Thursday, 12 January 2023

CON CHIÊN CỦA THIÊN CHÚA LÀ CON THIÊN CHÚA. Chú Giải Tin Mừng CN II TN A (Ga 1,29-34); Lm. Jos. Ph.D.Thạch, SVD

 Bản văn và dịch sát nghĩa

Việt

Hy Lạp

29 Ngày hôm sau, ông [Gioan] nhìn vào Đức Giêsu đi đến với mình và nói: “Kìa, Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng cất đi tội của thế gian

30 Người là Đấng mà tôi đã nói về rằng: Một người đàn ông đến sau tôi, Đấng đã trở nên trước tôi, vì Người hiện hữu trước tôi.

31 Chính tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra, tôi đã đến làm phép rửa trong nước.”

32 Ông Gioan đã làm chứng rằng:  “Tôi đã thấy Thần Khí đi xuống từ trời như chim bồ câu và ở lại trên Người”

33 Chính tôi đã không biết Người, nhưng Đấng sai tôi làm phép rửa trong nước, Đấng đó đã nói cùng tôi: “Đấng mà trên đó, ngươi thấy Thần Khí đi xuống và ở lại, Đấng ấy chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh

34 Tôi đã thấy và làm chứng rằng Người là Con Thiên Chúa.[1]

 

29 Τῇ ἐπαύριον βλέπει τὸν Ἰησοῦν ἐρχόμενον πρὸς αὐτὸν καὶ λέγει· ἴδε ἀμνὸς τοῦ θεοῦ αἴρων τὴν ἁμαρτίαν τοῦ κόσμου.

 30 οὗτός ἐστιν ὑπὲρ οὗ ἐγὼ εἶπον· ὀπίσω μου ἔρχεται ἀνὴρ ὃς ἔμπροσθέν μου γέγονεν, ὅτι πρῶτός μου ἦν.

 31 κἀγὼ οὐκ ᾔδειν αὐτόν, ἀλλ᾽ ἵνα φανερωθῇ τῷ Ἰσραὴλ διὰ τοῦτο ἦλθον ἐγὼ ἐν ὕδατι βαπτίζων.

 32 Καὶ ἐμαρτύρησεν Ἰωάννης λέγων ὅτι τεθέαμαι τὸ πνεῦμα καταβαῖνον ὡς περιστερὰν ἐξ οὐρανοῦ καὶ ἔμεινεν ἐπ᾽ αὐτόν.

 33 κἀγὼ οὐκ ᾔδειν αὐτόν, ἀλλ᾽ πέμψας με βαπτίζειν ἐν ὕδατι ἐκεῖνός μοι εἶπεν· ἐφ᾽ ὃν ἂν ἴδῃς τὸ πνεῦμα καταβαῖνον καὶ μένον ἐπ᾽ αὐτόν, οὗτός ἐστιν βαπτίζων ἐν πνεύματι ἁγίῳ.

 34 κἀγὼ ἑώρακα καὶ μεμαρτύρηκα ὅτι οὗτός ἐστιν υἱὸς τοῦ θεοῦ. (Jn. 1:29-34 BGT)


Bối cảnh

Ga 1,29-34 nằm trong phần khai mạc sứ vụ của Đức Giêsu (Ga 1,19-51). Trước khi Đức Giêsu xuất hiện, ông Gioan Tẩy Giả xuất hiện để giới thiệu về Người. Trước đoạn văn này là lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả dành cho các thầy tư tế và Lêvi, một số người thuộc phái Pharisêu (Ga 1,19-28) và tiếp theo sau đoạn văn này là câu chuyện Đức Giêsu tuyển chọn bốn môn đệ đầu tiên (Ga 1,35-51). Cụm trạng ngữ chỉ thời gian “hôm sau” [Τῇ ἐπαύριον] (Ga 1,29) trong đoạn văn này cho thấy sự liền mạch với đoạn văn sau đó, nơi mà cùng trạng ngữ được lặp lại hai lần nữa (Ga 1,35.43). Câu nói: “Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trội hơn tôi vì có trước tôi” nhắc nhớ đến lời chứng trước đó của ông Gioan: “Có một Đáng đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1,26-27). Danh xưng “Chiên Thiên Chúa” sẽ được ông Gioan Tẩy Giả tiếp tục giới thiệu cho hai môn đệ của mình (Ga 1,35). Danh xưng “Chiên Thiên Chúa, Đấng cất đi tội của thế gian” liên kết chặt đến cái chết của Đức Giêsu để chuộc tội cho nhân loại. Truyền thống Đức Giêsu chịu phép rửa và được Thần Khí ngự xuống, tựa chim bồ câu, và Đức Giêsu là Đấng lám Phép Rửa trong Thánh Linh, cách nào đó nối kết với truyền thống về việc Đức Giêsu chịu phép rửa trong các Tin Mừng Nhất Lãm.

Cấu trúc

Con chiên của Thiên Chúa, Đấng cất đi tội của thế gian (29)

Đấng đến sau, trở nên trước, vì hiện hữu trước (30)

Chính tôi đã không biết Người,

đến làm phép rửa trong nước (31)

Thấy Thần Khí đi xuống và ở lại trên ai (32)

Chính tôi đã không biết Người,

được sai đến làm phép rửa trong nước,

Đấng mà trên đó tôi thấy Thần Khí đi xuống và ở lại,

Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh (33)

Người là Con Thiên Chúa (34)

Một số điểm chú giải

1.     Hôm Sau: Đây là cụm từ đánh dấu sự tiến triển liên tục của trình thuật mà tác giả Gioan thường dùng (1,29.35.43). Tác giả R. Brown nghĩ rằng, dựa trên Ga 1,32 (và 1,28), có lẽ câu chuyện này xảy ra sau phép rửa của Đức Giêsu, sự kiện mà Gioan chỉ đề cập đến, mà không tường thuật như các tác giả Nhất Lãm.[2] Tuy nhiên, “hôm sau”, cũng có thể so với, và tiếp theo sự kiện ông Gioan gặp gỡ các đại diện lãnh đạo Do Thái đến từ Jêrusalem để hỏi về căn tính của ông (Ga 1,19-27).

