Friday, 8 January 2021

"TA RẤT HÀI LÒNG VỀ CON"

 

Chú giải Tin Mừng Lễ Chúa Giê-su chịu Phép Rửa năm B (Mc 1,7-11)

Hy Lp

Việt

7  Καὶ ἐκήρυσσεν λέγων· ἔρχεται ὁ ἰσχυρότερός μου ὀπίσω μου, οὗ οὐκ εἰμὶ ἱκανὸς κύψας λῦσαι τὸν ἱμάντα τῶν ὑποδημάτων αὐτοῦ.

 8  ἐγὼ ἐβάπτισα ὑμᾶς ὕδατι, αὐτὸς δὲ βαπτίσει ὑμᾶς ἐν πνεύματι ἁγίῳ.

 9  Καὶ ἐγένετο ἐν ἐκείναις ταῖς ἡμέραις ἦλθεν Ἰησοῦς ἀπὸ Ναζαρὲτ τῆς Γαλιλαίας καὶ ἐβαπτίσθη εἰς τὸν Ἰορδάνην ὑπὸ Ἰωάννου.

 10  καὶ εὐθὺς ἀναβαίνων ἐκ τοῦ ὕδατος εἶδεν σχιζομένους τοὺς οὐρανοὺς καὶ τὸ πνεῦμα ὡς περιστερὰν καταβαῖνον εἰς αὐτόν·

 11  καὶ φωνὴ ἐγένετο ἐκ τῶν οὐρανῶν· σὺ εἶ ὁ υἱός μου ὁ ἀγαπητός, ἐν σοὶ εὐδόκησα. (Mk. 1:7-11 BGT)

7 Và Ông (Gioan) rao giảng rằng: “Đấng mạnh hơn tôi sẽ đến sau tôi, tôi không xứng đáng cúi xuống cởi dây giày của Người”.

8 Tôi làm phép dìm anh em bằng nước, nhưng Người sẽ dìm anh em trong Thánh Thần.

9 Và xảy ra là vào những ngày ấy Đức Giê-su đến từ Na-gia-rét thuộc Ga-li-lê và được Gioan dìm vào song Gio-đan.

10 Và ngay khi đi lên khỏi nước, Người thấy các tầng trời đang mở ra và Thánh Thần (hơi thở) như chim bồ câu đi xuống vào trong Người.

11 Rồi, có tiếng từ trời: “bạn là con trai yêu quý của tôi, với bạn tôi hài lòng”

 


Bối cảnh bản văn:

Mc 1,7-11 nằm trong phần được xem là phần Lời Tựa của Tin Mừng theo thánh Mác-cô. Trong đó, phần trước đó Mc 1,1-6 giới thiệu về vị sứ giả dọn đường cho Đức Giê-su. Sứ giả dọn đường này xuất hiện theo như cách mà Isaiah đã nói trước “này đây ta sai sứ giả của ta đi trước mặt ngươi, người mà sẽ dọn đường cho ngươi” (Mc 1,2). Thực ra, câu này Mác-cô trích từ sách ngôn sứ Malakhi và sách Xuất Hành (Ml 3,1; Xh 23,20). Câu sau đó “có tiếng người hô trong hoang địa, hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa” (Mc 3,2). Câu này trích từ sách Ngôn sứ Isaiah 40,3, nhưng Mác-cô có sửa chữa cho phù hợp với ý định của ông. Is 40,3: “Một giọng nói hô: ‘trong hoang địa hãy chuẩn bị con đường cho Đức Chúa, làm thẳng trong sa mạc một xa lộ cho Đức Chúa’” trong khi đó Mc 3,2: “có tiếng người hô trong hoang địa: ‘hãy chuẩn bị con đường cho Đức Chúa, làm thẳng những lối đi của Ngài’”. Rõ ràng, con đường trong hoang địa của Is 40,3 đã trở thành tiếng người hô trong hoang địa nơi Mc 1,3. Sau lời trích chắp nối có chủ ý đó, Mác-cô giới thiệu ngay về Gioan. Ông xuất hiện trong bộ dạng của ngôn sứ Ê-li-a và rao giảng Phép Rửa của lòng sám hối để được ơn tha thứ. Lời rao giảng của ông có sức cuốn hút tất cả dân cư khắp vùng Giu-đê và Giê-ru-sa-lem. Họ đến chịu phép dìm của ông và xưng thú tội lỗi. Tiếp theo sau dân chúng là Đức Giê-su. Đức Giê-su cũng đến xin Gioan dìm trong nước, nhưng dĩ nhiên là không bao hàm việc xưng thú tội lỗi. Tuy nhiên, trước khi, Đức Giê-su đến, Gioan đã có lời giới thiệu về Đức Giê-su. Người là “Đấng mạnh hơn” Gioan bội phần và Gioan “không xứng đáng cúi xuống cởi dây giầy cho Người” (Mc 1,7). Sự kiện Đức Giê-su được Gioan dìm trong nước quả là một sự lạ. Đoạn văn tiếp theo sau Mc 1,7-11, là đoạn nói về sự kiện Đức Giê-su chịu cám dỗ 40 ngày trong hoang địa. Đoạn van 1,7-11 bao gồm hai đoạn nhỏ. Đoạn thứ nhất (1,7-8), là lời giới thiệu của Gioan về “Đấng đến sau”. Đoạn thứ hai (1,9-11) là đoạn tường thuật về sự kiện Đức Giê-su chịu dìm trong nước và mạc khải về căn tính thần linh của Đức Giê-su.

