Wednesday, 10 February 2021

"VÌ CHẠNH LÒNG THƯƠNG, NGƯỜI ĐƯA TAY, CHẠM VÀO ANH"

Chú Giải Tin Mừng Chúa Nhật VI TN B (Mc 1,40-45)

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lp

Việt

40 Καὶ ἔρχεται πρὸς αὐτὸν λεπρὸς παρακαλῶν αὐτὸν [καὶ γονυπετῶν] καὶ λέγων αὐτῷ ὅτι ἐὰν θέλῃς δύνασαί με καθαρίσαι.

 41 καὶ σπλαγχνισθεὶς ἐκτείνας τὴν χεῖρα αὐτοῦ ἥψατο καὶ λέγει αὐτῷ· θέλω, καθαρίσθητι·

 42 καὶ εὐθὺς ἀπῆλθεν ἀπ᾽ αὐτοῦ ἡ λέπρα, καὶ ἐκαθαρίσθη.

 43 καὶ ἐμβριμησάμενος αὐτῷ εὐθὺς ἐξέβαλεν αὐτὸν

 44 καὶ λέγει αὐτῷ· ὅρα μηδενὶ μηδὲν εἴπῃς, ἀλλ᾽ ὕπαγε σεαυτὸν δεῖξον τῷ ἱερεῖ καὶ προσένεγκε περὶ τοῦ καθαρισμοῦ σου ἃ προσέταξεν Μωϋσῆς, εἰς μαρτύριον αὐτοῖς.

 45 Ὁ δὲ ἐξελθὼν ἤρξατο κηρύσσειν πολλὰ καὶ διαφημίζειν τὸν λόγον, ὥστε μηκέτι αὐτὸν δύνασθαι φανερῶς εἰς πόλιν εἰσελθεῖν, ἀλλ᾽ ἔξω ἐπ᾽ ἐρήμοις τόποις ἦν· καὶ ἤρχοντο πρὸς αὐτὸν πάντοθεν.

 (Mk. 1:40-45 BGT)

 

40 Rồi, một người cùi đến với Người, kêu cầu Người [quỳ gối xuống] và nói cùng Người rằng: “Nếu Ngài muốn Ngài có thể làm cho tôi được sạch

41 Và vì thương xót, Người giơ tay ra, đụng vào anh ta và nói: “Tôi muốn, anh hãy được sạch

42 Và ngay lập tức bệnh cùi rời khỏi anh ta và anh ta được thanh tẩy.

43 Và sau khi nghiêm cấm anh ta, Người đuổi anh ta đi.

44 Người nói cùng anh ta: “Coi chừng! không được nói điều gì với một ai (sát chữ: nói không gì với không một ai) nhưng anh hãy đi trình diện cho các tư tế dâng lễ vật liên quan đến sự thanh tẩy của anh, điều mà ông Môsê đã truyền lệnh, để làm bằng chứng cho họ”

45 Nhưng sau khi ra khỏi đó anh ta bắt đầu rao giảng rất nhiều và nói với mọi người sự kiện đó, đến nỗi Người không thể đi vào thành nào một cách công khai, nhưng Người ở ngoài những nơi hoang vắng. Và họ đến với Người từ các hướng khác nhau.

 

 

Bối cảnh

Đoạn văn trước kết thúc bằng một câu tóm kết tổng quát về hành trình rao giảng và trừ quỷ của Đức Giêsu: “Người đi khắp cả vùng Galilê rao giảng trong các hội đường của họ và trừ quỷ” (1,39). Mc 1,40-45 tách biệt khỏi trình thuật trước đó bằng sự chuyển đổi về nhân vật và cốt truyện. Nó khởi đầu bằng việc một bệnh nhân phong cùi đến với Đức Giêsu. Tiếp theo đó là phép lạ chữa lành và lệnh cấm không được nói cho ai về sự việc. Đoạn văn lại kết thúc bằng câu tóm kết: Đức Giêsu ở trong những nơi sa mạc và người ta khắp các ngả đường đến với Người. Đoạn sau đó lại đánh dấu sự thay đồi về nơi chốn khi Đức Giêsu quay về nhà ở Caphácnaoum. Như thế, đoạn văn này nằm cuối chương một, là đoạn kết của hành trình rao giảng thứ nhất của Đức Giêsu ngoài thành Caphácnaoum. Hành trình này được tóm kết bằng việc rao giảng và trừ quỷ, chỉ có một phép lạ chữa bệnh duy nhất được ghi lại. Đó là phép lạ thanh tẩy người phong cùi.

Cấu trúc

Trình thuật Mc 1,40-45 có những yếu tố song song với nhau. Bản văn khởi đầu và kết thúc bằng động từ đến (erkhomai). Đây là cấu trúc đóng khung inclusio: mở đầu và kết thúc bằng cùng một yếu tố. 1,40 mở đầu việc người phong hủi đến với Đức Giêsu. 1,45 kết thúc với việc nhiều người từ nhiều ngả đến với Đức Giêsu. Diễn tiến câu chuyện được nối kết chặt chẽ bằng những yếu tố song song. Người phong hủi xin Đức Giêsu làm cho anh ta được sạch theo như ý Người muốn// Đức Giêsu bày tỏ ý muốn và làm cho anh ta được sạch. Tiếp theo sau đó là lệnh cấm của Đức Giêsu: không được nói với ai về bất cứ chuyện gì (1,42)// lệnh cấm không được thi hành: rao giảng và nói với mọi người về mọi chuyện (1,45a). Sau đây là một phác họa để độc giả thấy phần nào cấu trúc của câu chuyện.

A. Người phong cùi đến với Đức Giêsu

B. Xin tẩy sạch: nếu Thầy muốn – hãy làm cho tôi được sạch (1,40)

B’. Tẩy sạch: Ta muốn – hãy được sạch (1,41)

C. Đức Giêsu: Nghiêm cấm – đuổi đi: Không được nói vơi bất kỳ ai về bất cứ điều gì (1,42)

C’. Người cùi: Đi ra – rao giảng – nói với mọi người về mọi chuyện (1,45a)

A’. Nhiều người từ nhiều ngả đến với Đức Giêsu (1,45b)

 

Một số điểm chú giải

1.     “Một người cùi kêu cầu Người”:λεπρὸς”, một người mắc bệnh phong cùi trong tiếng Việt. Thật ra, từ nay trong tiếng Hy Lạp diễn tả nhiều tình trạng khác nhau trong đó da bị nổi vảy sần sùi, hoặc tấy đỏ, chảy nước. Nó không phải là là bệnh liên quan đến trùng Hansen như người ta gọi ngày này. Như sách Lêvi chương 13-14 diễn tả, bệnh thường là bệnh phát triển nhanh và người ta sẽ khỏi, còn bệnh cùi hủi kéo dài nhiều nằm và không thể chữa khỏi.[1] Sách Lêvi (sách thứ 3 trong Bộ Ngũ Thư), liệt kê rất nhiều chứng bệnh ngoài da và Đức Chúa nói với ông Môsê hướng dẫn cụ thể cho từng trường hợp. Họ sẽ được tư tế Aharon thăm khám và tuyên bố là ô uế hay không (Lv 13,3). Những người được xem là có bệnh hủi và bị tuyên bố là ô uế thì bị cách ly bảy ngày. Sau bảy ngày lại được thăm khám nếu vết lở loét còn thì lại cô lập cách ly thêm bảy ngày nữa (Lv 13,4-5). Người phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên: “Ô uế, ô uế!” bao lâu còn mắc bệnh thì nó còn ô uế; khi nó ô uế thì nó phải ở riêng ra, chỗ của nó là một nơi bên ngoài trại” (Lv 13,45-46). Như vậy, nỗi đau đớn khốn cùng của người bệnh hủi không chỉ là đau đớn về thể xác, nhưng còn là đau đớn về tinh thần tâm linh. Họ không được ở chung với người thân, dân làng. Họ bị xem là ô uế. Mà ô uế là ngược lại với thánh thiện, không thuộc về Thiên Chúa. Người đàn ông này chắc chắn không ở trong làng cùng với người ta. Anh ta tiếp cận với Đức Giêsu ở một nơi nào đó ngoài khu dân cư. So với các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm, Luca có thêm một câu chuyện chữa lành mười người phong hủi. Mười người này phải đứng xa xa và kêu lớn tiếng, chứ không được tiếp cận (17,13). Trong trình thuật này người này không phải đứng xa và kêu lớn tiếng. Nhiều bản thảo còn thêm hành động “anh ta quỳ xuống” và trong bản của Mátthêu, cũng ghi lại hành động quỳ xuống này (Mt 8,2).