2.     Con Chiên Của Thiên Chúa: Trong Tin Mừng thứ tư Đức Giêsu giới thiệu mình là “mục tử nhân lành” (Ga 10,11.14; Cf. Mc 14,27). Ông Gioan Tẩy Giả của Tin Mừng thứ tư lại giới thiệu Đức Giêsu như là “Con Chiên của Thiên Chúa” ( ἀμνὸς τοῦ θεοῦ). Danh xưng “con chiên” thường được dùng để ám chỉ đến thành viên của dân Chúa: “Chiên lạc nhà Israel” (Mt 10,6; 15,24); “Đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt” (Mt 9,36; Cf. 18,12-13; Mc 6,34). Các môn đệ cũng được mô tả như là con chiên khi đi thi hành sứ vụ: “Con chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10,16; Lc 10,3). Danh xưng “con chiên của Thiên Chúa” chỉ dành riêng cho một mình Đức Giêsu. Đặc tính khác biệt của cụm danh xưng này là danh ngữ ở thuộc cách “của Thiên Chúa”. Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa. Người là con chiên, nhưng không phải la một lễ vật dâng cúng.[3] Nếu “Con Chiên” được hiểu là “người tôi tớ” thì cụm từ “Con Chiên của Thiên Chúa” có thể hiểu như là “Người tôi tớ của Chúa”.[4] Chỉ có một mình tác giả Gioan sử dụng danh xưng này cho Đức Giêsu (Ga 1,29.36). Ông Gioan Tẩy Giả dùng danh xưng này để giới thiệu Đức Giêsu cả cho dân chúng và cho các môn đệ của mình. Có thể nói đây là danh xưng kitô học rất quan trọng của Tin Mừng thứ tư. Có thể tác giả Tin Mừng thứ tư muốn nối kết Đức Giêsu với hình ảnh con “chiên vượt qua” trong truyền thống Do Thái. Đó là truyền thống nổi tiếng về Lễ Vượt Qua, bắt nguồn từ việc Chúa đã giải thoát dân Israel, đưa ra khỏi Aicập. Những chỉ dẫn về con chiên được ghi chi tiết trong sách Xuất Hành: Mồng mười, tháng thứ nhất, mỗi gia đình bắt một con chiên; Con chiên phải toàn vẹn, con đực, không quá một tuổi; Nhốt đến ngày mười bốn tháng ấy, rồi toàn thể cộng đồng Israel đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên; Vết máu trên nhà sẽ là dấu hiệu cho biết là người Israel đang ở đó để khi thấy vết máu Chúa sẽ “vượt qua”, và họ sẽ không bị tai ương giết con đầu lòng mà Chúa giáng xuống trên đất Aicập (Xh 12,1-14). Lễ Vượt Qua được Người Do Thái cử hành hằng năm và mỗi dịp Lễ Vượt Qua, con chiên lại được sát tế.

Tác giả R.E. Brown đề xuất ba cách hiểu danh xưng “Con Chiên của Thiên Chúa”: (1) Con Chiên khải huyền, như được nói đến trong sách Khải Huyền; (2) Con Chiên như là người tôi tớ đau khổ của Isaiah; và (3) Con Chiên như là con chiên Vượt Qua, trong nghi thức sát tế chiên Vượt Qua.[5] Ba hình ảnh là ba khía cạnh trong toàn bộ mầu nhiệm khổ nạn – cứu chuộc của Đấng Mêsiah.

3.     Đấng cất đi tội lỗi của thế gian: Con chiên vượt qua bị sát tế, tự nó không mang lại sự giải thoát. Chỉ có máu của nó được bôi lên khung cửa trở thành dấu hiệu để Chúa bỏ qua, không giết nhầm các con trai đầu lòng của người Israel. Ông Gioan Tẩy Giả giới thiệu danh xưng “Con chiên Thiên Chúa” đi kèm với danh xưng “Đấng cất đi tội lỗi của thế gian”. Danh xưng “Đấng cất đi” được đặt song đối với danh xưng “con chiên” như muốn giải thích cho danh xưng này. Ý nghĩa “con chiên Thiên Chúa” được hiểu qua danh xưng “Đấng cất đi tội lỗi trần gian”. Đức Giêsu là “Con chiên của Thiên Chúa” vì Người “cất đi tội lỗi trần gian”, hoặc là khi Người “cất đi tội lỗi trần gian”, hoặc qua hành động “cất đi tội lỗi trần gian”. Chính Đấng Kitô là con chiên sát tế để mang lại ơn tha tội cho nhân loại. Ý tưởng này được thể hiện rõ trong lời của Đức Giêsu trên chén: “Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28; Hr 13,20). Tác giả thư thánh Phêrô xác tín rằng: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ máu quý giá của Đức Kitô, như máu của con chiên vô tỳ vết” (1 Pr 1,19). Tin Mừng Gioan trình thuật Đức Giêsu chết vào ngày áp Lễ Vượt Qua, tức là ngày con chiên Vượt Qua chịu sát tế (Ga 19,31-37), nhằm mang lại ơn giải thoát cho nhân loại.[6] Thánh Phaolô cũng tin rằng “Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên Vượt Qua của chúng ta” (1 Cr 5,7). Tác giả sách Khải Huyền cũng ám chỉ Đức Giêsu như là Con Chiên toàn thắng qua đau khổ: “Con Chiên đã bị giết, nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan và sức mạnh, danh dự với vinh quang cùng muôn lời chúc tụng” (Kh 5,12). Ngôn sứ Isaiah mô tả hình ảnh Người Tôi Tớ khổ nạn như là “con chiên bị mang đi làm thịt, như cừu câm nín bị xén lông, người chẳng hề mở miệng kêu ca” và “Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, Người đã bị đánh phạt”; “Người hiến thân chịu chết, bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Người đã cất đi tội lỗi muôn người và can thiệp cho những người tội lỗi”  (Is 53,7-8.12).

4.     Chính tôi không biết Người: Ông Gioan Tẩy Giả lặp lại hai lần khẳng định này “κἀγὼ οὐκ ᾔδειν αὐτόν” (Ga 1,31.33), như muốn nhấn mạnh đến mặc khải của “Đấng sai ông làm phép rửa với nước”. Ông Gioan Tẩy Giả lý giải rằng chính ông không biết Đức Giêsu, như là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh. Những gì ông biết được về Đức Giêsu là do “Đấng đã sai” mặc khải.