 


Một số điểm chú giải

1.     “Người quyền năng hơn”:ὁ ἰσχυρότερός” là tính từ so sánh được dùng làm như danh từ có mạo từ xác định đứng trước. Tính từ này có nghĩa là mạnh, khỏe, vĩ đại, hay quyền năng. Trạng từ “ὀπίσω” (sau đó), trong mệnh đề “Đấng đến sau tôi” cùng với sự xuất hiện ngay sau đó của Đức Giê-su giúp độc giả hiểu ngay Đấng mà Gioan muốn nói đến là Đức Giê-su.[1] Đức Giê-su quyền năng hơn Gioan theo nghĩa nào? Có lẽ, không phải là theo nghĩa cơ bắp. Trong bối cảnh này, “quyền thế hơn” có thể hiểu trước tiên là người làm “phép rửa với Thánh Thần” so với người làm “phép rửa với nước”.[2] Hơn nữa, Đức Giê-su quyền năng hơn, cao cả hơn sẽ được “tiếng từ trời” mạc khải ngay sau đó. Người cũng có thể quyền năng hơn trong cách Người chịu cơn cám dỗ (Mc 1,12-13). Quyền năng của Người cũng được thể hiện trong lời giảng của Người (Mc 1,22.27; Mt 7,29) và khả năng làm các dấu lạ: chữa lành bệnh tật, trừ quỷ (Mc 3,15), và quyền răn đe bảo tố thiên nhiên (Mc 4,35-41; Mt 8,18.23-27; Lc 8,22-25). Người còn có quyền tha tội (Mc 2,10; Mt 10,1) trong khi Gioan chỉ làm Phép Rửa của lòng hoán cải. Lối diễn tả “Giê-su như là Đấng mạnh hơn” cũng gợi lên những suy nghĩ về một chiến binh thần linh và messiah vương giả hoặc tác nhân nào đó trong cuộc chiến.[3]

2.     “Không xứng đáng cúi xuống và cởi dây giày”: Câu này của Gioan cho thấy rằng danh xưng “ὁ ἰσχυρότερός” (Đấng mạnh hơn, quyền thế hơn) có thể thiên về sự cao trọng về danh dự xuất phát từ vị thế của “Đấng đến sau”. Tác giả Tin mừng Gioan, với thần học Ngôi Lời hằng hữu từ đời đời, còn thêm vào lời nói của Gioan Tẩy Giả một mệnh đề chỉ lý do “vì Người có trước tôi” (Ga 1,15) nhằm làm rõ tại sao “Người đến sau” lại “được xếp trước” và “mạnh thế hơn”. Ngày nay người ta thường dùng thành ngữ “không đáng xách dép” để diễn tả khoảng cách về đẳng cấp và danh dự của một người so với một người khác. Gioan dẫu được Đức Giê-su xác nhận là “cao trọng nhất trọng số những người được người nữ sinh ra” (Mt 11,11), là “ngôn sứ của Đấng tối cao” (Lc 1,76), vẫn là một phàm nhân, không sao sánh được với địa vị một Thiên Chúa làm người như sẽ thấy sau đó trong biến cố Phép Rửa. Trong văn hóa Trung Cận Đông Cổ Xưa, xách dép cho ai hoặc cởi dép cho ai là công việc của một nô lệ.[4] Một cách nào đó Gioan Tẩy Giả tự ví mình không đáng làm “tôi tớ” của “Đấng đến sau”. Điều này cho thấy phần nào sự cao trọng của Đức Giê-su, Thiên Chúa làm người, so với người dọn đường, Gioan.

3.     “dìm với nước” và “dìm trong Thánh Thần”: Từ các câu 2 đến 4 Mác-cô giới thiệu cho các độc giả về Gioan và sứ vụ cũng như tầm ảnh hưởng của ông. Ông được nói đến trong sách ngôn sứ Isaiah. Đó không hẳn là lời ngôn sứ Isaiah nhưng là gom góp từ Sách Xuất Hành (23,20), Sách ngôn sứ Malakhi (3,1) và Sách ngôn sứ Isaiah (40,3). Ông rao giảng phép dìm của lòng hoán cải để được ơn tha thứ. Ông ăn mặc như ngôn sứ Isaiah. Ông làm phép rửa trong hoang địa. Câu 7 và câu 8, Mác-cô giới thiệu lời rao giảng của Gioan. Lời rao giảng của Gioan được cấu trúc theo kiểu so sánh hai hình ảnh song song nhưng khác biệt nhau trong vị thế và phép rửa. Gioan « có Đấng quyền thế hơn tôi đến sau tôi, tôi không xứng đáng cúi xuống để mở quai dép cho Người ». Lời giới thiệu này không nhằm tôn vinh sự khiêm tốn của Gioan cho bằng bộc lộ vị trí thật của Gioan cũng như địa vị thật của Đức Giê-su. Gioan, tuy được dân chúng sùng bái và ùn ùn kéo đến để chịu phép dìm bởi tay ông, ông cũng biết rằng mình chỉ là sứ giả. Ông ý thức rõ vai trò và vị thế của mình. Việc của ông là làm cho mọi người nhận ra Đức Giê-su. Hình ảnh Gioan đối lại với “Đấng quyền thế hơn”. Phép dìm bằng nước của ông đối lại với phép dìm trong Thánh Thần. Ông là trung gian để dẫn đến một Đấng khác; phép rửa của ông cũng để dẫn đến một phép rửa khác. Nước sông Gio-đan đối lại với Thánh Thần. Việc ban Thánh Thần diễn tả một cách ẩn dụ như là một phép rửa biểu hiện hành vi cứu độ mang tính cánh chung của Chúa được hứa trước qua các ngôn sứ. Isaiah nói đến việc « Thánh Thần sẽ được tuôn đổ trên chúng ta và hoang mạc sẽ trở nên màu mở » (Is 32,15). Chúa nói rằng : «Ta sẽ đặt Thần Khí của ta trong các ngươi và các ngươi sẽ sống » (Ed 37,14). Phép dìm bằng nước của Gioan vừa là dấu chỉ của lòng sám hối, thể hiện bằng việc dân chúng xưng thú tội lỗi. Phép rửa trong Thánh Thần của Đấng quyền thế hơn sẽ mang đến cho hối nhân được ơn tha thứ. Như đã nói trên. Thánh Thần sẽ đem đến cho người ta ơn tha thứ và một sự biến đổi hoàn toàn, một sức sống mới. Sức sống mới đó bao hàm cả việc chừa bỏ tội lỗi và sống cho Chúa và sống cho người khác. Chừa bỏ tội lỗi, và đền bù những thiệt hại do tội lỗi gây ra chỉ là một phần cơ bản. Phần chính yếu phải là « một quả tim mới và một thần khí mới » biến « quả tim bằng đá thành quả tim bằng thịt » (Ed 36,26-27). Tác động của phép rửa trong Thánh Thần hơn thế nữa còn bao hàm cả sức sống và sứ mạng của Chúa Ki-tô như chính Ngài thừa nhận: « Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu cho tôi để loan Tin Vui cho người nghèo. Ngài sai tôi công bố tự do cho người bị giam cầm, phục hồi ánh sáng cho người mù, trả tự do cho người bị áp bức » (Lc 4,18). Để chuẩn bị cho việc làm phép rửa trong Thánh Thần, chính Đức Giê-su sau khi chịu phép rửa và vừa lên khỏi nước thì Người thấy “trời mở ra và Thần Khí tựa như chim bồ câu ngự xuống trên Người » (Mc 1,10). Đấng là phép rửa trong Thánh Thần chắc chắn phải là Đấng đầy Thánh Thần.