2.     “Nếu Ngài muốn… Ta muốn”: Điều đáng ghi nhận ở đây là anh ta cầu xin trong tư thế hỏi ý của Đức Giêsu. Sự cầu xin đã giả thiết một niềm tin tưởng thật sự vào khả năng chữa lành của Đức Giêsu. Trước đó Máccô đã cho độc giả biết là Đức Giêsu đã chữa lành mẹ vợ của Simon và vô số bệnh nhân đủ các loại (Mc 1,31.34). Danh tiếng Người được truyền ra khắp vùng lân cận miền Galilê (1,28). Người hủi này chắc chắn đã nghe và đã tin và hy vọng vào Đức Giêsu. Nhưng điều đáng nói là anh ta nói rằng “nếu Ngài muốn”. Mẫu thức này gợi nhớ độc giả về lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu, trong giây phút khốn cùng Đức Giêsu cũng xin cùng Chúa Cha là “hãy theo ý Cha” (Mt 26,42; Cf. Lc 22,42). Đức Giêsu xem việc thi hành ý muốn của Đấng đã sai Người là lương thực của chính mình (Ga 4,34). Sự đau đớn về bệnh tật không làm cho người đàn ông này quên đi nhân cách sống của một tín hữu, thể hiện qua việc đặt ý muốn của Đấng Chúa sai đến trên ý muốn của riêng mình. Đáp trả lại đức tin trưởng thành của anh ta, Đức Giêsu không ngần ngại đáp trả: “Ta muốn”. Đó là một lời đáp trả hoàn hảo cho một lời cầu xin hợp lòng Chúa. Chúa, dĩ nhiên, muốn ban ơn chữa lành cho những người có niềm tin tưởng phó thác vào Chúa, dù Chúa có làm hay không.

3.     Chạnh lòng thương… đưa tay ra…chạm lấy anh”: Sau khi nghe lời cầu xin của anh ta, Đức Giêsu thực hiện một loạt 3 hành động. Động từ “σπλαγχνίζομαι” có nghĩa là (chạnh lòng thương, cảm thông, thương xót), được chia ở dạng phân từ (V-ing trong tiếng Anh), rất có thể là diễn tả nguyên nhân: “vì Người chạnh lòng thương nên…”. Các bản dịch hiện đại đều bỏ qua cách dùng của phân từ này. Họ chỉ dịch hành động chung chung: “Người chạnh lòng thương” (CGKPV); “Pris de Pitié” (TOB) ; “moved with pity” (ESV) ; “ne ebbe compassione” (CEI). Động từ này được dùng đa số cho Đức Giêsu cách trực tiếp hoặc ám chỉ. Nó được dùng để diễn tả lòng xót thương của người cha trong dụ ngôn “người cha nhân hậu” (Lc 15,20). Người Samaritano nhân hậu trong dụ ngôn cũng “chạnh lòng thương” khách bị nạn (Lc 10,33). Đức Giêsu “chạnh lòng thương” vì đám đông bơ vơ như đàn chiên không có mục tử (Mt 9,36; cf. 14,14; Mc 6,34). Đức Giêsu cũng “chạnh lòng thương” bà góa thành Nain có con trai một bị chết. Rõ ràng, động từ “chạnh lòng thương”  là động từ mang nhãn hiệu độc quyền của Đức Giêsu. Mỗi khi Người “chạnh lòng thương”, Người đều làm những phép lạ cụ thể và cao cả. Phát xuất từ con tim yêu thương, Đức Giêsu đã không ngần ngại đưa tay ra, và chạm vào anh ta. Như đã nói trên, theo luật của sách Lêvi, người ta phải tránh lại gần hay tiếp xúc những người bệnh này, nhưng Đức Giêsu chẳng những tiếp xúc mà Người còn chạm vào anh ta. Đức Giêsu khác với ngôn sứ Êlisa, người cũng chữa bệnh cùi cho ông Naaman. Ông tránh tiếp xúc với người đàn ông bị bệnh hủi (1 V 5,1-14).[2] Đụng chạm vào người bị ô uế làm cho người ta ra ô uế.[3] Trong Phép lạ chữa lành cho mười người phong hủi, Đức Giêsu cũng đứng từ xa và bảo mười người ấy “hãy đi trình diện với các tư tế” (Lc 17,11). Đụng chạm vào Đức Giêsu là một trong những dấu chứng chữa lành. Người đàn bà bị bệnh băng huyết chạm vào áo choàng của Đức Giêsu đã được chữa lành (Mc 5,27.30.31; Mt 9,20; Lc 8,44.46.47). Đức Giêsu chạm vào lưỡi người bệnh câm điếc, sau khi nhổ nước miếng nhằm chữa lành anh ta (Mc 7,33). Người chạm vào mắt hai người mù để chữa lành họ (Mt 9,29). Người chữa lành một người mù khác ở Jericho cũng cùng một phương thức (Mt 20,34). Tuy chạm vào một người phong hủi là một điều cấm kỵ, nhưng Người đã làm thế để chứng tỏ lời nói của Người là: “Ta muốn” (1,41).[4]

4.     Sạch”: Động từ “làm cho sạch” được sử dụng 3 lần trong một đoạn văn ngắn và thêm một danh từ “sự sạch”. Đây là động từ lặp lại nhiều nhất trong đoạn này. Đây có thể được xem là động từ chủ đạo trong đoạn văn này. Bệnh phong hủi không chỉ là một loại bệnh thông thường nhưng nó liên quan đến yếu tố thanh sạch. Đối lại với yếu tố thanh sạch là sự ô uế. Sự thanh sạch được nói đến trong sách Lêvi như một yếu tố của sự thánh thiện, thuộc về Thiên Chúa, hoặc dành riêng cho Chúa. Ngược lại sự ô uế là yếu tố tách rời khỏi Thiên Chúa. Người bị ô uế như mắc loại bệnh này không được tham dự vào bất cứ nghi lễ cộng đồng nào và dĩ nhiên họ bị tách rời khỏi dân thánh (Lv 13,3-4.7.45-46). Người chịu trách nhiệm thăm khám và tuyên bố về tình trạng ô uế của một người bệnh hủi là các tư tế. Tư tế là những chức sắc đại diện dân để dâng lễ tế lên Thiên Chúa. Chính vì thế mà sau khi khỏi bệnh họ phải dâng lễ tế để đền tội và được thánh hiến trở lại (Lv 14,2-19). “Trở nên sạch” có ý nghĩa về mặt nghi lễ và đức tin hơn là về bệnh tật. Chính vì thế mà bệnh nhân này xin Đức Giêsu làm cho anh ta được sạch chứ không xin được khỏi bệnh. Và Đức Giêsu cũng đáp trả lại với anh ta là: hãy được sạch chứ không phải là hãy được lành bệnh. Nghĩa là anh ta mong ước được trở lại thuộc về Thiên Chúa, không muốn rời xa Thiên Chúa nữa. Và mong ước này dĩ nhiên là đẹp lòng Đức Giêsu.

