-Rô hay Do Thái, nước miếng của con người được xem là có chức năng chữa lành.[7] Dùng nước miếng để chữa bệnh là một thực hành không phải là một hình thức xa lạ trong vùng Địa Trung Hải ngày xưa, như chúng ta thường cảm thấy ngày nay. Trong thực tế, có rất nhiều trình thuật ngoài Thánh Kinh liên quan đến việc dùng nước bọt để chữa lành, đặc biệt đối với tật khiếm thị. Câu chuyện nổi tiếng được Tacitus kể (Histories 4,81), về cách mà một người ở Alexandria được cứu chữa bằng nước bọt của hoang đế Vespasian.[8] Đức Giê-su nhổ nước miếng ở đâu và làm gì với nước miếng? Có thể có 3 cách giải thích: (i) Người nhổ nước bọt trên mặt đất như là một dấu hiệu coi khinh đối với quỷ gây đau khổ cho bệnh nhân; (ii) Người nhổ nước bọt trên những ngón tay, rồi dùng những ngón tay chạm vào lưỡi bệnh nhân; (iii) Người nhổ nước bọt trên miệng của bệnh nhân. Cách giải thích thứ hai có vẻ hợp lý nhất, vì những ngón tay của Người được đề cập sau đó.[9] Tuy vậy, cách hiểu thứ ba cũng có khả năng. Trong phép lạ chữa lành anh mù ở Bết-sai-đa, Đức Giê-su nhổ nước miếng vào mắt của người mù (Mc 8,23). Khi chữa cho người mù từ thuở mới sinh trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su lại nhổ nước miếng trên đất và trộn với đất làm thành bùn rồi bôi lên mắt người mù (Ga 9,6). Đức Giê-su đang ở trong vùng dân ngoại, cho nên cách chữa bệnh của Người cũng có vẻ bộc lộ niềm tin nhân gian, xen lẫn với năng lực thần linh của Người.

7.     Nhìn lên trời: Ngữ động từ “nhìn lên trời” được Mác-cô sử dụng hai lần. Lần thứ nhất: trong phép lạ hóa bánh ra nhiều, trước khi bẻ bánh Đức Giê-su cũng ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng (Mc 6,41; Cf. Mt 14,19; Lc 9,16). Sự “ngước mắt lên trời” nhấn mạnh chiều kích thần linh trong quyền năng làm phép lạ của Đức Giê-su.[10] Dấu hiệu này cũng có thể diễn tả lời kêu cầu lên Thiên Chúa của Đức Giê-su, nhằm tìm thấy sự trợ giúp trong việc cứu chữa.[11] Trong bối cảnh này, Đức Giê-su nhìn lên trời rồi “rên lên một tiếng”. Tiếng rên này có thể là một biểu lộ cảm xúc thương xót đối với bệnh nhân, nhưng cũng có thể biểu hiện của sự tập trung sức mạnh tinh thần trước khi làm điều quan trọng.[12]

8.     Ép-pha-tha (εφφαθα): Là chuyển tự của một động từ tiếng Aram. Mác-cô có lẽ viết cho ki-tô hữu gốc dân ngoại, không nói tiếng Aram nên ông phải giải nghĩa ngay sau đó (có nghĩa là hãy được mở ra). Có rất nhiều lần Mác-cô ghi lại câu nói tiếng Aram, hoặc của người thuật chuyện, của Đức Giê-su kèm theo lời giải nghĩa. Hai anh em Gia-cô-bê và Gioan được Đức Giê-su gọi là “Bo-an-ne-ges” (nghĩa là những đứa con của thần sấm) (3,17); Đức Giê-su gọi bé gái: “Talitha koum” (nghĩa là này bé gái, Ta bảo con, hãy trỗi dậy) (5,41); “Kor-ban” (nghĩa là tặng phẩm) (7,11); “Ép-pha-tha” (nghĩa là hãy được mở ra) (7,34); “Áb-ba” (nghĩa là Cha ơi) (14,36); “Gol-go-tha” (nghĩa là nơi của cái sọ) (15,22); “Eloi eloi lema xabakhthani” (nghĩa là “Lạy Chúa của con, lạy Chúa của con sao Ngài bỏ rơi con” (15,34). Theo Mác-cô dường như Đức Giê-su thường dùng tiếng Aram trong những câu nói khá quan trọng như vừa liệt kê trên. Ép-pha-tha là mệnh lệnh quyết định để phép lạ được hoàn tất cách tốt đẹp. Đây là lời có uy quyền vì sau lời này phép lạ liền xảy ra.