4.     “từ Na-gia-rét của Ga-li-lê”: Mác-cô không có trình thuật về Giáng Sinh và thời thơ ấu của Đức Giê-su, nhưng ông cũng kịp giới thiệu quê hương của Đức Giê-su. Đó là Na-gia-rét, Ga-li-lê. Matthew và Luca, hai tác giả Tin Mừng Nhất Lãm duy nhất có trình thuật về Giáng Sinh và thời thơ ấu, đã có những trình thuật gắn liền Đức Giê-su với quê hương Na-gia-rét, Ga-li-lê. Na-gia-rét là địa danh được gắn liền với tên gọi Giê-su. Ngài được gọi là Giê-su Na-gia-rét, chứ không phải Giê-su Bê-lem (Mc 1,24; 10,47; Lc 4,34; Mt 26,71). Ngài được lớn lên ở Na-gia-rét (Lc 4,16), là một ngôn sứ xuất thân từ Na-gia-rét (Mt 21,11). Vì Matthew không có tường thuật về biến cố truyền Tin, nên chi tiết nhà Đức Maria ở Na-gia-rét không được nói đến trong Tin Mừng Matthew. Tuy vậy, Matthew cũng cho thấy Đức Giê-su có nguồn gốc từ Na-gia-rét. Theo Matthew, sau khi đưa Đức Giê-su trở về từ Ai-cập, Bố nuôi Giu-se đưa gia đình đến sống ở Na-gia-rét. Điều này là nhằm ứng nghiệm lời đã được nói qua các ngôn sứ rằng Người sẽ được gọi là Nazarene (Mt 2,23). Trong Tin Mừng thứ tư, ông Na-tha-na-el, người được Phi-líp-phê giới thiệu về Đức Giê-su đã nói rằng: “từ Na-gia-rét làm sao có cái gì hay” (Ga 1,46). Điều này cho thấy rằng đối với các học giả Do Thái thời bấy giờ Na-gia-rét là một vùng quê tầm thường và đáng quên lãng. Thế mà Đức Giê-su lại sinh sống ở đó 30 năm trước khi đi rao giảng. Đó là nơi Người học hỏi và “lớn lên, thêm khôn ngoan và được ơn nghĩa cùng Chúa và người ta” (Lc 2, 51-52). Đức Giê-su cũng dành cho quê hương của mình nhiều ưu ái khi Người trở về rao giảng cho họ, thế nhưng, dân làng Na-gia-rét không đón nhận Tin Mừng của Người (Mc 6,1-6; Mt 13,53-58; Lc 4,16-30). Thậm chí họ còn muốn xô Người từ trên đỉnh núi xuống nhằm loại trừ Người (Lc 4,30). Tuy vậy, Ga-li-lê là nơi Người thì hành sứ vụ rao giảng cũng như làm phép lạ và được nhiều người đón nhận cũng như tôn vinh (Lc 4,14-15).

5.     “Sông Gio-đan”: Sông Gio-đan là con sông nối liền từ miền Bắc qua Hồ Ga-li-lê rồi đến miền Nam di vào Biển Chết. Gioan chọn sông Gio-đan làm phép dìm có thể hiểu được vì ở đó có nhiều nước và không gian cho nhiều người. Tuy nhiên, sông Gio-đan cũng gợi nhớ đến biến cố lịch sử quan trọng của dân Ít-ra-el: Giô-suê đã thay Mô-sê dẫn dân băng qua sông Gio-đan để vào đất hứa. Sau này Đức Giê-su sẽ chịu phép rửa tại con sông này. Và tên gọi Giê-su cũng chính là Gio-suê trong tiếng Do thái. Nói khác đi, Đức Giê-su sẽ dẫn dân mới vượt qua sông Gio-đan để đi vào đất hứa mới. Hơn nữa, hình ảnh « trong hoang mạc » cũng gợi nhớ đến biến cố xuất hành, biến cố mà Chúa đã đồng hành với dân Người, dẫn dắt, chỉ dạy, ban Lề Luật cho họ. «Hoang mạc » diễn tả niềm hy vọng cánh chung của một mẫu thức xuất hành được tìm thấy trong sách Hô-sê (2,14; 12,9) và đặc biệt trong sách ngôn sứ Isaiah (40,3-4 ; 41,18-19 ; 43,19-20 ; 48,20-21 ; 51,9-11).[5]