5.     Bệnh cùi rời khỏi anh”: cách diễn tả này giống với lối diễn tả trong phép lạ chữa lành mẹ vợ của ông Simon. “Cơn sốt rời khỏi” mẹ vợ của Phêrô (Mc 1,31) giống như “bệnh cùi” rời khỏi anh ta. R. France lý giải rằng cách nói này trong trường hợp bệnh phong có thể diễn tả các triệu chứng ngoài da của người bị bệnh biến mất một cách tỏ tường.[5] Tuy nhiên, không giống như căn bệnh của mẹ vợ ông Simon, sau khi bệnh hủi rời đi thì cần thêm một tuyên bố nữa: “Anh ta được thanh sạch” (Mc 1,42) bởi vì mong muốn cuối cùng của anh ta là “được thanh sạch”. R. Guelich cho rằng sự chữa lành của Đức Giêsu vượt xa hơn là một tuyên bố mang tính cách tư tế về một sự thanh sạch thuộc về nghi lễ. Phép lạ là công trình của Thiên Chúa, vì các tư tế không có khả năng chữa lành bệnh. Họ chỉ xem xét, kiểm tra để biết là người ấy có bệnh, và lành bệnh thế nào mà thôi. Theo Do Thái giáo, chỉ có Chúa mới có khả năng chữa lành người phong hủi hoặc làm cho người chết sống lại.[6]

6.     “Nghiêm cấm… đuổi đi”: Trước đó, độc giả đã nghe hai lần Đức Giêsu cấm không cho quỷ lên tiếng. Khi Người trừ quỷ một người trong hội đường Caphácnaoum. Thần ô uế đã nói là biết Người là ai. Nó nói “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa”(1,24) và Đức Giêsu đã quát nó là “im đi” (1,25). Sau đó, Máccô lại cho độc giả biết rằng “Người trừ nhiều quỷ nhưng không cho quỷ nói vì chúng biết Người” (1,34). Lần này Đức Giêsu lại nghiêm cấm một bệnh nhân tiết lộ “bất cứ điều gì, cho bất cứ ai”(nghĩa là không gì cả). Động từ “ἐμβριμάομαι”(cấm đoán một cách gay gắt) được dùng ở thể hiện tại phân từ, thì aorist một lần duy nhất trong Tân Ước (ἐμβριμησάμενος). Cách dùng này nhằm nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng của lệnh cấm của Đức Giêsu. Cách dùng của hiện tại phân từ của động từ này rất có thể là chỉ thời gian: “Sau khi nghiêm cấm…”. Động từ chính phía sau động từ này cũng rất mạnh: “Người đuổi anh ta ra khỏi”. Động từ “đuổi đi” (ἐκβάλλω) được dùng nhiều lần để chỉ việc trục xuất quỷ (1,34.39; 3,15…). R. France ghi nhận sự lạ lùng đến mức ngạc nhiên trong cách dùng từ của Máccô.  Theo ông, động từ “ἐμβριμάομαι”cổ điển được dùng để diễn tả “cơn thịnh nộ của động vật”(ngựa), ở đây được dùng diễn tả cảm xúc mạnh mẽ của Đức Giêsu. Cùng với động từ ἐκβάλλω nó không cho thấy một cách đối xử tử tế.[7] Lệnh cấm này thuộc bí mật Mêsiya của Tin Mừng Máccô. Dường như Đức Giêsu không mong muốn người ta nhận biết Người như là một người làm phép lạ chữa bệnh mà thôi. Nội dung lệnh cấm là một lối dùng từ phủ định kép “μηδενὶ μηδὲν εἴπῃς” (không nói gì cho không ai). Hai từ phủ định được đặt trước động từ nói nhằm nhấn mạnh mệnh lệnh. Đức Giêsu không cho anh ta nói nhưng lệnh cho anh ta đi trình diện với tư tế. Vấn đề là anh ta được trở lại với cộng đoàn, được tuyên bố là thanh sạch càng sớm càng tốt chứ không phải tôn vinh phép lạ của Đức Giêsu. Anh ta phải đi trình diện với tư tế vì chỉ có các tư tế mới có quyền tuyên bố anh đã được sạch và cho anh trở về với cộng đồng.

7.     Dâng lễ vật theo luật Môsê”: Sách Lêvi 14,1 – 31 chỉ dẫn rất cụ thể về những nghi thức và con vật phải dâng theo luật thanh tẩy, bao gồm những lễ vật, với những tiêu chuẩn cụ thể dành cho người nghèo. Lễ vật bao gồm: “Hai con chim còn sống và thanh sạch, gỗ bá hương, phẩm cánh kiến và cành hương thảo” (Lv 14,5); “hai con chiên đực toàn vẹn, một con chiên cái toàn vẹn, một tuổi, mười ba lít rưỡi tinh bột nhào với dầu làm lễ phẩm” (Lv 14,10). Nếu nó nghèo “thì chỉ bắt một con chiên đực dùng làm lễ đền tội… bốn lít tinh bột nhào với dầu làm lễ phẩm… một cặp chim gáy hoặc một cặp bồ câu non” (Lv 14,21-22). Tiến trình bình thường hóa thân phận của người này gồm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn thanh tẩy (Lv 14,5-9). Giai đoạn thứ hai, sau khi cách ly bảy ngày, là giai đoạn đền tội (Lv 14,10-18).

8.     Rao giảng và kể với mọi người”: Với lệnh cấm được diễn tả một cách nghiêm túc đến nghiêm trọng như thế, người bệnh này lẽ ra phải tuân theo. Thế nhưng, anh ta dường như làm trái ngược lại hoàn toan với những điều Đức Giêsu cấm đoán. Liên từ “δὲ” (nhưng) diễn tả sự trái ngược hoàn toàn. Động từ rao giảng được dùng trước hết cho ông Gioan, kẻ dọn đường (Mc 1,7), rồi cho Đức Giêsu (1,14.38), đến các môn đệ (Mc 3,14). Cụm từ “bắt đầu rao giảng” ở đây giống y như cấu trúc dùng cho người bị quỷ ám được trục xuất trong vùng Gerasa. Anh ta cũng “bắt dầu rao giảng trong miền thập tỉnh” (Mc 5,20). Chỉ khác ở chỗ là trong câu chuyện này Đức Giêsu khuyên anh này hãy “về nhà với bạn bè và kể cho họ nghe những điều Chúa đã làm cho anh và Người thương xót anh như thế nào” (5,20). Anh bệnh cùi trong câu chuyện này rao giảng rất nhiều và loan truyền chuyện đã xảy ra cho anh. Có lẽ anh ta thấy nhiệm vụ loan báo tin vui này cấp thiết hơn cả chuyện anh ta được các tư tế tuyên bố thanh sạch hay không. Điều mà người phong hủi loan truyền ở đây trong tiếng Hy Lạp là “τὸν λόγον” (lời). Trong ngữ cảnh này “lời” rất có thể có nghĩa là câu chuyện “được sạch” mà người này vừa trải nghiệm. Nhưng trong bối cảnh rộng hơn của Tin Mừng, “lời” có thể là Tin Vui, Tin Mừng của Chúa. Đó là Tin Mừng về sự đến gần của Nước Trời thể hiện qua quyền năng chữa lành của Đức Giêsu.[8]

9.     Ở trong những nơi hoang vắng”: “Nơi hoang vắng” thường đánh dấu những khoảnh khắc đặc biệt của Đức Giêsu. Đó là nơi Đức Giêsu chịu cám dỗ bốn mươi đêm ngày sau khi chịu phép rửa và trước khi đi rao giảng (Mc 1,12). Đó cũng là nơi nhiều lần Đức Giêsu gặp gỡ Chúa Cha trong những giờ cầu nguyện (Mc 1,35); là nơi Người khuyên các môn đệ lui vào và nghỉ ngơi (Mc 6,31.32). Cũng là nơi Đức Giêsu gặp gỡ, rao giảng và cho họ ăn (Mc 6,35; Mt 14,13.15). Dường như việc rao giảng của người phong hủi này có hiệu quả tiêu cực là làm cho Đức Giêsu không thể vào thành nào được. Tuy nhiên, cũng dường như nó có hiệu quả tích cực, dù Đức Giêsu ở trong sa mạc, nhưng người ta từ khắp các ngả đến với Người. Và sa mạc cũng là nơi giảng dạy quen thuộc của Người.