5.     Đến sau tôi, … đã trở nên trước tôi, … hiện hữu trước tôi: Đây là lối diễn tả hai hình thức tồn tại của Đức Giêsu. Về mặt nhân tính, Đức Giêsu sinh sau ông Gioan sáu tháng (x. Lc 1,26.36), và Người cũng khai mạc sứ vụ sau ông Gioan ít lâu (x. Mc 1,14; Mt 4,12). Người ta nghe danh và đến với ông Gioan trong sa mạc để được ông dìm trong nước. Một trong những môn đệ của Đức Giêsu, ông Anrê đã từng là môn đệ của ông Gioan (Ga 1,35-43). Tuy nhiên, về thiên tính, Đức Giêsu đã trở nên trước ông, vì Người hiện hữu trước ông. Tin Mừng thứ tư đã giới thiệu Đức Giêsu như “Ngôi Lời hiện hữu từ ban đầu, và Ngôi Lời hằng ở với Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Tất cả trở nên hiện hữu nhờ Người và không có Người, không có một điều gì hiện hữu” (Ga 1,1-3). Về vị trí và vai trò, Đức Giêsu cũng trở nên trước ông Gioan vì ông là người “tiền hô”, “người làm phép rửa trong nước”, còn Đức Giêsu là Đấng Mêsiah, là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh, và cũng là “Chiên Thiên Chúa, Đấng cất đi tội lỗi của trần gian”. Chính Đức Giêsu đã tự bạch về sự tiền hữu của mình: “Tôi bảo thật các ông, trước khi ông Ápraham, hiện hữu, thì Ta hằng hữu” (πρὶν Ἀβραὰμ γενέσθαι ἐγὼ εἰμί, Ga 8,58; Cf. 17,5).

6.     Thần Khí đi xuống như chim bồ câu và ở lại: Thay vì thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giorđan như các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 1,9-11; Mt 3,13-17; Lc 3,21-22), tác giả Gioan chỉ mô tả ngắn gọn qua lời của ông Gioan Tẩy Giả: “Thấy Thánh Linh đi xuống như chim bồ câu và ở lại trên Người”. Đây là một trong những hình ảnh được tìm thấy trong trình thuật Đức Giêsu chịu phép rửa trong các Tin Mừng Nhất Lãm. Tác giả Gioan không nói gì đến tiếng từ trời công bố long trọng “đây là Con yêu của Ta, nơi Người, Ta hài lòng”. Tác giả Gioan chỉ cho biết là chính “Đấng đã sai ông Gioan” mặc khải Đức Giêsu chính là “Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh”. Tuy nhiên, sau đó, qua lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả, tác giả cho biết rằng Đức Giêsu chính là “Con Thiên Chúa”.

7.     Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh: “Phép rửa trong Thánh Linh”, giống với tác giả Máccô (Mc 1,8). Tác giả Mátthêu và Luca còn thêm “lửa” vào trong phép rửa: “Phép rửa trong Thánh Linh và lửa”. Phép rửa trong Thánh Linh có ý nghĩa thanh tẩy và biến đổi, trong khi đó phép rửa trong “lửa” nghiêng về ý nghĩa xét xử và trừng phạt.[7]

8.     Con Thiên Chúa: Đoạn văn Ga 1,29-34 bắt đầu bằng giới thiệu Đức Giêsu là “Con Chiên của Thiên Chúa” và kết bằng lời chứng rằng Người là “Con Thiên Chúa”. Đây là hai danh xưng không tách rời nhau và danh xưng cuối là nền tảng, căn tính của danh xưng đầu. Đức Giêsu trước hết và trên hết là “Con Thiên Chúa”. Khi nhập thể, Người nhận lấy sứ vụ trong thân phận “Con Chiên của Thiên Chúa”, Con Chiên hiến tế để mang lại ơn tha thứ, giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi của họ. Người cũng chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh. Tiếp theo sau lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả, đến lượt ông Nathanael, một trong bốn môn đệ đầu tiên sẽ tuyên xưng Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa, là vua của Israel” (Ga 1,49). Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu nhiều lần chứng tỏ mình là Con Thiên Chúa (Ga 5,25; 10,36; 11,24; 19,7). Tác giả Tin Mừng thứ tư cho biết mục đích của sách Tin Mừng là “để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31). Danh xưng “con Thiên Chúa” trong truyền thống Cựu Ước được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Israel được gọi là con trai đầu lòng của Chúa (Xh 4,22tt); Con cháu của vua Đavid được Chúa nhận làm con trong 2 Sm 7,14; Trong các Thánh Vịnh, Đấng Mêsiah, hậu duệ của vua Đavid, được diễn giải như là con Thiên Chúa (Tv 2,7; 89,26); Những người công chính cũng được gọi là những người con của Thiên Chúa (Hc 4,10; Kn 2,18). Trong bối cảnh này, theo lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả, Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa”.[8] Đây chính là tước hiệu được Chúa Cha chứng nhận trong biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc 1,11; Mt 3,17; Lc 3,22). Đây cũng là tước hiệu mà quỷ đã dùng để thách thức, cám dỗ Đức Giêsu (Mt 4,3.6; Lc 4,9); và thần ô uế dùng để gọi Đức Giêsu (Mt 5,9; 8,9; Cf. Mc 3,11; 5,7; Lc 8,28). Khi chứng kiến phép lạ dẹp yên sóng biển, bảo tố, những người trong thuyền cũng nhìn nhận rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (Mt 14,33). Ông Phêrô, đại diện cho các Tông Đồ, tuyên xưng Đức Giêsu là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (Mt 16,16). Cuối cùng, người đại đội trưởng, khi chứng kiến cái chết của Đức Giêsu đã long trọng nhìn nhận: “Quả thực, ông này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).

Bình luận tổng quát

Tác giả Tin Mừng thứ tư không có trình thuật về sự kiện Đức Giêsu chịu phép rửa như các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm, trong đó căn tính Con Thiên Chúa của Đức Giêsu được mặc khải. Tuy nhiên, qua lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả, toàn thể danh xưng Kitô học quan trọng của Đức Giêsu được giới thiệu. Thứ nhất, Đức Giêsu là “Con Chiên của Thiên Chúa”. Danh hiệu Kitô học này không được nói đến trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm. Danh hiệu này được giải thích bằng một danh hiệu khác: “Đấng cất đi tội lỗi của thế gian”. Con Chiên của Thiên Chúa có thể được hiểu như là hình ảnh “Người Tôi Tớ đau khổ”, như con chiên hiền lành bị mang đi làm thịt, gánh lấy tội lỗi của trần gian; hay là hình ảnh một con chiên vẹn toàn được sát tế trong dịp Lễ Vượt Qua, và máu Người là máu Giao Ước mang lại ơn tha thứ cho nhân loại; hoặc là hình ảnh một con chiên khải huyền, một con chiên chiến thắng qua cuộc khổ nạn. Ông Gioan cũng làm chứng rằng mình đã nhận được mặc khải của Đấng sai ông đến làm phép rửa trong nước, rằng Đức Giêsu chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh. Dấu hiệu để nhận ra Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh là: “Thánh Linh đi xuống và ở lại trên người ấy”. Dấu hiệu này gián tiếp nhắc đến sự kiện Đức Giêsu chịu phép rửa và được Thánh Linh xức dầu. Tác giả Gioan không tường thuật về chứng nhận của tiếng từ trời, rằng Đức Giêsu là con yêu dấu, nhưng cũng qua lời chứng của Gioan Tẩy Giả, độc giả hiểu rõ Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa”. Vì Người là “Con Thiên Chúa”, nên dù xuất hiện trên trần gian trong thân phận con người, sau ông Gioan, chịu ông Gioan làm phép rửa, rồi khai mạc sứ vụ sau ông Gioan, Người đã trở nên trước ông vì Người hiện hữu trước ông. Sứ vụ của ông Gioan cũng chỉ để chuẩn bị cho sứ vụ của Người, và nhiệm vụ của ông Gioan là làm chứng cho mọi người biết rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Có thế tóm kết lời chứng của ông Gioan về Đức Giêsu trong đoạn văn này như sau: Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Người tiền hữu, đã chịu phép rửa trong nước của ông Gioan, nhưng sẽ là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh, và trở nên Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng cất đi tội lỗi của thế gian qua cái chết của Người.