6.     “Khi vừa lên khỏi nước”: Đây là khoảnh khắc rất quan trọng ngay sau khi Đức Giê-su được dìm trong sông Gio-đan. Trạng từ “εὐθὺς” (ngay lập tức, vừa mới) là một trạng từ đặc trưng của Mác-cô. Mác-cô sử dụng trạng từ này đến 47 lần, một con số áp đảo so với tất cả các tác giả Tin Mừng còn lại (Lc: 1 lần; Ga: 3 lần, Mt: 5 lần). Trạng từ này mang lại sự sinh động cho câu chuyện và để lại cho người đọc ấn tượng về tốc độ nhanh chóng của một loạt sự kiện mang đậm nét ý định của Thiên Chúa.[6] Trạng từ, này trong bối cảnh này, nhấn mạnh mối tương quan giữa thị kiến trong 1,10-11 với sự kiện phép rửa trong 1,9. Nó diễn tả sự liên tục giữa sứ vụ của Đức Giê-su và sứ vụ của Gioan. Nói cách khác, hành động dìm Đức Giê-su, hoàn tất sứ vụ chuẩn bị của Gioan bằng cách cung cấp bối cảnh cho thị kiến tách rời Đức Giê-su như là “Đấng Cao Trọng Hơn”.[7] Hành động “Người đi lên” vừa song song và đối lại với hành động “đi xuống của Thánh Thần”. Đấng đi lên và Đấng đi xuống tạo ra sự găp gỡ và mạc khải thần linh. Hình ảnh “người đi ra khỏi nước” sông Gio-đan còn có ý nghĩa biểu tượng như là một sự vượt qua và đi vào đất hứa. Danh hiệu Giê-su đồng nghĩa với tên gọi “Giô-suê” (Thiên Chúa cứu), người đã thay thế Mô-sê dẫn dân Ít-ra-en vượt qua sông Gio-đan và đi vào đất hứa Canaan. Dân chúng đến với ông Gioan để xin ông làm Phép Rửa của lòng hoán cải để được ơn tha thứ. Đức Giê-su sẽ ban ơn tha thứ, dẫn dân Người thoát khỏi án phạt của tội lỗi là sự chết, tiến vào quê trời vĩnh cửu. “Sự đi lên khỏi nước” của Đức Giê-su cũng chứng tỏ rằng phép dìm của Gioan đã hoàn tất, chứ không phải là một phương tiện để Thánh Thần đi xuống với Đức Giê-su và tiếng nói từ trời. Phép dìm của Gioan cũng là biểu tượng cho cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giê-su (Mc 10,38-39; Lc 12,50). Cuộc vượt qua của Người là cuộc vượt qua sự đau khổ và sự chết chứ không đơn giản là lên khỏi dòng nước sông Gio-đan.

7.     “Người thấy trời mở ra”. Động từ “σχίζω” được chia ở thì tiếp diễn và thể bị động. Tiếp diễn vì nó diễn tả một hành động đang tiếp diễn, và bị động là vì trời không tự mình mở ra được nếu không có tác nhân là chính Chúa. Động từ “σχίζω” có nghĩa là phân ra, xé ra, chi ra làm hai. Danh từ “οὐρανός” (trời, thiên đàng, ngược lại với đất) được dùng ở số nhiều “τοὺς οὐρανοὺς” (các tầng trời). Người Do Thái hiểu trời bao gồm nhiều tầng khác nhau. Trời là nơi Đức Giê-su thường hướng về mỗi khi Người cầu nguyện. Người hướng về trời khi tạ ơn và bẻ bánh cho đám đông ăn (Mc 6,41); Người hướng về trời thở dài trước khi nói: “Ephphatha” trong phép lạ chữa lành người câm (Mc 7,34); Người hướng về trời thở dài não nề khi những người Pha-ri-sêu yêu cầu một dấu lạ từ trời (Mc 8,11). Trời là nơi chốn của các thiên thần (Mc 12,25; 13,32; Lc 22,43). Trời cũng là nơi mà Con Người sẽ đến từ đó trong ngày cánh chung (Mc 14,62). Trời cũng là nơi Đức Giê-su sẽ trở về sau khi Phục Sinh (Mc 16,19; Lc 24,51; Cv 1,2). Matthew còn cho độc giả biết nhiều hơn về trời nữa. Đó là nơi mà Chúa Cha chúng ta ngự: “Lạy Cha của chúng con ở trên trời” (Mt 6,9). Vương quốc mà Đức Giê-su rao giảng là “sắp đến” được gọi là “vương quốc Thiên Đàng” (hay là Nước Trời). Theo thánh Luca, Chúa ngự trên “cõi trời cao thẳm” (Lc 2,14). Thánh Gioan, tác giả Tin Mừng thứ tư cho biết rằng “Con Người đến từ trời” (Ga 3,13; 6,38.42). Gioan cũng đề cập đến Đức Giê-su là “bánh từ trời” (Ga 6,51.58). Hình ảnh “trời mở ra và các thiên thần của Thiên Chúa lên và xuống trên Con Người” cũng được Đức Giê-su nói cùng Na-tha-na-el một cách long trọng (Ga 1,51). Như thế, trời rõ ràng là nơi ở của Thiên Chúa và thế giới thần linh (các thiên sứ). Hình ảnh trời mở ra là một chấn động cho những người hiện diện cũng như toàn bộ độc giả. Một sự giao tiếp nhân loại-thần linh mới bắt đầu (Ed 1,1; Ga 1,51).[8] Trời sẽ giao tiếp với đất và Chúa chính là Đấng đã chủ động và khởi sự cuộc giao tiếp này và Đức Giê-su chính là Đấng trung gian trong cuộc đối thoại này. Hình ảnh “trời xé ra” cũng phản ảnh nhắc nhớ mẫu thức cánh chung trong sách ngôn sứ Isaiah: “Ngài sẽ xé toang các tầng trời và ngự xuống” (Is 64,1) và cũng là hình ảnh báo trước của bức màn đền thờ vào lúc Đức Giê-su chết (Mc 15,38), như trong 1,9-11, cũng diễn tả Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, danh hiệu được viên sĩ quan tuyên xưng một cách long trọng trong Mc 15,39.