10.  “Người ta đến với Người từ các nẻo đường”: Trớ trêu thay, nơi hoang vắng trước đây là nơi người ta bắt buộc những người bệnh hủi phải ở thì giờ đây lại là nơi Đức Giêsu lưu lại. Nhưng dù ở trong sa mạc đi nữa thì Tin Vui về Đức Giêsu, rất có thể do người lành sạch này loan báo, đã kéo người ta từ khắp mọi nơi đến với Đức Giêsu. Máccô không nói tiếp là họ đến với Đức Giêsu để làm gì. Tuy nhiên, độc giả có thể suy đoán là họ lại nghe Đức Giêsu rao giảng, rồi chữa lành bệnh tật. Theo như bối cảnh của 6,34-35, Đức Giêsu thấy họ như “bầy chiên không có mục tử và Người giảng dạy họ nhiều điều”.

Bình luận

Cùng với phép lạ trừ quỷ (1,21-28) và phép lạ chữa lành bà mẹ vợ của ông Simon (1,29-31), phép lạ chữa lành bệnh phong trong đoạn Tin Mừng này là phép lạ thứ 3 trong chương một được Máccô ghi lại một cách chi tiết. Bệnh phong là một cách nói chung cho tất cả những người bị bệnh ngoài da, và không có thuốc chữa thời bấy giờ. Bệnh này không chỉ làm cho bệnh nhân đau đớn về mặt thể xác nhưng trên hết là họ phải chịu đau đớn khi bị xem như là ô uế. Ô uế là ngược với thanh sạch. Thanh sạch là một đặc tính quan trọng của dân thánh Chúa. Nó có thể là một yếu tố chứng tó sự thánh thiện. Người bị tuyên bố là ô uế không có quyền ở chung trại với dân thánh Chúa. Họ phải ở cách ly ngoài trại, theo luật Lêvi. Chúng ta có thể tưởng tượng như những người cách ly vì bệnh Covid thời nay vậy. Nhưng sự cách ly của bệnh Covid chỉ nhằm tránh sự lây lan về bệnh tật. Còn sự cách ly của người bệnh hủi là một sự phân biệt giữa sự thánh thiện và ô uế, giữa những người thuộc về Chúa và những người không thuộc về Chúa. Sự cách ly này đối với một người yêu mến Chúa còn đau khổ hơn cả chết nữa. Chính vì thế mà độc giả có thế hiểu là tại sao người bệnh này xin Đức Giêsu làm cho anh ta được sạch. Động từ “thanh tẩy” hay “làm cho sạch” được lặp lại đến 3 lần trong đoạn này. Anh ta khao khát được trở lại với dân thánh Chúa, được thuộc về Chúa, và tham gia các nghi lễ thờ cúng như dân thánh. Đức Giêsu là người Do Thái, Người dĩ nhiên hiểu được ngay nổi thống khổ của anh và niềm khao khát của anh. Hơn nữa, bệnh nhân này cho thấy mức độ trưởng thành về đức tin của anh. Anh xin Chúa nhưng lại để ngỏ cho ý muốn của Chúa được thể hiện. Đức Giêsu đã đáp lại lời thỉnh cầu đầy đức tin của anh bằng những hành động rất cụ thể. Ít nhất có ba hành động được diễn tả để hiện thực hóa câu đáp trả: “Tôi muốn” của Người. Vì Người “chạnh lòng thương” nên Người, “đưa tay ra”, và “chạm vào anh”. Bệnh nhân này chắc cũng giật mình trong chốc lát. Việc Đức Giêsu để cho anh ta tiếp cận đã là một điều cấm kỵ rồi. Đằng này, Người lại đưa tay chạm vào anh. Đức Giêsu không sợ bị ô uế khi phải chạm vào người ô uế sao? Dĩ nhiên là không, vì cái chạm của Người cùng với lời tuyên bố “anh hãy được sạch” đã vô hiệu hóa tác hại của bệnh hủi. Điều làm cho độc giả ngạc nhiên hơn nữa là Đức Giêsu lại dùng những hành động rất mạnh như “nghiêm cấm” và “đuổi anh ta đi”, không cho anh ta “nói bất cứ điều gì với một ai”. Người muốn anh ta đi ngay đến trình diện với tư tế và dâng lễ vật theo luật Môsê. Đức Giêsu cho thấy Người tôn trọng Lề Luật mà Thiên Chúa đã ban qua ông Môsê như dân của Người vậy. Người bệnh phong được tư tế tuyên bố là ô uế và phải cách ly, sau đó cũng chính tư tế là người cử hành các nghi lễ thanh tẩy để tuyên bố người này lành sạch, có thể gia nhập cộng đồng. Tiến trình thanh tẩy theo luật này có thể kéo dài 8 ngày. Có lẽ chính vì thế mà Đức Giêsu không muốn anh này chờ lâu hơn nữa. Ngạc nhiên hơn, dù bị cấm đoán đến cách nghiêm túc như thế, anh này cứ rao giảng nhiều điều và loan truyền Tin Vui đến khắp mọi người. Không biết khi nào anh ta mới đi đến với các tư tế để được tuyên bố là thanh sạch. Tuy nhiên, sự di chuyển của anh ta khắp nơi và nói với mọi người cho thấy anh không bị cách ly khỏi xã hội nữa. Câu chuyện kết thúc đầy mỉa mai rằng: người được chữa lành trước đây bị buộc phải sống nơi hoang vắng thì nay lại di chuyển khắp nơi trong các thành, còn Đức Giêsu, Đấng chữa lành thì lại phải ở lại trong “nơi hoang vắng”. Tuy vậy, cái kết của câu chuyên vẫn đẹp như nó phải là: Dù Đức Giêsu lánh vào nơi hoang vắng, “Người ta từ khắp các ngả đường đến với Người”.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] J. Marcus, Mark 1–8. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) XXVII, 205; Cf. J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2005) 88.

[3] R.T. France, The Gospel of Mark. A Commentary on the Greek Text (NIGTC; Grand Rapids 2002) 118.

[4] R. A. Guelich, Mark 1-8:26 (WBC 34A; Dallas 2002) 74.

[6] R. A. Guelich, Mark 1-8:26 (WBC 34A; Dallas 2002) 74.

[8] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 179-180.


Thursday, 4 February 2021

RAO GIẢNG-CẦU NGUYỆN-CHỮA BỆNH. Chú giải Tin Mừng CN V TN B (Mc 1,29-39); Lm. Jos. Ph.D.Thạch, SVD

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

29  Καὶ εὐθὺς ἐκ τῆς συναγωγῆς ἐξελθόντες ἦλθον εἰς τὴν οἰκίαν Σίμωνος καὶ Ἀνδρέου μετὰ Ἰακώβου καὶ Ἰωάννου.

 30  ἡ δὲ πενθερὰ Σίμωνος κατέκειτο πυρέσσουσα, καὶ εὐθὺς λέγουσιν αὐτῷ περὶ αὐτῆς.

 31  καὶ προσελθὼν ἤγειρεν αὐτὴν κρατήσας τῆς χειρός· καὶ ἀφῆκεν αὐτὴν ὁ πυρετός, καὶ διηκόνει αὐτοῖς.

 32  Ὀψίας δὲ γενομένης, ὅτε ἔδυ ὁ ἥλιος, ἔφερον πρὸς αὐτὸν πάντας τοὺς κακῶς ἔχοντας καὶ τοὺς δαιμονιζομένους·

 33  καὶ ἦν ὅλη ἡ πόλις ἐπισυνηγμένη πρὸς τὴν θύραν.