9.     Xiềng xích của lưỡi anh ta được tháo cởi: Ứng với căn bệnh của anh này là “ngọng” (khó nói), Đức Giê-su có giải pháp cởi trói cho lưỡi của anh. Tính từ “μογιλάλος” cũng có nghĩa là “lưỡi bị trói lại”. Chính vì thế, sau khi Đức Giê-su nói “Ép-pha-tha”, người thuật chuyện nói rằng xiềng xích, hay cái mà trói buộc lưỡi của anh “được tháo cởi ra”. Trong Tin Mừng Mác-cô, đây có lẽ là thuật ngữ có tính trừ quỷ nhất, sách phép thuật Hy Lạp chứng nhận các phép thuật cho việc trói lưỡi của một kẻ thù và như thế làm cho anh ta bị câm. Một thuật ngữ dường như giống hệt, có tính trừ tà được dùng trong Lc 13,16, trong đó người đàn bà bị còng lưng cũng bị Satan trói buộc 18 năm dài.[13] Với ngôn ngữ như thế, phải chăng Mác-cô cũng ngụ ý bệnh ngọng của người này liên quan đến quỷ như là quỷ câm (Mc 9,17.25). Sau khi lưỡi được “cởi trói” thì người này “nói luyên thuyên một cách chuẩn xác” (7,35). Động từ “nói” được chia ở thì vị hoàn, một loại thì diễn tả hành động kéo dài liên tục, đi kèm với một trạng từ chính xác (ὀρθῶς). Tình trạng của bệnh nhân đã được thay đổi một cách hoàn toàn. Anh đã hoàn toàn khỏi bệnh và có thể hòa nhập cộng đồng qua việc giao tiếp bình thường.

10.  “Người nghiêm cấm không được nói”[14]: Cách thức Đức Giê-su cấm tiết lộ thông tin về phép lạ này được gọi theo từ chuyên môn là “bí mật Mê-si-ah, được học giả W. Wrede đề xuất trong tác phẩm Das Messiasgeheimnis in den Evangelien năm 1901. Ví dụ điển hình và rõ ràng nhất về bí mật này là ở Mc 8,31. Sau khi Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Đức Giê-su liền “cấm ngặt họ không được nói cho bất kỳ ai về Người”.[15] Ngoài ra, còn nhiều bản văn khác Đức Giê-su ra lệnh “giữ im lặng” cho “thần ô uế” (1,25.33) lý do mà Mác-cô đưa ra là “vì chúng đã biết Người” (1,34). Khi thần ô uế kêu lên: “Ông là Con Thiên Chúa, Người lại cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là ai” (Mc 3,11-12). Thêm vào đó, nhiều lần Đức Giê-su ra lệnh cho những người được chữa lành không được tiết lộ phép lạ: Người phong cùi (Mc 1,44), những chứng nhân trong câu chuyện chữa con gái ông Giai-i-ro (5,43), những chứng nhân của phép lạ chữa lành người vừa điếc vừa ngọng (7,31-36). Trong trình thuật về biến hình, Đức Giê-su cũng cấm Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan kể lại những gì họ thấy trên núi. Tuy nhiên, lệnh cấm này có thời hạn “cho đến khi Con Người đã sống lại từ cõi chết” (9,9). Một cách giải thích truyền thống là sở dĩ Đức Giê-su không muốn tiết lộ thân phận Mê-si-ah vì sợ rằng nhiều thành phần dân chúng sẽ dùng nó như là dịp để nổi dậy về quân sự. Tác giả Wrede thì cho rằng Mác-cô cố gắng giải thích niềm tin của Giáo hội vào Đức Giê-su như Đấng Mê-si-ah và thực tế lịch sử cho thấy rằng trong suốt hành trình sứ vụ công khai, Đức Giê-su không tự giới thiệu mình như là Đấng Mê-si-ah. Cách giải thích tốt hơn và được chấp nhận rộng rãi hơn là Mác-cô tìm cách định nghĩa lại thuật ngữ Mê-si-ah và những danh hiệu ki-tô học khác dưới ánh sáng của cái chết và phục sinh của Đức Giê-su nên ông để việc bộc lộ căn tính thực của Đức Giê-su cho đến cái chết của Người (15,39) và sự phục sinh của Người (9,9).[16] Dầu vậy, lạ lùng thay, Đức Giê-su nói với người đàn ông bị quỷ ám ở Ghê-ra-sa (một tỉnh trong miền Thập Tỉnh) là hãy về nhà và kể cho bạn bè “bao nhiêu chuyện Chúa đã làm cho anh” (5,19). Rồi, anh ta ra đi và rao truyền trong miền Thập Tỉnh (Deca-polis) tất cả những gì mà Đức Giê-su đã làm cho anh (Mc 5,20). Cũng có thể nhờ vào lời rao giảng của anh, mà khi Đức Giê-su trở lại miền Thập Tỉnh lần này, người ta đã biết và mang người điếc và ngọng đến để xin Người đặt tay chữa lành.