8.     “Thánh Thần đi xuống trên Người”: danh xưng “τὸ πνεῦμα” rất là khó dịch trong tiếng việt. Danh từ “πνεῦμα” có nghĩa là “tinh thần”, “linh hồn”, “gió”, “hơi”, “khí”. Danh từ này được dùng như một danh xưng có mạo từ xác định phía trước để chỉ một ngôi vị cụ thể (τὸ πνεῦμα). Bản Anh Ngữ là “The Spirit” (ESV, RSV), Ý Ngữ là “lo Spirito” (CEI), Pháp Ngữ là “l’Esprit” (TOB). Bản Việt Ngữ, “Thánh Thần” (CGKPV) có lẽ do ảnh hưởng của Mt 3,11 và Lc 3,16, nơi mà cụm từ “πνεύματι ἁγίῳ” (tinh thần thánh, Thần Khí thánh, Holy Spirit) được sử dụng thay vì “τὸ πνεῦμα”. Cả hai cách dùng đều được hiểu như là Ngôi Ba Thiên Chúa. Hình ảnh “Thánh Thần đi xuống” là hành động thứ hai trong thị kiến mang tính khai mạc của Đức Giê-su. “Trời được mở ra” và cho phép Thánh Thần đi xuống. A.Y. Collins – H.W. Attridge liệt kê nhiều cách hiểu của hình ảnh “Thánh Thần của Chúa” xuống trên một phàm nhân trong Thánh Kinh Cựu Ước. Nó có thể ban cho một người đàn ông một sức mạnh thể lý phi thường (Tl 14,6.19); nó cũng có thể gây ra sự xuất thần (Ds 11,25; 1 Sm 10,6.10); nó cũng có thể mang một con người cách lạ lùng từ nơi này đến nơi khác (1 V 18,12; 2 V 2,16; Ed 3,12. 14; 8,3; 11,1.24; 43,5); nó cũng có thể ban cho đặc sủng lãnh đạo (Tl 3,10; 1 Sm 16,13); Thánh Thần Chúa cũng liên kết với đặc sủng ngôn sứ (Mk 3,8; Nhm 9,30) và với những phẩm chất của một vị vua lý tưởng (Is 11,1-9). Tuy nhiên, Thánh Thần ngự trên Đức Giê-su rất có thể là Thánh Thần được nói đến trong Is 61,1-2. Đó là Thánh Thần ngự trên Người, để Đức Chúa “đã xức dầu tấn phong Người để rao giảng những tin vui cho người nghèo, chữa lành những người có cõi lòng tan vỡ, công bố ơn giải thoát cho những người bị giam cầm, phục hồi ánh sáng cho người mù”.[9] Chính Đức Giê-su đã xác nhận lời ngôn sứ này đã ứng nghiệm trên Người tại hội đường Na-gia-rét (Lc 4,18-20). Có một chi tiết đáng chú ý là giới từ được dùng đi kèm với động từ “đi xuống” là một giới từ diễn ta sự chuyển động “εἰς” (Matthew và Luca đều dùng giới từ epi, trên). Giới từ “εἰς” diễn tả sự đi vào bên trong, chứ không phải chỉ là “trên” như hầu hết các bản dịch Việt, Anh, Pháp (on, upon, sur). Bản dịch Ý ngữ “verso” (về phía) xem ra khá hơn nhưng vẫn là bên ngoài. Thánh Thần không những đi xuống và mà còn vào bên trong con người Đức Giê-su. Cách hiểu này phù hợp với bối cảnh của bản văn. Ngay sau khi Đức Giê-su chịu phép rửa, cũng chính Thánh Thần này đẩy Đức Giê-su vào hoang địa. Người ở đó 40 đêm ngày chịu Satan cám dỗ.

9.     “như chim bồ câu”: nhiều tác giả cho rằng hình ảnh biểu tượng của chim bồ câu thật mờ nhạt. Tuy vậy, cũng có nhiều tác giả đưa ra những ý nghĩa của biểu tượng “như chim bồ câu” này. Pesch chỉ ra rằng một con chim có thể là một biểu tượng phù hợp cho Thánh Thần vì nó có thể bay băng qua cản trở giữa trời và đất, nhưng điều này không giải thích được vì sao mà chim bồ câu chứ không phải chim khác. Davies – Allison liệt kê 16 khả năng khác nhau, trong đó khả năng có tính thuyết phục nhất là giả thuyết rằng bồ câu gợi nhớ đến hình ảnh trong sách Sáng Thế 2,1, nơi mà Thánh Thần bay là là trên mặt nước như con chim.[10] Qua đó, diễn tả một cuộc tạo dựng mới.[11] Thuyết này cũng không thể giải thích được tại sao lại là chim bồ câu mà không phải là chim nào khác. Các rabbi Do Thái thường xuyên đề cập đến chim bồ câu như là biểu tượng của cộng đoàn Israel và sự liên kết này có thể có trong suy nghĩ của Mác-cô. Vào khoảnh khắc của sự rửa tội của Người, Đức Giê-su là một người Ít-ra-el thật sự, trong Người việc tuyển chọn của Thiên Chúa được tập trung. Việc ngự xuống của Thánh Thần “như chim bồ câu” cho thấy rằng Người là đại diện suy nhất của It-ra-el mới được tạo dựng qua Thánh Thần.[12]

10.  “Tiếng đến từ trời”: Tiếp theo sau việc Thánh Thần “đi xuống vào bên trong” Đức Giê-su là “tiếng nói từ trời”. Đây rất có thể là giọng nói của Chúa Cha trong tương quan với Đức Giê-su là con. Và giọng nói này vừa khẳng định vừa giới thiệu về Người Con. J. Marcus cho rằng “tiếng từ trời” ở đây và Mc 9,7 tương tự với Bath Quol trong các tác phẩm của rabbi (Con gái của tiếng nói), một tiếng nói đến từ trời để diễn tả ý chí của Thiên Chúa và có thể trích dẫn Thánh Kinh hay công bố sự đánh giá tán thành về một người.[13]