 34  καὶ ἐθεράπευσεν πολλοὺς κακῶς ἔχοντας ποικίλαις νόσοις καὶ δαιμόνια πολλὰ ἐξέβαλεν καὶ οὐκ ἤφιεν λαλεῖν τὰ δαιμόνια, ὅτι ᾔδεισαν αὐτόν.

 35  Καὶ πρωῒ ἔννυχα λίαν ἀναστὰς ἐξῆλθεν καὶ ἀπῆλθεν εἰς ἔρημον τόπον κἀκεῖ προσηύχετο.

 36  καὶ κατεδίωξεν αὐτὸν Σίμων καὶ οἱ μετ᾽ αὐτοῦ,

 37  καὶ εὗρον αὐτὸν καὶ λέγουσιν αὐτῷ ὅτι πάντες ζητοῦσίν σε.

 38  καὶ λέγει αὐτοῖς· ἄγωμεν ἀλλαχοῦ εἰς τὰς ἐχομένας κωμοπόλεις, ἵνα καὶ ἐκεῖ κηρύξω· εἰς τοῦτο γὰρ ἐξῆλθον.

 39  Καὶ ἦλθεν κηρύσσων εἰς τὰς συναγωγὰς αὐτῶν εἰς ὅλην τὴν Γαλιλαίαν καὶ τὰ δαιμόνια ἐκβάλλων. (Mk. 1:29-39 BGT)

29 Và ngay lập tức sau khi Đức Giêsu ra khỏi hội đường, Người đi vào nhà của ông Simon và Anrê cùng với Giacôbê và Gioan.

30 Rồi, mẹ vợ của ông Simon đang được đặt nằm, đau đớn vì sốt và ngay lập tức họ nói với Người về bà

31 Sau khi tiến lại gần Người nâng bà dậy, và khi Người nắm lấy bàn tay bà, cơn sốt rời bà và bà phục vụ họ.

32 Chiều đến, khi mặt trời lặn, người ta mang đến cho người tất cả những người có bệnhnhững người bị quỷ ám.

33 Và toàn bộ thành tập trung ở cửa nhà.

34 Và Người chữa lành nhiều người bệnh khác nhau và trục xuất nhiều quỷ, nhưng Người không cho quỷ nói vì chúng đã biết Người.

35 Và vừa tảng sáng, lúc trời còn tối, sau khi thức dậy, Người đi ra và đến một nơi hoang vắng, ở đó Người cầu nguyện liên tục.

36 Và Phêrô và những người ở vơi ông tìm kiếm Người.

37 Sau khi tìm thấy Người, họ nói với Người là “tất cả mọi người đang tìm Thầy”.

38 Và Người bảo họ: “Chúng ta hãy đi đến những thị thành khác, để tôi rao giảng ở đó, bởi vì tôi đến vì việc này.

39 Và Người ra đi, rao giảng trong các hội đường của họ, trong toàn vùng Galilê và trừ quỷ.

 

Bối cảnh

Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật V Thường niên năm B (Mc 1,29-39) vẫn nằm trong chương một, Tin Mừng Máccô. Như thường lệ Tin Mừng Máccô với nhiều hoạt động được tường thuật ngắn gọn, súc tích và liên tục. Sau khi Đức Giêsu vừa ra khỏi hội đường, nơi Người giảng dạy và trừ quỷ trong ngày Sabát (Mc 1,21-28), Đức Giêsu liền đi đến nhà của Simon và Anrê. Trạng từ “εὐθὺς” (ngay lập tức) mà Máccô sử dụng kèm theo hành động của Đức Giêsu cho thấy hành động của Người dồn dập làm sao. “Lập tức sau khi ra khỏi hội đường, người đến nhà của Simon và Anrê”. Sự thay đổi về mặt không gian báo hiệu cho độc giả biết, trình thuật này dù liên tục với trình thuật trước, nhưng đây là một câu chuyện khác, một hoạt động khác trong hành trình rao giảng của Đức Giêsu. Nhân vật cũng thay đổi ít nhiều. Bốn môn đệ đầu tiên hầu như có mặt. Đức Giêsu đến nhà hai ông Simon và Anrê, Giacôbê và Gioan không có lý do gì vắng mặt. Bà mẹ vợ của Simon là một trong những nhân vật chính trong đoạn này, nhưng ngoài bà ra, còn có những bệnh nhân vô danh với nhiều loại bệnh và cả những người bị quỷ ám, những người thân của các bệnh nhân, rồi những thính giả của Đức Giêsu. Đây là một lượng nhân vật rất lớn và đến từ nhiều nơi khác nhau vì kết thúc trình thuật trước, người đọc đã nghe biết là danh tiếng của Đức Giêsu đã được đồn ra khắp tất cả những vùng chung quanh Galilê. Mc 1,39 lại cho thấy một hành trình mới của Đức Giêsu. Người lại ra đi rao giảng trong các hội đường khác trong toàn vùng Galilê. Đây là câu nói tổng kết và chuyển đổi hoạt động của Đức Giêsu.

Cấu trúc

Đoạn Tin Mừng này đóng khung bởi hai thay đổi về không gian của Đức Giêsu: Người đi vào nhà ông Simon (Mc 1,29) và Người lại đi ra đến những thành thị khác (1,39). Tuy nhiện, thành thật mà nói chủ đề của đoạn Tin Mừng này không thống nhất một cách lý tưởng để gom chung lại. Máccô tường thuật ít nhất 3 hoạt động riêng biệt của Đức Giêsu. Thứ nhất, Người chữa bệnh cho mẹ vợ của ông Simon, trong nhà của ông Simon (1,29-31). Đoạn sau đó là một bản tóm tắt mang tính tổng quát về hoạt động của Đức Giêsu có thể có cùng không gian là nhà của ông (1,32-34). Tiếp theo sau đó là tường thuật về việc Người rời nhà của ông Simon, ra nơi hoang vắng và cầu nguyện (1,35-37). Và cuối cùng, là mệnh lệnh, mời gọi đi đến các vùng khác để rao giảng (1,38) và Đức hiện thực hóa mệnh lệnh ấy (1,39). Nói như thế để thấy rằng có rất nhiều ý tưởng được bao gồm trong đoạn này, khi Phụng Vụ muốn gom đoạn này lại và đặt vào một Chúa Nhật. Tuy nhiên, có thể nối kết và phác họa tất cả hoạt động của Đức Giêsu trong đoạn này như sau: Chữa bệnh – trừ quỷ - cầu nguyện – rao giảng – trừ quỷ. Trong đó cầu nguyện có thể được xem là trung tâm trong các hoạt động này. Sau đây là một mô hình tương đối để có thể nhìn thấy phần nào cấu trúc của đoạn này:

A. Đi vào nhà và chữa bệnh (cc.29-31)

B. Tóm tắt tổng quát: trừ quỷ chữa bệnh (cc.32-34)

C. Đi ra nơi hoang vắng – cầu nguyện (cc.35-37)

B’. Mệnh lệnh đi đến những nơi khác để rao giảng – mục đích chính của sự ra đi (c.38)

A’. Ra đi rao giảng trừ quỷ (c.39)

 

Một số điểm chú giải

1.     “Đi vào nhà ông Simon và Anrê”: Sau khi trừ quỷ nơi hội đường (môi trường công cộng), Đức Giêsu đến nhà Simon và Anrê (tư gia). Tiếp theo sau trừ quỷ cho người không tên tuổi, có thể là xa lạ, Đức Giêsu quay trở về với những người bên cạnh mình: các môn đệ đầu tiên và người thân của họ. Simon và Anrê là hai môn đệ đầu tiên mà Đức Giêsu mời gọi và chọn lựa ngay lúc bình minh của sứ vụ công khai (Mc 1,16-17). Các ông đã lập tức bỏ chài lưới, công việc, nhà cửa… (mọi sự) để lang thang theo Người (Mc 1,18). Một tòa nhà lớn, được cho là nhà của Simon trong những khai quật gần đây tại Caphácnaoum, tiêu biểu cho giai đoạn Roma, với một loạt các phòng được bao quanh bởi hai sân. Một căn nhà như thế phù hợp với hình ảnh của một ngôi nhà được chung sống bởi hai gia đình (của Simon và Anrê), với mẹ vợ của ông Simon cùng ở đó.[1] Một thánh đường tám cạnh (khoảng thế kỷ thứ 5), được xây trên nền ngôi nhà gồm nhiều phòng này được cho là của Simon Phêrô nhờ những tranh vẽ trang trí của các Kitô hữu sơ khai ở trên tường.[2] Có thể nói rằng, mỗi bước đi trên hành trình của Đức Giêsu, là mỗi bước chân của sứ giả mang Tin Vui cho người khác. Người đi vào nhà ông Simon không đơn giản chỉ là để thăm viếng nhưng là để xoa dịu và chữa lành cơn đau bệnh tật của Mẹ vợ của ông.