11.  Cứ rao giảng hoài”: Đức Giê-su đã nghiêm cấm để họ không nói cho ai nghe về phép lạ này. Tuy nhiên, lạ lùng thay, Người càng cấm thì họ càng rao giảng thì họ càng rao giảng cho nhiều người hơn. Giống như là quy luật bình thường trong xã hội xưa nay. Cái gì càng cấm thì càng trở nên hấp dẫn và người ta lại muốn làm cho được. Ông bà nguyên tổ bị cấm ăn trái cây giữa vườn Eden thì họ lại muốn ăn cho được (St 2,17). Cả hai động từ “ra lệnh, cấm” (của Đức Giê-su) và “rao giảng” (của người ta) đều được chia ở thì chưa hoàn thành, diễn tả một hành động đang tiếp diễn: Đức Giê-su cứ ra lệnh cấm, thì họ cứ rao giảng. Cấm không cho ai biết nhưng cuối cùng rồi ai cũng biết hết. Nghịch lý này trong Tin Mừng Mác-cô được các nhà chuyên môn gọi là “Bí Mật – Công Khai”. Đây là kiểu hành văn tương phản giữa “giữ kín” và “lan truyền”. Trong bối cảnh này, có thể là Mác-cô muốn làm nổi bật sự bùng nổ của niềm vui được chữa lành, niềm vui của Tin Mừng mà Đức Giê-su mang đến quá lớn, đến nỗi cả bệnh nhân và những người chứng kiến không thể giữ im lặng được.[17] Họ phải nói những điều mắt thấy tai nghe cho thỏa mãn sự sung sướng của họ và bày tỏ niềm vui mà Chúa đã ban cho họ, dù họ là dân ngoại.