11.  “Bạn là con yêu dấu của tôi”. Công bố này rất gần với trích dẫn của Thánh Vinh 2, câu 7 bản Bảy Mươi: “υἱός μου εἶ σύ ἐγὼ σήμερον γεγέννηκά σε (Con là con của ta, ngày hôm nay ta đã sinh ra con). Trong trích dẫn của thánh vịnh 2, không có tính từ “ ἀγαπητός” (người yêu dấu) và đoạn sau cũng hoàn toàn khác: “Ta hài lòng về con” khác với “ngày hôm nay cha đã sinh ra con”. Trong Cựu Ước, It-ra-el (Xh 4,22; 11,1), các thiên thần (St 6,2.4; J 1,6) hay là vua (2Sm 7,14; Tv 2,7) có thể được gọi là Con của Ya-vê. Cách dùng mang tính hoàng gia là cách dùng quan trọng nhất cho tác giả Mac-cô, đặc biệt cho đoạn văn này, nơi mà đoạn thánh vịnh hoàng gia được trích dẫn. Trong các Do Thái giáo hậu Thánh Kinh, những bản văn hoàng gia như thế thỉnh thoảng được diễn giải với tính cách messiah, trong Các Cuộn Biển Chết chẳng hạn. Bản văn Qumran 4Q246 có lẽ nói về Đấng Messiah như là Con Thiên Chúa.[14] Phẩm tính “Con yêu dấu” là một phẩm tính rất khó truy nguồn gốc, theo A.Y. Collins – H.W. Attridge. Tuy nhiên họ cũng đề nghị một khả năng là Mc 1,11 ám chỉ đến câu chuyện “gần như sát tế của Isaac”, ngụ ý rằng “sự xém chết” của Isaac là hình ảnh báo trước cho cái chết của Đức Giê-su. Và một cách giải thích khác khả thể hơn là sự diễn tả “Người Yêu Dấu” được gọi hứng bởi đoạn văn khác, đoạn văn được hiện thực hóa hay hoàn tất trong phát biểu của “tiếng từ trời” trong Is 42,1. Phần thứ nhất của câu này là: “này tôi tớ của ta, người mà ta chứng thực, người ta tuyển chọn, trong người ấy ta vui lòng”. Tác giả của Tin Mừng Mac-cô và Tin Mừng Matthew có thể đã biết bản văn Is 42,1, trong đó từ “yêu dấu” được dùng.[15] Trong ngữ cảnh này “con” không phải là danh hiệu mang tính Messiah nhưng được hiểu theo nghĩa cao nhất. Nó biểu thị mối tương quan duy nhất mà Đức Giê-su duy trì với Chúa Cha. Đức Giê-su là Con duy nhất của Thiên Chúa. Mệnh đề thứ nhất của lời tuyên bố (với động từ ở thì thì hiện tại) diễn tả một mối tương quan thiết yếu và vĩnh cửu. Mệnh đề thứ hai (với động từ ở thì Aorist) ngụ ý một chọn lựa quá khứ cho sự biểu hiện một chức năng đặc biệt trong lịch sử.[16]

12.  “với bạn, tôi rất hài lòng”: Điều gì nơi Đức Giê-su làm cho Chúa Cha hài lòng nhất? trong khoảnh khắc Đức Giê-su vừa bước lên khỏi nước, với sự hiện diện long trọng của Thánh Thần, trong bầu khí uy nghi. Đức Giê-su được tuyên bố là “Con yêu dấu” và được Chúa Cha khen là “ta hài lòng về con”. Đó là khoảnh khắc Đức Giê-su hòa vào dòng người tội lỗi để làm phép rửa. Phép Rửa ấy một mặt cho thấy sự vâng phục cho đến chết, vì phép rửa ấy là tiên trưng cho phép rửa sau cùng là chính cuộc thương khó và sự chết. Mặt khác, phép rửa ấy cũng cho thấy mầu nhiệm tự hạ của Người Con. Người đã nên giống con người mọi sự ngoại trừ tội lỗi. Người không ngần ngại đứng chung, làm chung phép rửa, chung dòng nước với nhân loại tội lỗi để kéo họ ra khỏi bùn nhơ tội lỗi. Nhờ đó mà công trình cứu rỗi được hoàn tất. Tiếp theo sau Phép Rửa này là sự thử thách trong hoang địa. Đó cũng là hình ảnh báo trước cho sự thử thách trong cuộc thương khó.[17]


Một vài ý nghĩa thần học:

1.     Đức Giê-su là đấng cao trọng hơn Gioan gấp bội. Chính Gioan đã thừa nhận điều này. Đức Giê-su cao trọng đến nỗi Gioan, dù được xem như là cao trọng nhất trong số những người được sinh ra trên trần gain này, vẫn không xứng đáng cúi xuống cởi dây giầy cho Người. Tuyên bố này của Gioan vừa cho thấy sự khiêm hạ của “người dọn đường” vừa cho thấy sự cao cả, đáng yêu của Đức Giê-su khi Người khiêm hạ đến xin Gioan làm Phép Rửa tịa sông Gio-đan

2.     Đức Giê-su đến từ Na-gia-rét, Ga-li-lê. Chi tiết này cho thấy rằng Đức Giê-su là Thiên Chúa làm Người. Người có một quê hương nhân loại ở miền Bắc Ít-ra-el. Người đã sống và lớn lên ở đây trong dòng lịch sử nhân loại. Nguồn gốc này cũng cho thấy thân phận, địa vị xã hội, tôn giáo không đáng kể của Người, đến nỗi Na-tha-na-el phải khinh chê: “ở Na-gia-rét thì có cai gì hay”. Nhưng đó là quê hương Đức Giê-su đã gắn bó trong suốt cuộc đời làm người của mình. Ga-li-lê cũng là nơi mà Người trải qua hơn 90 % quãng đời rao giảng của mình.

3.     Địa điểm sông Gio-đan cũng nhắc nhớ đến biến cố dân Ít-ra-el vượt qua để tiến vào đất hứa Canaan. Giờ đây không phải là dân Ít-ra-en nhưng là dân Chúa, toàn thể nhân loại, cũng được Đức Giê-su dẫn qua sông Gio-đan. Điểm đến của họ không còn là đất hứa Canaan nhưng là Vương Quốc Nước Trời, là Nước Thiên Đàng. Nước sông Gio-đan sẽ giúp dân Chúa thực hiện hành vi sám hối, hoán cải, nhưng chính Đức Giê-su mới là người mang lại ơn tha thứ cho họ bằng chính cái chết của mình.