2.     “Đau đớn vì sốt”: Trong thời cổ đại cơn sốt tự nó được coi như là căn bệnh hơn là một triệu chứng. Trong Lc 4,39 Đức Giêsu quát mắng cơn sốt. Hơn nữa, cơn sốt được mô tả như một đối tượng, chủ động rời bỏ bà, để bà yên. Những chi tiết này ngụ ý một sự thiếu sự phân biệt cách rõ ràng giữa bệnh tật và sự bị chiếm ngự bởi thần dữ.[3] Bệnh sốt này có thể tượng trưng cho nhiều cơn bệnh xảy ra trong đời thường của con người, những cơn bệnh làm cho người ta nằm bất động không di chuyển và hoạt động bình thường được. Ngay cả chuyện ăn uống cũng là một vấn đề. Tình trạng của bà được diễn tả bằng hai động từ diễn tả sự kéo dài và liên tục. Động từ “nằm” được chia ở thì vị hoàn (κατέκειτο), thể bị động. Thể bị động diễn tả một hành động bắt buộc, chẳng đặng đừng (đang bị nằm trên giường). Thì vị hoàn (imperfect) diễn tả một sự kéo dài. Tiếp theo sau đó là động từ “đau đớn vì sốt” thì chia ở thể phân từ (participle) cũng diễn tả một tình trạng kéo dài (đang đau đớn vì sốt).

3.     Nâng bà dậy”: Động từ “nâng dậy” có thể diễn tả hai ý nghĩa. Thứ nhất, vì bà đang nằm nên Đức Giêsu nâng bà dậy khỏi giường. Trong Tin Mừng Máccô đây là động từ đặc trưng được dùng trong các tường thuật về sự chữa lành (2,9.11; 3,3;5,41; 9,27; 10,49). Thứ hai, nghĩa sâu xa hơn là diễn tả mầu nhiệm chữa lành cả hồn lẫn xác. Động từ “nâng dậy” ở đây cũng có nghĩa là, nâng dậy từ cõi chết, làm cho ai đó sống lại. Máccô dùng động từ này nhiều lần để diễn tả sự sống lại của kẻ chết (6,14; 12,26; 14,28; 16,6). Động từ này cũng được sử dụng trong dấu lạ chữa lành cậu bé bị câm từ thuở mới sinh. Lúc thần câm xuất khỏi cậu bé thì cậu nằm bất động như xác chết và Đức Giêsu cầm tay nó, nâng nó dậy và nó liền chỗi dậy (Mc 1,27). Gioan dùng động từ này để diễn tả việc Đức Giêsu làm cho Lazarô sống lại (Ga 12,1.9.17). Rất nhiều lần Sách Công Vụ Tông đồ đã dùng động từ này để diễn tả mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giêsu. Thiên Chúa đã “làm cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết” (Cv 3,15; 4,10; 5,30; 10,40). Thư thánh Phao lô cũng dùng động từ này với một ý nghĩa tương tự (1 Cr 15,4; Gl 1,1; Rm 4,24).

4.     “Nắm lấy bàn tay bà”: Sự đụng chạm về thể lý như đặt tay, nắm tay (5:23; 5,41; 7,32; 8,22)  cũng như mong ước của bệnh nhân bằng cách đơn giản chỉ đụng chạm vào người chữa bệnh (5:28; 6:56) phổ biến trong Tân Ước cũng như nơi những tường thuật ngoài Thánh Kinh. Theo J.R. Donahue – D.J. Harrington, những dấu hiệu này gia tăng hình ảnh của Đức Giêsu như một Đấng mang quyền lực Thần Khí, mà sự hiện diện của Người đem đến sự trọn vẹn.[4]  Hành động nắm tay xưa nay vẫn quen thuộc với người thầy thuốc. Đó có thể là cái nắm tay bắt mạch, kiểm tra nhịp tim. Đó cũng là cái nắm tay đo huyết áp trong thời y khoa hiện đại. Nắm tay cũng là dấu chỉ biểu lộ tình yêu thương, chuyền hơi ấm. Bắt tay cũng là cử chỉ chào hỏi thân thiện trong nhiều nền văn hóa. Đức Giêsu nắm lấy tay có thể vừa là cử chỉ yêu thương truyền hơi ấm, vừa là dấu chỉ của một thầy thuốc. Thầy thuốc này không chỉ chữa bệnh về thể xác nhưng cả tâm linh nữa. Khác với tường thuật về trừ quỷ trước đó (1,21-28), Đức Giêsu không nói một lời nào nhưng Người dùng sự chạm về thể lý.[5]

5.     Cơn sốt rời khỏi bà ấy”: Sự đụng chạm, nắm tay của Đức Giêsu có tác dụng chữa lành ngay lập tức. Danh từ cơn sốt trở thành chủ từ của động từ “rời đi” dường như là nhân cách hóa. Tuy nhiên, theo R. France, cách dùng này tương tự như Mt 8,15; Lc 4,39; Ga 4,52, là một thành ngữ tự nhiên, không nhất thiết là nhân cách hóa của cơn sốt.[6] Tuy nhiên, không loại trừ khả năng thời ấy trong vùng Cận Đông, người ta hiểu bệnh tật như một dạng bị quỷ khống chế, ví như các loại quỷ câm, quỷ điếc được nói đến rất nhiều trong Tin Mừng. Tác giả Luca thay đổi đôi chút khi thêm rằng Đức Giêsu “khiển trách cơn sốt và nó rời khỏi bà”. Cách mô tả này cho thấy rõ cơn sốt là một đối tượng được nhân hoá.

6.     Bà phục vụ họ”: Động từ “διακονέω” có rất nhiều nghĩa: phục vụ, chăm sóc, phục vụ như một phó tế. R. France cho rằng trong bối cảnh này ý nghĩa có thể nhất là cung cấp thức ăn uống. Bà ta phục thể hiện vai trò được mong chờ của một người mẹ vợ trong gia đình bằng cách phục vụ những thức ăn đồ uống.[7] Hoạt động phục vụ của bà trước tiên thể hiện hiệu quả của dấu lạ mà Đức Giêsu đã làm. Với sự cầm tay và nâng dậy của Đức Giêsu người mẹ vợ của Simon đã chuyển từ trạng thái nằm liệt qua đi lại và phục vụ. Đây cũng chính là động từ được dùng trước đây để diễn tả sự phục vụ của các thiên sứ dành cho Đức Giêsu trong trình thuật về cám dỗ (1,13) và sau đó Đức Giêsu dùng để dạy về sự phục vụ cách khiêm tốn của Người: “Con Người đến không phải để được phục vụ mà để phục vụ và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người” (Mc 10,45).[8] J. Marcus ghi nhận sự lý thú khi lần xuất hiện cuối cùng của động từ “phục vụ” là trong 15,41, nơi cũng đề cập đến những phụ nữ, những người phục vụ Đức Giêsu khi “Người ở nơi Galilê”. Như thế, cách nào đó, một phần chính yếu của Tin Mừng Máccô được đóng khung bởi sự phục vụ mà các phụ nữ dành cho Đức Giêsu.[9]  Như thế, sự phục vụ của bà cũng có nghĩa là một sự phục vụ Tin Mừng, hoặc là chuẩn bị trước, báo trước, chứ không đơn giản chỉ là chuyện ăn uống.