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD



[1] Một số bản chép tay viết là “Đấng được tuyển chọn của Thiên Chúa” (P3, bản chép đầu tiên của Sinaiticus, Latin cổ, vài bản Syriac). Truyền thống viết là “Con Thiên Chúa” thì mạnh hơn, và cách nói “Người Con” cũng hài hòa hơn là “Đấng được tuyển chọn” trong ngôn ngữ và thần  học của Gioan. Tuy nhiên, một vài tác giả vẫn chủ trương cách nói “Đấng Tuyển Chọn”, xét về tiêu chuẩn “khó đọc hơn” của thuật phê bình bản văn [x. F.J. Moloney, The Gospel of John (SP4; Collegeville 1998) 59].

[2] R.E. Brown, The Gospel according to John (I–XII). Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) XXIX, 55.

[3] F.J. Moloney, The Gospel of John, 59.

[4]If the Lamb is the Servant, then John’s phrase is patterned after the Servant of Yahweh. If the Lamb is the paschal lamb, then the genitive may have the sense of “supplied by God” (R.E. Brown, The Gospel according to John (I–XII), 55).

[6]The identification and the role are retained in the Johannine circle, but these are modified in the light of the redemptive event and the revelation of its meaning: the Lamb of God brings deliverance through submission to death as the Passover Lamb (see 19:31–37) and his rising to life with the Father in heaven” [G.R. Beasley-Murray, John (WBC 36; Dallas 2002) 25].

[8] G.R. Beasley-Murray, John, 26.

Thursday, 29 December 2022

TÌM THẤY – TÔN VINH VÀ TÁN TỤNG. Chú Giải Tin Mừng CN Lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa (Lc 2,15-21); Lm. Jos. Ph.D. Thạch, SVD

 Bản văn và dịch sát nghĩa

Việt

Hy Lạp

15 Khi các sứ giả đã rời khỏi họ mà về trời, các mục tử bắt đầu nói với nhau rằng:  “Chúng ta nên đi băng qua đến tận Bếtlehemxem chuyện đã xảy ra, chuyện mà Chúa đã mặc khải cho chúng ta.

16 Họ [các mục tử] vội vã khởi hành và tìm thấy bà Maria ông Giuse, cùng với Hài Nhi được đặt trong máng cỏ.

17 Sau khi thấy như vậy, họ tường thuật những điều đã được nói cho họ về đứa trẻ này.

18 Tất cả những người nghe đều kinh ngạc về những điều mà các mục tử nói với họ.

19 Còn bà Maria thì hằng gìn giữ những điều ấy, suy đi xét lại trong lòng.

20 Rồi, các mục tử trở về, tôn vinh tán tụng Thiên Chúa về tất cả những điều họ đã nghe thấy, như đã được nói cho họ.

21 Khi đã trọn tám ngày để cắt bì cho Người, Người được đặt tên là Giêsu, tên được sứ giả gọi trước khi Người được thụ thai trong lòng [mẹ].

15 Καὶ ἐγένετο ὡς ἀπῆλθον ἀπ᾽ αὐτῶν εἰς τὸν οὐρανὸν οἱ ἄγγελοι, οἱ ποιμένες ἐλάλουν πρὸς ἀλλήλους· διέλθωμεν δὴ ἕως Βηθλέεμ καὶ ἴδωμεν τὸ ῥῆμα τοῦτο τὸ γεγονὸς ὃ ὁ κύριος ἐγνώρισεν ἡμῖν.

16 καὶ ἦλθαν σπεύσαντες καὶ ἀνεῦραν τήν τε Μαριὰμ καὶ τὸν Ἰωσὴφ καὶ τὸ βρέφος κείμενον ἐν τῇ φάτνῃ·

 17 ἰδόντες δὲ ἐγνώρισαν περὶ τοῦ ῥήματος τοῦ λαληθέντος αὐτοῖς περὶ τοῦ παιδίου τούτου.

 18 καὶ πάντες οἱ ἀκούσαντες ἐθαύμασαν περὶ τῶν λαληθέντων ὑπὸ τῶν ποιμένων πρὸς αὐτούς·

 19 ἡ δὲ Μαριὰμ πάντα συνετήρει τὰ ῥήματα ταῦτα συμβάλλουσα ἐν τῇ καρδίᾳ αὐτῆς.

 20 καὶ ὑπέστρεψαν οἱ ποιμένες δοξάζοντες καὶ αἰνοῦντες τὸν θεὸν ἐπὶ πᾶσιν οἷς ἤκουσαν καὶ εἶδον καθὼς ἐλαλήθη πρὸς αὐτούς.