4.     Đức Giê-su được dìm trong nước sông Gio-đan chính là hình ảnh tiên trưng cho việc người sẽ dìm vào cuộc thương khó và sự chết, trước khi phục sinh khải hoàn. “Thầy còn một phép rửa nữa phải chịu, và thầy những khắc khoải biết nao cho đến khi phép rửa ấy hoàn tất” (Lc 12,50). Phép rửa này cũng cho thấy sự vâng phục của Đức Giê-su khi Người đón nhận thánh ý của Chúa Cha, sẵn sàng khởi đầu sứ vụ cứu độ bằng cách hòa mình vào dòng người tội lỗi. Nó cũng bộc lộ tình yêu vô bờ bến của Đức Giê-su đối với nhân loại tội lỗi, chết chóc, đang cần được Người tha thứ, cứu với. Phép Rửa này sẽ được tiếp nối với việc Người chịu đựng và chiến thắng tất cả những cơn cám dỗ của phận người. Với sự chiến thắng lẫy lừng ấy, Người tiếp tục dấn thân đồng hành với tất cả những tội nhân, từ Matthew, Gia-kêu, những người thu thuế, đến những cô gái điếm, rồi người phụ nữ ngoại tình…những con chiên lạc nhà Ít-ra-el, những người con hoang đàng. Người như một người đã được tiêm vác-cin phòng bệnh tội lỗi, đến với người tội lỗi để chữa lành những cõi lòng tan nát và đưa họ trở về với Thiên Chúa. Phép dìm tại sông Gio-đan chỉ là khởi đầu cho sứ vụ Người đến và đồng hành với Người tội lỗi.

5.     Sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa trong khoảnh khắc Đức Giê-su khai mạc sứ vụ công khai. Thánh Thần đi xuống vào bên trong Đức Giê-su; tiếng từ trời gọi Đức Giê-su là “Con yêu dấu”. Tất cả để nói lên sự hiệp nhất, đồng hành của một Thiên Chúa Duy Nhất nhưng có ba Ngôi Vị trong công trình cứu độ nhân loại. Trong quá trình thi hành sứ vụ Đức Giê-su luôn dành thời gian thưa chuyện với Chúa Cha mỗi lúc đêm về hay sáng sớm tinh sương (Mc 1,35; Mt 14,23). Những hoạt động thường ngày của Người cũng đều được Thần Khí thúc đẩy (Mt 4,1; 12,18.28; Mc 1,10.12).

6.     Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Thần tính, căn tính và ngôi vị của Đức Giê-su được bộc lộ ngay giây phút Người bước lên khỏi nước. Thông điệp: Đức Giê-su là Con Thiên Chúa đã được mạc khải ngay câu đầu tiên của Tin Mừng Mac-cô; “Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1). Rồi, nó cũng được Gioan loan báo úp mở về một “Đấng đến sau” nhưng “mạnh thế hơn” ông. Tuy nhiên, lời giới thiệu của “tiếng từ trời” là lời giới thiệu chính thức và long trọng nhất. thần tính sẽ được lặp lại một lần nữa trong cuộc Biến Hình, nơi mà Đức Giê-su đàm đạo với Mô-sê và Ê-li-a về cuộc thương khó của Người (Mc 9,6). Và rồi, cuối cùng nó cũng được một đại đội trưởng Rô-ma, một người ngoại nhận ra và tuyên xưng, khi Đức Giê-su chết trên thập giá (Mc 15,19). Phẩm tính của Đức Giê-su cũng được công bố trong “tiếng từ trời”. Người là “Con yêu dấu” và Chúa Cha “rất hài lòng về” Người. Chúa cha hài lòng về Đức Giê-su trong bối cảnh Đức Giê-su vừa chịu phép rửa có thể có hai lý do. Thứ nhất, Đức Giê-su thể hiện sự vâng lời, và yêu mến Chúa Cha, khi chấp nhận làm người sống như một con người ngoại trừ tội lỗi. Thứ hai, Đức Giê-su yêu nhân loại đến nỗi chấp nhận hạ mình chịu phép rửa của Gioan, một phép rửa chỉ dành cho những tội nhân. Người chấp nhận hòa mình, đứng chung với những người tội lỗi vì lòng thương xót. Người sẽ bước đi hành trình cứu độ nhân loại trong tư cách là Con yêu dấu của Thiên Chúa, đồng hành, chịu đau khổ, và chịu chết để cứu họ án phạt của tội lỗi là sự chết.

Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] Nhiều tác giả tìm cách nhận dạng căn tính “Đấng vĩ đại hơn” mà Gioan có trong đầu. R.A. Guelich đã liệt kê ít nhất 5 khả năng: (1) Thiên Chúa; (2) Đấng Messiah; (3) Con Người; (4) Vị ngôn sứ thời cánh chung; (5) Một biểu tượng vô danh thời cánh chung [R.A. Guelich, Mark 1-8:26 (WBC 34A; Dallas 2002) 22].

[2] J. Marcus, Mark 1-8. A New Translation with Introduction and Commentary (AYBC; New Haven – London 2008) 157.

[3] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark. A Commentary on the Gospel of Mark (Hermeneia; Minneapolis 2007) 146.

[4] C.E.B Granfield, The Gospel According to Saint Mark (CGTC; Cambridge 1959) 48.

[5] R.A. Guelich, Mark 1-8:26 (WBC 34A; Dallas 2002) 18.

[6] J. Marcus, Mark 1-8. A New Translation with Introduction and Commentary, 159.

[7] R.A. Guelich, Mark 1-8:26, 31.

[8] J.R. Donahue – D.J. Harrington, The Gospel of Mark (SP 2; Collegeville 2005) 65.

[9] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark, 149.