7.     “Chiều đến, khi mặt trời lặn”: Sự thay đổi về mặt thời gian có thể đánh dấu thời gian làm việc của sứ giả Tin Mừng. Mặt trời lặn báo hiệu một bối cảnh nghỉ ngơi, thế nhưng Máccô lại cho độc giả biết là những người đến với Đức Giêsu càng tấp nập hơn. Những cách diễn tả như “tất cả những kẻ đau yếu và những người bị quỷ ám”; “cả thành tập trung lại tại cửa nhà” cho thấy sự tấp nập bận rộn quá mức của Đức Giêsu. Động từ “mang đến” được chia ở thì vị hoàn cũng cho thấy hành động “đưa” (các bệnh nhân và những người bị quỷ ám” đến với Đức Giêsu là một hành động kéo dài liên tục. Người ta có thể tưởng tượng khung cảnh nhà của Simon lúc ấy giống như một bệnh viện vậy.

8.     “Người chữa lành nhiều bệnh khác nhau và trục xuất nhiều quỷ”: Tính từ “πολλοὺς” cho thấy mức độ, số lượng những bệnh nhân được Đức Giêsu chữa và số người được trục xuất quỷ là nhiều, nhưng dường như nó không thể đáp ứng lại với tính từ “πάντας” (tất cả các bệnh nhân) hay “ὅλη” (toàn bộ thành phố). Đức Giêsu dường như không chữa hết tất cả mọi bệnh tật và trục xuất hết mọi người bị quỷ ám ở Caphácnaoum. Sau đó, người ta cùng với Phêrô tiếp tục tìm đến Người nhưng Người lại đi qua vùng khác.

9.     “Người không cho quỷ nói”: Lý do Người không cho quỷ lên tiếng là “vì chúng biết Người”. Chi tiết này gợi nhớ đến câu chuyện trừ quỷ trong hội đường trước đó. Khi gặp Đức Giêsu quỷ đã la lên rằng: “Có chuyện gì giữa chúng tôi và ông, tôi biết ông là ai rồi, ông là Đấng thánh của Thiên Chúa” (1,24). Đức Giêsu cũng lập tức ra lệnh “câm đi” (1,25). Có thể có hai lý do có thể. Thứ nhất, quỷ không đủ tư cách để mặc khải thần tính của Đức Giêsu. Thứ hai, Người không muốn dân chúng hiểu lầm về tư cách Mêsia của Người chỉ giới hạn trong việc chữa bệnh và trừ quỷ. Nó có thể dẫn đến mê tín, và sùng bài cá nhân chứ không dẫn đến chiều sâu đức tin thật sự.

10.  “Vừa tảng sáng, lúc trời còn tối”: Đối lại với lối diễn tả về thời gian ở đoạn trước “lúc hoàng hôn buông xuống, lúc mặt trời đã đi ngủ” (1,32) là “hừng đông, lúc trời còn tối”. Cách diễn tả (gấp đôi về thời gian) này của Máccô vừa mang tính rõ ràng, cụ thể vừa có tính nhấn mạnh. Đây có thể là khoảng thời gian tốt nhất để Đức Giêsu có thể cầu nguyện. Các môn đệ chắc vẫn còn ngủ mê mệt vì vất vả tiếp khách vào tối hôm trước. Còn Đức Giêsu thì tỉnh táo đủ để có một khoảng thời gian riêng với Thiên Chúa Cha.

11.  “Nơi hoang vắng”: “|Sa mạc” là nơi thử thách của dân Israel nhưng đồng thời cũng là nơi họ gặp gỡ Chúa và đối diện với chính mình để Chúa huấn luyện họ suốt bốn mươi năm trước khi vào đất hứa. Sa mạc vừa đóng vai trò tích cực như là nơi ghi dấu sự cứu độ của Chúa và giao ước với dân (Gr 2,2-3; Hs 2,14-15; Tv 78, 12-53; Tv 105,39-45) và theo nghĩa tiêu cực như là một nơi thử thách và nổi loạn (Xh 16; Ds 11; Tv 78, 17-22, 32-41; 106,6-43).[10] Tuy nhiên, đối với Đức Giêsu sa mạc là nơi lý tưởng để Người cầu nguyện, nói chuyện với Chúa Cha, sau khi có qúa nhiều hoạt động chữa bệnh và trừ quỷ trong ngày. Đó cũng là nơi mà Người mong muốn các môn đệ đi vào và nghỉ ngơi khi có quá nhiều người tới lui “đến nỗi họ không có thời gian ăn uống” (Mc 6,31.32). Đó cũng là nơi Đức Giêsu chịu thử thách, cám dỗ và đã vượt qua.

12.  “Người cầu nguyện”: Tin Mừng Máccô ghi lại ít nhất 4 lần Đức Giêsu cầu nguyện. Lần thứ nhất là trong bối cảnh này. Lần thứ hai là trong bối cảnh sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Sau khi Người giải tán đám đông, Người “đi lên núi để cầu nguyện” (Mc 6,46; Mt 15,23). Lần thứ ba là lúc Đức Giêsu biến hình (Mc 9,2-8; Mt 17,1-8; Lc 9, 28-36).[11] Lần thứ tư là trong bối cảnh Người sắp bị bắt và bước vào cuộc thương khó (Mc 14,32.35; Lc 22,39). Động từ cầu nguyện trong hai lần: lần này và lần xảy ra trong bối cảnh Thương Khó đều được chia ở thì vị hoàn, diễn tả một hành động kéo dài (προσηύχετο). Lần sau trong vườn cây dầu Máccô ghi lại rõ ràng lời cầu nguyện của Đức Giêsu: “Abba, lạy Cha, tất cả mọi sự có thể đối với Cha. Xin hãy cất chén này xa con. Tuy nhiên không phải điều con muốn mà là điều Cha muốn” (Mc 14,35). Đức Giêsu cầu nguyện 3 lần với cùng một ý nguyện (Mc 14,39.41). Người cũng nhắc nhở các môn đệ là: “Hãy canh thức và cầu nguyện để khỏi đi vào cơn cám dỗ” (14,38) nhưng tất cả họ đều ngủ cả. Trong bối cảnh này chúng ta không biết Đức Giêsu cầu nguyện gì, nhưng bối cảnh khá giống với bối cảnh sau phép lạ hóa bánh ra nhiều với hơn năm ngàn người tham dự. Lần này cũng là bối cảnh sau nhiều phép lạ chữa lành nhiều bệnh nhân và trừ nhiều quỷ, Đức Giêsu lại phải cầu nguyện. Đây có thể là một thói quen trong thời khóa biểu mỗi ngày của Đức Giêsu. Tuy nhiên, đó cũng có thể là trong bối cảnh đặc biệt khi cám dỗ thể hiện mình bằng những phép lạ, hay là ước vọng tìm thấy dấu lạ của Đức Giêsu nơi dân chúng đang dâng cao. Đức Giêsu không mong muốn được tôn vinh theo kiểu như thế và Người có lẽ cũng không mong muốn dân chúng tìm đến Người chỉ vì những dấu lạ như thế.

13.  “Simon và nhiều người đi với ông tìm kiếm Người”: Có lẽ đám đông vẫn chưa thỏa mãn bởi nhiều người được chữa bệnh và trừ quỷ. Họ mong muốn một ngày mới của Đức Giêsu lại bắt đầu như thế. Lối thông báo của Simon “Tất cả mọi người đang tìm Thầy” đã ẩn chứa điều ấy. Tất cả họ đều mong muốn như vậy. Nghĩa là Đức Giêsu lại trở về nhà ông Simon và lại chữa bệnh và trừ quỷ ở đó. Nhưng đó không phải là chương trình của Đức Giêsu. Sau khi cầu nguyện Người đã xác tín con đường của Người.