 21 Καὶ ὅτε ἐπλήσθησαν ἡμέραι ὀκτὼ τοῦ περιτεμεῖν αὐτὸν καὶ ἐκλήθη τὸ ὄνομα αὐτοῦ Ἰησοῦς, τὸ κληθὲν ὑπὸ τοῦ ἀγγέλου πρὸ τοῦ συλλημφθῆναι αὐτὸν ἐν τῇ κοιλίᾳ. (Lk. 2:16-21 BGT)

Bối cảnh

Lc 2,15-21 nằm trong trình thuật Giáng Sinh và thời thơ ấu của Đức Giêsu (Lc 2,1-52). Trong bối cảnh trực tiếp, đoạn văn này là một phần của trình thuật Giáng Sinh. Nó là phân đoạn tiếp nối sau hai phân đoạn:  Đức Giêsu sinh ra tại Bếtlehem (2,1-7); Mặc khải cho nhóm mục tử đang canh giữ đàn vật ngoài đồng (2,8-14). Câu chuyện cắt bì và đặt tên (2,21) song song với câu chuyện cắt bì và đặt tên cho “người dọn đường”, Gioan Tẩy Giả (Lc 1,59-66). Tên gọi Giêsu là tên mà sứ giả Gabriel đã gọi khi truyền tin cho bà Maria (Lc 1,31). Hơn nữa, tên gọi Giêsu gắn liền với lời sứ giả nói cùng ông Giuse trong giấc mộng theo trình thuật của tác giả Mátthêu: “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21; Cf. 1,25). Địa danh Bếtlehem nối kết (2,15) là địa danh được nhắc đến hai lần như là thành của vua David trong hai phân đoạn trước đó (2,4.11). Các nhân vật Giuse, Maria và Hài Nhi Giêsu xuất hiện trong phân đoạn đầu và phân đoạn này, riêng Hài Nhi Giêsu xuất hiện trong phân đoạn thứ hai nữa (một trẻ sơ sinh được đặt trong máng cỏ). Trong bối cảnh rộng hơn, hành động “gìn giữ và suy đi xét lại trong lòng” của bà Maria ở đây sẽ được lặp lại trong biến cố Đức Giêsu ở lại trong đền thờ khi Người lên mười hai tuổi (Lc 2,41-52).

Cấu trúc

Đến Bếtlehem (15): Đi băng qua đến tận Bếtlehem và xem chuyện đã xảy ra

Thấy (16): Tìm thấy bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi

Tường thuật (17): Những điều đã được nói cho họ về đứa trẻ này

Phản ứng:

Người ta (18) Tất cả những người nghe đều kinh ngạc

Bà Maria (19): Hằng gìn giữ những điều ấy, suy đi xét lại trong lòng.

Trở về (20): Tôn vinh và tán tụng Thiên Chúa

Cắt bì và đặt tên (21): Tên sứ giả đã gọi: Giêsu

Một vài điểm chú giải[1]

1.     Đi băng qua đến tận Bếtlehem”: Sau khi được sứ giả của Chúa loan báo tin vui lớn, cũng là tin vui cho toàn dân, những người chăn chiên rời bỏ đàn vật của mình để lên đường đi đến “thành của vua Đavid” để xem sự việc đã xảy ra. Động từ “đi băng qua” (διά) là một động từ ghép bao gồm động từ “đến” (ἔρχομαι) và một tiền tố là giới từ “xuyên qua”. Giới từ “cho đến khi, cho đến tận” được đặt trước thành Bếtlehem (ἕως Βηθλέεμ καὶ) nhấn mạnh đích đến của cuộc hành trình.[2]  Theo địa danh khảo cổ học ngày nay, cánh đồng nơi các mục tử ở cách xa Bếtlehem khoảng hơn kém 3 km đường bộ và phải mất khoảng bốn mươi phút đi bộ. Với địa thể hiểm trở của núi đồi và cây cối, cùng với thời gian mà họ khởi hành là ban đêm, độc giả có thể đoán biết được hành trình này khó khăn như thế nào. Có lẽ, họ đã phải hối hả “băng qua” núi đồi, cây cối, cùng những cản trở khác để đến gặp Hài Nhi Giêsu.[3] Hành trình “băng qua” (2,15) này được tiếp nối và mở ra bằng một hành trình “trở về” trong tư thế “vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 2,21). Sự khởi hành của các mục tử ngay sau khi nghe thông điệp từ các thiên sứ tương tự như sự “vội vã lên đường” đến nhà ông Dacaria, của bà Maria ngay sau khi nghe lời sứ giả Gabriel truyền tin (Lc 1,38-40). Đây đều là những đáp trả tích cực đối lại với sự đáp trả của ông Dacaria (Lc 1,18.20) có phần hơi tiêu cực – không tin vào lời sứ giả của Chúa.[4]

2.      “Tìm thấy bà Maria, ông Giuse và trẻ sơ sinh được đặt trong máng cỏ”: Các sứ giả đã bật mí với các mục tử về dấu hiệu để nhận ra “Đấng Cứu Độ, là đấng Kitô, Chúa” mới sinh trong thành của David là “các anh sẽ tìm thấy một trẻ sơ sinh được bọc tã, và được đặt trong máng cỏ” (2,12). Các hành động “bọc tã và đặt trong máng cỏ” là của bà Maria (2,7). Mục đích các mục tử vội vã đi đến Bếtlêhem là để “xem sự việc đã xảy ra như Chúa đã tỏ cho chúng ta biết”

3.     “Họ tỏ ra sự việc (lời)” (ἐγνώρισαν): “Sự việc” mà họ muốn xem được mô tả là “sự việc đã xảy ra, sự việc mà Chúa tỏ ra cho chúng ta biết” (τὸ ῥῆμα τοῦτο τὸ γεγονὸς ὃ ὁ κύριος ἐγνώρισεν ἡμῖν: 2,15) tương ứng với “sự việc họ tỏ bày”, “sự việc đã được nói cho họ về đứa bé này” (ἐγνώρισαν περὶ τοῦ ῥήματος τοῦ λαληθέντος αὐτοῖς περὶ τοῦ παιδίου τούτου: 2,17). Động từ “tỏ bảy” được dùng cho cả Chúa và nhóm mục tử. Tác giả cho thấy rằng có một sự liên kết trong sự tỏ bày của Chúa và của các mục tử: Chúa tỏ cho các mục tự biết mầu nhiệm Giáng Sinh, rồi các mục tử tiếp tục tỏ bày cho bà Maria, ông Giuse và những người khác.[5] Toàn bộ tiến trình có thể diễn cách khác là: Các mục tử lắng nghe Tin Vui từ các sứ giả loan báo, vội vã đến viếng thăm và kiểm chứng, rồi loan báo cho người khác. Đó là bản chất và sức mạnh của một Tin Vui đích thực, một tin vui có sức manh công phá cõi lòng người nghe, khiến họ phải nói ra, loan tin chứ không chỉ giữ cho riêng mình. Nội dung của động từ “tỏ bày” là sự việc/ lời (τὸ ῥῆμα). “Sự việc” chính là “sự Giáng Sinh của Đấng Cứu Độ, Đấng Kitô, Chúa” được sinh ra trong thành của David.  J. Fitzmyer cho rằng nhưng những người chăn chiên này thuật lại cho bà Maria và ông Giuse nghe toàn bộ cuộc gặp gỡ với các sứ giả Thiên Chúa, rồi còn kể cho dân thành Bếtlehem nữa.[6] Các mục tử không chỉ tìm thấy “trẻ thơ”, mà còn tìm thấy bà Maria và ông Giuse.[7] Những nhân vật mà họ nhìn thấy trước là bà Maria và ông Giuse chứ không phải là trẻ thơ Giêsu. Có thể nói rằng sự xuất hiện của các mục tử đã làm thay đổi bầu khí của cảnh Giáng Sinh. Cho đến trước khi các mục tử viếng thăm và “tỏ bày”, bà Maria và ông Giuse cùng với Hài Nhi vẫn lặng lẽ, nơi một góc chuồng chiên nào đó, không ai biết đến. Với sự hiện diện của các mục tử không khí cảnh Giáng Sinh rộn ràng, vui tươi hơn, và sau khi họ kể lại mặc khải ở cánh đồng, căn tính của trẻ Giêsu dần hé lộ và niềm vui, sự kinh ngạc bắt đầu. Cứ như thế tin vui được nhân rộng và đã đến cùng cõi đất ngày hôm nay. Nếu như cảnh Giáng Sinh của tác giả Mátthêu trở nên sâu lắng, huy hoàng, với sự thăm viếng, bái thờ, và dâng lễ phẩm quý của các nhà chiêm tinh từ Phương Đông, thì cảnh Giáng Sinh của tác giả Luca, rộn ràng, náo động bởi lời kể chuyện của các mục tử đơn sơ giản dị.