Bình luận tổng quát

Sau tranh luận với những người đứng đầu Do Thái, những kinh sư và những người Pha-ri-sêu, về đề tài liên quan đến thanh sạch và ô uế, Đức Giê-su đã đi về vùng dân ngoại, những người bị xem là ô uế theo quan điểm của người Do Thái cho đến thời của Đức Giê-su. Dĩ nhiên, Đức Giê-su đến thành Tu-ros, một thành phố dọc biển Địa Trung Hải, không phải để nghỉ mát tắm biển. Người đến đó vì nơi ấy có những người đau khổ cần đến sự an ủi và trợ giúp của Người. Người phụ nữ Phê-ni-xi gốc Xy-ri là một trong số những người bất hạnh ở đó. Bà đã đến để xin Đức Giê-su trừ quỷ cho con gái của bà. Mặc cho Đức Giê-su nói với bà câu tục ngữ: “Hãy để cho con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh con cái mà ném cho chó con” (7,27), bà vẫn kiên trì, khiêm tốn đáp lại: “Nhưng con chó dưới gầm bàn cũng được ăn những mảnh vụn của đám trẻ con” (7,28). Đức Giê-su đã chịu thua sự kiên trì và khiêm nhường của một người phụ nữ gốc dân ngoại. Đức Giê-su đã trừ quỷ cho con gái của bà mà không cần phải đến nhà của bà. Họ quả thật không phải là những người ô uế như người ta thường nghĩ. Đức Giê-su đã phá tan tư tưởng ấy. Người cho người ta thấy rằng không hề có loại người ô uế và loại người thanh sạch; không có loại người cấp cao và loại người cấp thấp. Tất cả đều là con người, hình ảnh của Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa. Sau đó Người tiếp tục quay trở lại miền Deca-polis. Trước đây, Người đã trừ một đạo binh quỷ ở tỉnh Ghê-ra-sa (một tỉnh trong miền Thập Tỉnh) và danh tiếng của Người đã được rao truyền khắp cả vùng. Chính vì thế, lần này Người đến hẳn là một niềm vui và hy vọng rất lớn đối với họ. Họ lập tức mang đến cho Người một người vừa điếc lại vừa ngọng. Đây là một người tượng trưng cho sự hạn chế về cả sự lắng nghe và sự giao tiếp bằng ngôn ngữ. Có thể, anh ta cũng ở dưới sự khống chế của quỷ câm, vì lưỡi anh ta bị buộc lại. Khác với con gái người phụ nữ Phê-ni-xi, bệnh nhân này được Đức Giê-su tiếp xúc một cách trực tiếp với những tác động cụ thể trên anh. Người đặt những ngón tay vào đôi tai của anh và nhổ nước miếng rồi chạm vào lưỡi anh. Đây là những cái chạm đầy tình người, cùng một cái nhìn lên trời trong bầu khí cầu nguyện, nối kết với Chúa Cha. Cuối cùng một lời nói có uy quyền đã mở tai bệnh nhân và cởi trói cho lưỡi anh. Những hành động của Đức Giê-su (chạm vào tai, nhổ nước bọt, chạm vào lưỡi) phù hợp với thế giới dân ngoại, nơi mà Người tương tự như những người chữa bệnh dân ngoại và vượt xa họ về hiệu quả (nhất là bằng hiệu lệnh của Người).[18] Từ khoảnh khắc đó, anh đã được phục hồi thân phận làm người một cách trọn vẹn, nghe được Tin Mừng và nói được Tin Mừng. Tin Mừng Đức Giê-su mang đến là một Tin Vui có tính bùng nổ, không thể dấu kín được. Mặc cho người cấm đoán hoài thì họ cứ loan báo hoài Tin Mừng được chữa lành, tin vui được gặp Chúa. Phép lạ dành cho người câm và ngọng không còn là niềm vui và ân sủng dành cho riêng anh, nhưng là niềm hạnh phúc cho toàn thế giới dân ngoại. Đấng Mê-si-ah đã không ngần ngại bước qua vùng dân ngoại và ban niềm vui cho họ. Phép lại này được khởi sự bằng sáng kiến bắt nguồn từ niềm hy vọng của nhóm người hỗ trợ cho bệnh nhân này. Nhân vật được chữa lành dường như thụ động. Cuối trình thuật cũng chính nhóm người này rao giảng về phép lạ và họ kinh ngạc nói rằng: “Tất cả mọi điều Người làm đều tốt lành, Người làm cho người câm nói được, cho người mù được thấy”. Câu tóm tắt này như một sự hoàn tất của lời ngôn sứ I-sai-ah được đặt trên môi miệng của dân ngoại: “Rồi mắt người mù sẽ được mở ra, và tai của người điếc thôi điếc; rồi người què sẽ nhảy nhót như nai và lưỡi của người câm ca hát vui mừng” (Is 35,5-6). Hơn nữa, động từ làm được dùng hai lần (làm mọi sự; làm cho người điếc nghe, người câm nói) cùng với trạng từ “tốt đẹp” (kalos) gợi nhớ đến công trình tạo dựng của Thiên Chúa trong (St 1,1 – 2,4a), trong đó mệnh đề “Thiên Chúa làm…” và “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp”.[19] Cách nói này của dân ngoại gián tiếp mạc khải Đức Giê-su chính là Thiên Chúa, bởi chỉ có Thiên Chúa mới làm mọi sự cách hoàn hảo. Đức Giê-su đã thực hiện một cuộc sáng tạo mới nơi vùng dân ngoại. Người mở tai để họ có thể nghe lời Chúa, Tin Mừng của Đấng Mê-si-ah. Người mở miệng của họ để họ có thể rao giảng Tin Mừng, niềm vui vỡ òa mà họ đã đón nhận và cảm nhận. Đức Giê-su đã cho thấy rằng người ngoại không phải là người ô uế. Họ cũng như bao nhiêu người khác. Họ có khả năng nhạy cảm với tiếng Chúa, với Tin Mừng còn hơn những người Do Thái.