14.  “Đến những thành thị khác … để rao giảng”: Lối của Đức Giêsu là: “Chúng ta hãy đến các nơi khác, vào các nơi phố thị khác” và mục đích cũng như lý do Đức Giêsu đưa ra rất là cụ thể và rõ ràng: “Để mà (ἵνα) Thầy có thể rao giảng (κηρύξω) ở đó nữa, bởi vì (γὰρ) Thầy ra đi là để làm việc này”. Đức Giêsu rõ ràng nhấn mạnh đến hoạt động rao giảng hơn là làm những dấu lạ. Động từ rao giảng cũng là động từ nối kết Gioan Tẩy Giả với Đức Giêsu. Gioan xuất hiện, làm phép dìm trong hoang địa và rao giảng một phép dìm của lòng hoán cải để được ơn tha tội (Mc 1,4). Đức Giêsu cũng rao giảng nhưng nội dung rao giảng của Đức Giêsu là “Tin Mừng của Chúa” chứ không phải là “phép rửa của lòng hoán cải”.[12] Vấn đề là phải làm sao cho người ta thấy được sự cần thiết của một vương quốc Thiên Chúa và xây dựng nó cho chính mình. Động từ này cũng nối kết sứ vụ rao giảng của Đức Giêsu với sứ vụ của các môn đệ. Người chọn nhóm Mười Hai với mục đích là để họ ở với Người và Người sai họ đi rao giảng (Mc 3,14). Điều này chứng tỏ rằng sứ vụ của Đức Giêsu có tính liên tục. Các tông đồ không chỉ rao giảng thông điệp của Chúa Giêsu nhưng còn rao giảng về Đức Giêsu, nhất là Đức Giêsu Phục Sinh. 1,39 tổng kết các hoạt động của Đức Giêsu: “Ra đi, rao giảng trong các hội đường trong toàn vùng Galilê, và trừ quỷ”. Câu tóm tắt này đã được cụ thể hóa trước đó trong trình thuật Mc 1,21-28, nơi mà Đức Giêsu giảng dạy trong một hội đường ở Caphácnaoum vào ngày Sabát và trừ quỷ. Giờ đây hoạt động của Người không còn giới hạn trong thành Caphácnaoum hay nhà của Simon nữa mà đã lan rộng ra toàn bộ lãnh thổ Galilê.

Bình luận

Sau phép lạ trừ quỷ tại hội đường Caphácnaoum danh tiếng Đức Giêsu đồn ra khắp các vùng lân cận (1,28). Lập tức, sau khi ra khỏi hội đường, Người đi vào nhà của ông Simon và Anrê. Người vào đó bởi Người biết rằng nơi đó có người đau khổ vì bệnh tật đang chờ đợi Người. Người ta nói cho Người nghe về tình trạng của bà, nhưng có lẽ chính Người biết rõ tình trạng của bà hơn ai hết. Đó là cơn bệnh về mặt thể lý làm cho bà phải nằm bất động nhiều ngày không di chuyển được. Ngay cả khi Đức Giêsu đến bà cũng vẫn không dậy nổi để tiếp đón. Đức Giêsu chủ động đến với bà. Người nâng bà dậy và cầm lấy tay bà. Sức mạnh thần linh, cùng với tình thương, hơi ấm tình người tình Chúa nơi Đức Giêsu đã làm cho cơn sốt biến mất. Bà thay đổi từ trạng thái nằm trên giường đến trạng thái phục vụ. Cái chạm, cái nắm tay của Đức Giêsu là những hành động mang tính chữa lành, có hiệu quả chữa lành. Người không nói câu nào từ đầu đến cuối của dấu lạ chữa lành. Sự “nâng dậy” của Đức Giêsu không chỉ nâng dậy khỏi sự khống chế của bệnh tật mà còn làm sống dậy một sức sống mới. Sự phục vụ của bà mẹ vợ của ông Simon không chỉ đơn giản là phục vụ chuyện ăn uống nhưng còn là phục vụ Tin Mừng, và sứ giả Tin Mừng. Cùng với phép lạ chữa lành mẹ vợ của Simon là vô vàn dấu lạ khác Đức Giêsu thực hiện nơi ngôi nhà của ông Simon. Ngôi nhà này dường như biến thành một bệnh viện dã chiến, nơi đó tất cả các bệnh nhân và những người bị quỷ ám được tập hợp. Máccô diễn tả bằng tính từ “tất cả” và “toàn bộ” thành phố. Đức Giêsu cho thấy mức độ làm việc của mình khi Người làm việc vào ban đêm sau khi mặt trời lặn, với một lượng bệnh nhân như thế. Vinh quang, sự cần thiết của công việc sứ vụ, không tách Đức Giêsu ra khỏi việc cầu nguyện. Thức khuya làm việc, sáng Người lại dậy sớm, khi bình minh chưa ló dạng để tìm gặp Chúa Cha. Cuộc gặp gỡ, nguyện cầu, trò chuyện với Chúa Cha là quá sức cần thiết đối với Đức Giêsu. Sau giờ cầu nguyện ấy Đức Giêsu quyết định tiếp tục ra đi rao giảng những nơi khác nữa. Mặc dù “tất cả mọi người” tìm kiếm Người. Người biết họ muốn gì. Cũng như bối cảnh của phép lạ hóa bánh ra nhiều, sau đó Người cũng lại ra đi. Có lẽ, Người không muốn người ta đến với Người chỉ vì những dấu lạ. Người không muốn họ tôn vinh Người. Mục đích của Người ra đi là loan Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Nước ấy “đã đến gần”, nên “hãy hoán cải và Tin vào Tin Mừng”. Những dấu lạ nếu có thì cũng là để phục vụ cho mục đích ấy. Đoạn Tin Mừng này cho thấy Người chữa lành nhiều bệnh tật nhưng Người không chữa lành tất cả mọi bệnh tật. Bệnh nhân thời của Người hay ngày nay vẫn còn rất nhiều. Điều Người mong ước là làm sao tất cả mọi người đều hoán cải và tin vào Tin Mừng. Đức Tin vào Tin Mừng giúp người ta vượt qua mọi nghịch cảnh mà vẫn sống tử tế, sống cho ra người. Nếu đức tin vào Tin Mừng bị điều kiện hóa vào những dấu lạ thì không còn thật sự là đức tin nữa mà là sự đổi chác, mua bán.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2005) 81.

[2] J. Marcus, Mark 1–8. A New Translation with Introduction and Commentary (AYB; New Haven – London 2008) XXVII, 196.

[3] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 82.

[4] Ibid.

[5] R.T. France, The Gospel of Mark. A Commentary on the Greek Text (NIGTC; Grand Rapids 2002) 108.

[6] Ibid.

[7] Ibid.

[8] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark, 82.

[10] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark, 61.

[11] Trong trình thuật về cuộc biến hình chỉ có Luca ghi rõ mục đích của Đức Giê-su cùng với 3 môn đệ đi lên núi là để cầu nguyện và đang khi cầu nguyện thì Người biến hình (Lc 9,28-29). Ngoài ra Luca cũng là tác giả Tin Mừng duy nhất ghi lại việc Đức Giê-su cầu nguyện “suốt đêm” trước khi Người tuyển chọn và gọi tên 12 Tông Đồ. Luca cũng là tác giả đặt lời dạy Kinh Lạy Cha trong bối cảnh cầu nguyện: sau khi Đức Giê-su cầu nguyện xong thì một người trong nhóm các môn đệ thưa với Người: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện cũng như ông Gioan đã dạy các môn đệ của ông” (Lc 11,1).

[12] A.Y. Collins – H.W. Attridge cho rằng Mc 1,14: Chúa Giê-su rao giảng Tin Mừng của Chúa song song với Mc 1,4: Gioan rao giảng phép rửa của lòng sám hối [A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 153.