4.     “Tất cả những người nghe đều kinh ngạc” (πάντες οἱ ἀκούσαντες ἐθαύμασαν): Sự ngạc nhiên của thính giả ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, họ đương nhiên là ngạc nhiên vì câu chuyện các thiên sứ hiện ra với các mục tử. Rồi ngạc nhiên vì tất cả những gì thiên sứ nói với các mục tử đều đúng y sự thật. Kế đến, họ có thể rất đỗi ngạc nhiên vì Đấng Mêsiah, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ mà họ mong chờ bấy lâu nay lại xuất hiện trong bộ dạng một Hài Nhi yếu ớt. Và ngạc nhiên hơn nữa vì bối cảnh Người sinh ra thật không thể tưởng tượng được. Người ta biết Người sinh ra tại Bếtlehem theo như lời ngôn sứ Malakhi, nhưng ai ngờ Người lại sinh ra trong chuồng bò lừa như thế. Sự “kinh ngạc” là một đáp trả được mong đợi trước một sự kiện siêu nhiên (1,21.63-66; Cf. 2,33). Sự “kinh ngạc” này còn được tiếp diễn trong các trình thuật về sứ vụ công khai của Đức Giêsu (Lc 4,22;8,25; 9,43; 11,14; 24,12).[8]

5.     “Hằng giữ gìn và ngẫm suy tất cả các sự việc” (πάντα συνετήρει τὰ ῥήματα ταῦτα συμβάλλουσα): Khác với thái độ “kinh ngạc” của đám động vô danh (Lc 2,18), bà Maria, “bảo tồn và suy gẫm về tất cả những việc ấy”. Động từ “συνετήρει” dịch đơn giản có nghĩa là gìn giữ. Bản dịch Việt Ngữ là “hằng ghi nhớ” (CGKPV). Một số tác giả Anh Ngữ hiểu là “gìn giữ như kho tàng” (treasured up ESV, RSV), bản dịch Ý Ngữ hiểu là “bảo vệ” (custodiva, CEI). Động từ “hằng ghi nhớ”, được chia ở thì vị hoàn (imperfect), nhấn mạnh sắc thái liên tục, kéo dài, chưa chấm dứt của hành động.[9] Động từ này kết hợp với động từ “συμβάλλουσα” (suy đi nghĩ lại, gẫm suy, suy xét) cùng với cụm trạng ngữ chỉ nơi chốn “trong lòng của cô ấy” (ἐν τῇ καρδίᾳ αὐτῆς) diễn tả một hành động có sự trân trọng cao nhất đối với những “sự việc này”. Đức Maria “gìn giữ như kho tàng” rồi còn “suy đi nghĩ lại” về điều ấy “trong tim” mình. Điều mà Đức Maria “gìn giữ như kho tàng” trong tiếng Hy Lạp là “τὰ ῥήματα”. Danh từ này có hai nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất là “lời nói” (saying). Nghĩa thứ hai là “những sự việc”. τὰ ῥήματα (số nhiều) được tác giả Luca sử dụng 5 lần, trong đó có một lần Luca sử dụng theo nghĩa là những lời nói (Lc 7,1). Bốn lần còn lại danh từ này đều được sử dụng theo nghĩa là “những sự việc”. Tất cả những sự việc mà Luca muốn nói đến đều nhiệm mầu và liên quan đến công trình cứu độ. Thứ nhất là “những sự việc” liên quan đến việc thụ thai, sinh hạ và đặt tên cho Gioan Tẩy Giả. “Những sự việc này được thảo luận trong toàn cõi Giuđê” (Lc 1,65). Hai chuỗi sự việc tiếp theo đều được Đức Maria “gìn giữ như bảo tàng” trong lòng mình. Đó là “những sự việc liên quan đến việc hạ sinh Đức Giêsu cùng với sự viếng thăm của nhóm mục tử và câu chuyện kể của họ” (Lc 2,19). Tiếp theo đó là “những sự việc” Đức Giêsu ở lại trong đền thờ, ngồi giữa các bậc thầy, vừa nghe vừa đặt câu hỏi” (Lc 2,51). Và cuối cùng là “những sự việc” mà những người phụ nữ kể với nhóm Mười Một về Đức Giêsu Phục Sinh, nhưng họ không tin các bà (Lc 24,11). Phản ứng của Đức Maria, với một thái độ trân trọng và để tâm suy ngắm tất cả những mầu nhiệm của cuộc đời Đức Giêsu có thể được xem như là đỉnh cao của trình thuật Giáng Sinh này. Nó cũng biểu lộ đặc tính nổi bật của Đức Maria trong tương quan với Chúa và công trình cứu độ của Người. Đức Maria phải nói là “đương kim vô địch” là “kỷ lục gia” trong việc trân quý và gẫm suy về mầu nhiệm cứu độ.