Hành động, tầm nhìn của Đức Giê-su hơn 2000 năm trước vẫn cho thấy một giá trị nhân văn cao quý cho người đương thời. Trong thời đại toàn cầu, sự nối kết địa lý trở nên dễ dàng. Việc di chuyển từ vùng này qua vùng khác Đông Tây Nam Bắc của quả địa cầu không còn mấy khó khăn nữa. Tuy nhiên, sự cởi mở đón nhận người khác, đi đến với người khác một cách vô vị lợi vẫn là điều hiếm thấy. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô với thông điệp “Fratelli tutti” (Tất cả là anh chị em) ban hành vào 03/10/2020 đã khơi dậy nơi tất cả các tín hữu, cũng như cư dân trên toàn thế giới một tình huynh đệ đại đồng. Người nhắc nhở tất cả mọi người trên thế giới này đều là anh chị em và mời gọi các quốc gia có thể mở rộng biên giới địa lý và con tim để đón nhận những anh chị em khốn khổ di cư, rời bỏ quê hương vì cơm áo hay vì lý do chiến tranh. Ngài kêu gọi chung tay loại bỏ con virus “chủ nghĩa cá nhân cực đoan” (n.105), để ra khỏi chính mình nhằm có thể thấy nơi tha nhân sự tăng trường của hiện hữu (n.88). Ngài quan niệm rằng lợi ích không có ranh giới, không ai có thể bị loại trừ, bất kể người đó là ai và được sinh ra ở đâu (n.121). Mỗi người ki-tô hữu được mời gọi mở rộng biên giới của con tim mình để loại bỏ virus ít kỷ cả nhân mà vươn mình đến với người khác, gia đình khác, quốc gia khác, chứ không chỉ là những người thân bạn hữu của mình. Biên giới của Đấng Mê-si-ah là không biên giới. Người đi mọi nơi, gặp gỡ và đem yêu thương mọi người.

Joseph Phạm Duy Thạch SVD

 



[1] Scythopolis, Hippos (It-ra-el ngày nay), Gadara, Pella, Raphana, Gerasa, Dion, Canatha (Gior-đan ngày nay), Damascus và Philadelphia (Xy-ri-a ngày nay) [xem. The Decapolis | Land of the Bible (land-of-the-bible.com); Decapolis Definition and Meaning - Bible Dictionary (biblestudytools.com)] (truy cập 31/08/2021).

[2] D.B. Wallace, Greek Grammar beyond the Baiscs (Grand Rapids 1996) 562.

[3] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2005) 240.

[4] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2005) 239.

[5] J. Marcus, Mark 1–8. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) XXVII, 472.

[6] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 240.

[7] Ibid.

[8] R.T. France, The Gospel Of Mark. A Commentary on The Greek Text (NIGTC; Grand Rapids 2002) 303.

[9] J. Marcus, Mark 1–8, 473.

[10] R.T. France, The Gospel Of Mark, 303.

[11] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 371; Nhìn lên trời thường là dấu hiệu của sự cầu nguyện [J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 240].

[12] Ibid.

[13] J. Marcus, Mark 1–8, 473.

[15] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2005) 27.

[16] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 28.

[17] X. J.L.M. Thông, “‘Bí Mật Công Khai’. Cấm Không Được Nói Mà Ai Cũng Biết!” [Tin Mừng Gio-an, Évangile de Jean, Gospel of John: “Bí mật công khai”. Cấm không được nói mà ai cũng biết! (TM Mác-cô) (leminhthongtinmunggioan.blogspot.com)] (truy cập 02/09/2021).

[18] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 242.

[19] J. Marcus, Mark 1–8, 480; W. Barclay, The Gospel of Mark (DSB; Philadelphia 2000, c1975) 182.