6.      “Trở về, vừa đi vừa tôn vinh và tán dương Thiên Chúa” (ὑπέστρεψαν οἱ ποιμένες δοξάζοντες καὶ αἰνοῦντες τὸν θεὸν): Đó là biểu hiện của những người gặp gỡ Chúa đích thực. Họ gặp gỡ Chúa, cảm nghiệm được Chúa hiện diện trong cuộc đời họ. Động từ “đoxazo” mà nhóm mục tử sử dụng có nguồn gốc từ danh từ “đoxa” được sử dụng ít nhất hai lần trước đó. “Vinh quang (đoxa) Chúa chiếu tỏa trên những người chăn chiên này” (Lc 2, 9). Rồi đoàn cơ binh thiên thần ca tụng: “Vinh danh (đoxa) Chúa trên các tầng trời” (Lc 2, 14). Kết thúc trình thuật này các mục tử trở về vừa đi vừa tôn vinh (đoxazo) và ca ngợi Chúa. Như vậy, có thể thấy một tiến trình cảm nghiệm vinh quang Chúa của các mục tử. Họ thấy ánh quang chiếu tỏa, rồi họ nghe các thiên sứ ca ngợi vinh quang Chúa. Rồi, họ nhìn thấy vinh quang Chúa nơi chính Thánh Gia, mà Hài Nhi Giêsu là trung tâm. Bước cuối cùng, chính họ cất lời ca tụng vinh quang Chúa. Theo J. Fitzmyer, phản ứng của những mục tử là âm vang của bài ca của cơ binh thiên thần trước đó (Lc 2,13-14).[10] Các mục tử đã được nghe tin vui lớn từ các sứ giả, nhưng giờ đây, sau khi mắt thấy, họ mới có thể chung vui với với các sứ giả của Chúa, cảm nghiệm được niềm vui cách trọn vẹn.[11]

7.     Cắt bì: Truyền thống truy nguồn lại đến giao ước của Thiên Chúa với ông Ápraham. Quy định về luật cắt bì rất rõ ràng. Đối tượng: Tất cả các bé trai, con cháu Israel hay là các bé được mua từ người nước ngoài. Thời gian: Tám ngày tuổi. Nơi cắt bì: Phần bao quy đầu phía trước. Và hình phạt dành cho người không cắt bì rất nặng: Bị loại ra khỏi dân (nghĩa đen là bị cắt đứt khỏi dân). Cả ông Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu đều chịu cắt bì khi được tám ngày tuổi (Lc 1,59; 2,21). Luca là tác giả Nhất Lãm duy nhất nhắc đến luật cắt bì cả trong sách Tin Mừng và sách Công Vụ. Khi ông Stêphanô giảng cho Hội Đồng Do Thái, ông đã nhắc lại phép cắt bì như là một dấu chỉ của Giao Ước và ông cũng nhấn mạnh đến truyền thống cắt bì của các tổ phụ: “Khi sinh ông Ixaác, ông (Ápraham) cắt bì cho cậu vào ngày thứ tám; Rồi ông Isaác cắt bì cho ông Giacóp, rồi, ông Giacóp cắt bì cho mười hai tổ phụ” (Cv 7,8). Quả thực, cắt bì là một dấu hiệu để chứng thực Đức Giêsu thuộc về dân giao ước, không bị cắt đứt khỏi dân và cũng để gợi nhớ đến Giao Ước của Chúa với tổ phụ Ápraham. Trong bài ca “Chúc Tụng” (Beneditus) tư tế Dacaria đã chúc tụng Thiên Chúa đã “thực thi lòng thương xót với cha ông chúng ta và nhớ lại gia ước thánh của Người; thực thi lời thề Người đã thề cùng ông Ápraham, cha ông chúng ta, trao ban cho chúng ta, để những người được cứu thoát khỏi tay kẻ thù, phụng thờ Người” (Lc 1,72-73). Đức Giêsu, người con của Giao Ước, sẽ lập Giao Ước Mới bằng chính máu Người, máu đổ ra vì các môn đệ (Lc 22,20; Mc 14,24: “Đổ ra vì nhiều người”; Mt 28,28: “Đổ ra cho muôn người được ơn tha tội”).

“Đây là giao ước của Ta, các ngươi phải giữ, giữa Ta và các ngươi, và con cháu ngươi sau ngươi: Mọi người nam trong các ngươi đều phải chịu cắt bì. Các ngươi phải chịu cắt bì xác thịt nơi da qui đầu của các ngươi; Đó sẽ là dấu chỉ giao ước giữa Ta và các ngươi. Khi sinh được tám ngày, mọi bé trai trong các ngươi đều phải chịu cắt bì, qua con cháu ngươi.  Kẻ sinh ra trong nhà và người được mua bằng tiền bạc chắc chắn phải chịu cắt bì. Như thế giao ước của Ta nơi thân xác các ngươi sẽ thành giao ước muôn đời. Bất cứ người nam nào không chịu cắt bì xác thịt nơi da qui đầu phải bị loại ra khỏi dân. Nó đã phá vỡ giao ước” (St 17,10-14).

8.     Đặt tên là Giêsu: Giêsu trong tiếng Hy Lạp là Iesous, có gốc trong tiếng Hípri là “Joshua” (יְהוֹשֻׁ֣עַ), chính là nhân vật thay thế ông Môsê (Gs 1,1) để dẫn dân vượt qua sông Giorđan, vào chiếm đất hứa. Danh xưng này có nghĩa là “Thiên Chúa cứu” hay “Thiên Chúa trợ giúp”. Sứ giả Gabriel khi truyền tin cho bà Maria đã cho biết rằng “bà sẽ thụ thai, sinh ra một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1,31). Thông điệp này khá giống với thông điệp sứ giả nói cùng ông Dacaria: “Bà Êlisabét, vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con và ông phải đặt tên cho con là Gioan” (Lc 1,13; Cf. 1,59-66). Trong trình thuật của tác giả Luca, người thuật chuyện cho biết tên gọi Giêsu chính là tên sứ giả đã gọi trước khi Người được thụ thai trong lòng (Lc 2,21). Trong trình thuật của tác giả Mátthêu, sứ giả đã buộc ông Giuse là phải đặt tên con trẻ là Giêsu, và sứ giả còn giải thích thêm lý do “vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Rõ ràng, tên gọi Giêsu là tên gọi có chủ ý, để diễn tả con người và sứ mạng của Đấng Kitô. Đặc biệt là danh xưng này nhắc nhớ đến nhân vật Giôsuê, tác nhân của Chúa trong cuộc dẫn đưa dân vào đất hứa.

Bình luận tổng quát

Cảnh Giáng Sinh của tác giả Mátthêu làm kinh động đến kinh thành Giêrusalem, đến vị vua đang trị vì, và tất cả các nhà lãnh đạo Do Thái, bởi vì trước đó, nó đã làm náo động đến tận Phương Đông, làm cho các nhà chiêm tinh (thông thái) phải tìm đến để bái thờ và dâng lễ vật cho vị vua mới sinh của người Do Thái (x. Mt 2,1-12). Ngược lại, cảnh Giáng Sinh của tác giả Luca chỉ làm náo động đến vùng ven thành Bếtlehem. Nơi cánh đồng mục tử, các sứ giả của Chúa đã làm cho các mục tử phải giật mình với một tin vui trọng đại: Một Đấng Cứu Độ, Đấng Kitô, Chúa, đã sinh ra trong thành của David. Tin vui ấy được tiếp nối bằng cảnh tượng vinh quang hùng vĩ, khi đoàn thiên sứ cùng hát mừng tôn vinh Thiên Chúa: “Vinh quang Thiên Chúa trên trời; bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Sau khi nghe và thấy tất cả những “sự việc” ấy, họ đã gieo bước hành trình, ra đi một cách hối hả, đến Bếtlehem để xem “sự việc đã xảy ra” như Chúa đã tỏ bày cho họ. Hành trình đường bộ dài, đường đi gập ghềnh, vào ban đêm, hẳn là một hành trình không hề dễ dàng. Tuy vậy, họ đã vượt qua, “băng qua” tất cả để đến tận Bếtlehem. Nơi ấy, họ không những nhìn thấy “trẻ thơ Giêsu được đặt nằm trong máng” như sứ giả đã nói mà còn thấy cả bà Maria và ông Giuse. Khi đã “mục sở thị”, đã kiểm chứng tỏ tường, họ tiếp nối hành động tỏ bày của Thiên Chúa. Họ tỏ bày “điều đã được nói cho họ về trẻ thơ này”. Bầu khí kinh ngạc, bầu khí cảm nghiệm mầu nhiệm thần linh, bao trùm lấy tất cả những ai nghe các mục tử “tỏ bày”. Tất cả những người nghe trong bối cảnh hiện tại có thể là ông Giuse, bà Maria, một số cư dân thành Jêrusalem, và có thể mở rộng ra cho tất cả mọi người ở mọi nơi, qua mọi thời đại. Bởi lẽ, theo lời các sứ giả của Chúa đây là “tin vui cho toàn dân” (Lc 2,10). Thái độ và suy nghĩ của bà Maria được tách riêng ra khỏi nhóm người còn lại. Bà luôn “gìn giữ” và “gẫm suy hoài” những sự việc liên quan đến Đức Giêsu. Thái độ của bà Maria, gìn giữ và gẫm suy, bao gồm cả lòng trân trọng và phân vân. Có lẽ, bà không ngừng phân vân là tại sao Đức Giêsu được sứ giả Gabriel nói đến với địa vị thân phận cao sang (Con Đấng Tối Cao, thừa kế ngai vàng David, triều đại vô cùng vô tận), lại sinh ra trong cảnh khốn cùng đến như vậy. Câu chuyện của các vị mục tử đã hé mở ánh sáng vinh quang của trẻ thơ Giêsu, nhưng đến bao giờ thì vinh quang ấy mới được tỏ hiện? Thái độ và hành động của bà Maria, lại được tiếp tục trong biến cố Đức Giêsu chủ động ở lại trong Đền Thờ vào dịp lễ Vượt Qua, lúc Người lên mười hai tuổi (x.Lc 2,41-52). Hành động “gìn giữ” và “gẫm suy” của bà Maria cứ kéo dài mãi như thế cho đến dưới chân thập giá, khi bà chứng kiến cái chết đau thương của Đức Giêsu. Có lẽ, cho đến lúc ấy, bà mới hiểu được phần nào sứ mạng của Đức Giêsu, con mình, Đấng được mệnh danh là Đấng Cứu Độ, Đấng Mêsiah, con của Đấng Tối Cao, trị vì nhà Giacóp đến muôn đời. Đó là mầu nhiệm tự hạ và tự hủy hoàn toàn để mang lại ơn cứu độ cho nhân loại, trong đó có bà Maria. Hành trình tìm kiếm, và “tỏ bày”, của các mục tử được tiếp nối bằng hành trình trở về đầy linh thiêng, “vừa đi vừa tôn vinh và tán tụng Thiên Chúa vì tất cả những điều họ đã nghe và đã thấy, như đã được nói với họ”. Niềm vui, lòng tôn kính của họ, đã hòa vào niềm vui và lòng tôn kính của các thiên sứ trước mầu nhiệm tình yêu tự hạ mà Thiên Chúa đã dành cho dân ngoại. Đó là niềm vui của những người nghèo, quê mùa, lam lũ đón nhận Tin Mừng Chúa Giáng Sinh. Đó là Tin Vui của những người cảm nghiệm được hồng ân cứu độ. Sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu được hàm chứa trong tên gọi của Người: “Giêsu”, “Thiên Chúa Chúa cứu độ”. Người sẽ cứu độ nhân loại bằng chính máu của Người: “Chén này, là Giao Ước Mới trong máu Thầy được đổ ra vì anh em” (Lc 22,20).

Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

 



[2] “As in Acts 9:38 and 11:19 (cf. 13:6), ἕως (“to”) emphasizes the destination” [F. Bovon – H.Koester, Luke 1. A commentary on the Gospel of Luke 1:1–9:50 (Hermeneia; Minneapolis 2002) 92].

[3] In some cases the verb must be rendered by a specific term for going from the countryside to the central town or village” [J. Reiling & J.L. Swellengrebel, A handbook on the Gospel of Luke (UBS; New York 1993) 109].

[4] J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids 1997) 137.

[5]What has been made known to them (v 15) they now make known, presumably to all who were sharing the use of the peasant home (v 18, and cf. at v 7)” [J. Nolland, Luke 1:1-9:20 (WBC 35A; Dallas 2002) 109].

[6] J.A. Fitzmyer, The Gospel According to Luke I-IX, 412.

[7]The mention of the parents indicates that the manger child is in no sense an abandoned child” (J. Nolland, Luke 1:1-9:20, 109).

[8] J.B. Green, The Gospel of Luke, 138.

[9]as compared with the aorist tense in the preceding verse the imperfect tense here suggests that Mary kept her experiences in mind not for a moment but for a long time” (J. Reiling & J.L. Swellengrebel, A handbook on the Gospel of Luke, 122).

[10] J.A. Fitzmyer, The Gospel According to Luke I-IX, 413.

[11] “They praise God as earlier the angelic chorus had praised him (v 13), and they glorify God, thus repeating on earth the heavenly recognition that in the birth of this child God has gained glory for himself (v 14)” (J. Nolland, Luke 1:1-9:20, 110).