[10] J. Marcus, Mark 1-8, 160.

[11]W.L. Lane, The Gospel of Mark (NICNT; Grand Rapids 1974) 56

[12] W.L. Lane, The Gospel of Mark, 57.

[13] Ibid.

[14] J. Marcus, Mark 1-8, 162.

[15] A.Y. Collins – H.W. Attridge, Mark, 150.

[16] W.L. Lane, The Gospel of Mark, 58.

[17] Xem Joseph Phạm Duy Thạch, “Điều Gì Nơi Đức Giê-su Làm Cho Chúa Cha Hài Lòng?” (http://josephpham-horizon.blogspot.com/2014/01/ieu-gi-noi-chua-gie-su-lam-cho-chua-cha.html  )

Friday, 1 January 2021

"NGÔI LỜI HẰNG Ở VỚI THIÊN CHÚA"

 Chú giải Tin Mừng Chúa Nhật CN II GS (Ga 1,1-18)

Hy Lạp

Việt

Ἐν ἀρχῇ ἦν ὁ λόγος, καὶ ὁ λόγος ἦν πρὸς τὸν θεόν, καὶ θεὸς ἦν ὁ λόγος.

 2  οὗτος ἦν ἐν ἀρχῇ πρὸς τὸν θεόν.

 3  πάντα δι᾽ αὐτοῦ ἐγένετο, καὶ χωρὶς αὐτοῦ ἐγένετο οὐδὲ ἕν. ὃ γέγονεν

 4  ἐν αὐτῷ ζωὴ ἦν, καὶ ἡ ζωὴ ἦν τὸ φῶς τῶν ἀνθρώπων·

 5  καὶ τὸ φῶς ἐν τῇ σκοτίᾳ φαίνει, καὶ ἡ σκοτία αὐτὸ οὐ κατέλαβεν.

 6  Ἐγένετο ἄνθρωπος, ἀπεσταλμένος παρὰ θεοῦ, ὄνομα αὐτῷ Ἰωάννης·

 7  οὗτος ἦλθεν εἰς μαρτυρίαν ἵνα μαρτυρήσῃ περὶ τοῦ φωτός, ἵνα πάντες πιστεύσωσιν δι᾽ αὐτοῦ.

 8  οὐκ ἦν ἐκεῖνος τὸ φῶς, ἀλλ᾽ ἵνα μαρτυρήσῃ περὶ τοῦ φωτός.

 9  Ἦν τὸ φῶς τὸ ἀληθινόν, ὃ φωτίζει πάντα ἄνθρωπον, ἐρχόμενον εἰς τὸν κόσμον.

 10  ἐν τῷ κόσμῳ ἦν, καὶ ὁ κόσμος δι᾽ αὐτοῦ ἐγένετο, καὶ ὁ κόσμος αὐτὸν οὐκ ἔγνω.

 11  εἰς τὰ ἴδια ἦλθεν, καὶ οἱ ἴδιοι αὐτὸν οὐ παρέλαβον.

 12  ὅσοι δὲ ἔλαβον αὐτόν, ἔδωκεν αὐτοῖς ἐξουσίαν τέκνα θεοῦ γενέσθαι, τοῖς πιστεύουσιν εἰς τὸ ὄνομα αὐτοῦ,

 13  οἳ οὐκ ἐξ αἱμάτων οὐδὲ ἐκ θελήματος σαρκὸς οὐδὲ ἐκ θελήματος ἀνδρὸς ἀλλ᾽ ἐκ θεοῦ ἐγεννήθησαν.

 14  Καὶ ὁ λόγος σὰρξ ἐγένετο καὶ ἐσκήνωσεν ἐν ἡμῖν, καὶ ἐθεασάμεθα τὴν δόξαν αὐτοῦ, δόξαν ὡς μονογενοῦς παρὰ πατρός, πλήρης χάριτος καὶ ἀληθείας.

 15  Ἰωάννης μαρτυρεῖ περὶ αὐτοῦ καὶ κέκραγεν λέγων· οὗτος ἦν ὃν εἶπον· ὁ ὀπίσω μου ἐρχόμενος ἔμπροσθέν μου γέγονεν, ὅτι πρῶτός μου ἦν.

 16  ὅτι ἐκ τοῦ πληρώματος αὐτοῦ ἡμεῖς πάντες ἐλάβομεν καὶ χάριν ἀντὶ χάριτος·

 17  ὅτι ὁ νόμος διὰ Μωϋσέως ἐδόθη, ἡ χάρις καὶ ἡ ἀλήθεια διὰ Ἰησοῦ Χριστοῦ ἐγένετο.

 18  Θεὸν οὐδεὶς ἑώρακεν πώποτε· μονογενὴς θεὸς ὁ ὢν εἰς τὸν κόλπον τοῦ πατρὸς ἐκεῖνος ἐξηγήσατο.

 (Jn. 1:1-18 BGT)

1 vào lúc khởi đầu, đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời hằng ở với[1] Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa

2 Người ở với Thiên Chúa ngay từ lúc khởi đầu

3 tất cả nhờ Người mà tồn tại và không có Người không một điều gì tồn tại, cái mà được mang vào hiện hữu.

4 trong Người là sự sống và sự sống là ánh sáng của con người

5 ánh sáng chiếu soi vào trong bóng tối, nhưng bóng tối không vượt được ánh sáng

6 một người xuất hiện, người được Chúa sai đến, tên anh ta là Gioan

7 anh này đến vì lời chứng để anh làm chứng về ánh sáng để mà tất cả tin nhờ anh ta

8 anh ta không phải là ánh sáng, nhưng là để làm chứng về ánh sáng

9 Người là ánh sáng thật, ánh sáng chiếu soi tất cả mọi người, ánh sáng đi vào thế giới

10 Người ở trong thế giới, và thế giới nhờ Người mà tồn tại, nhưng thế giới không nhận biết Người.

11 Người đã đến nhà của chính mình nhưng người nhà lại không tiếp đón.

12 nhưng bất cứ ai đón nhận Người, Người sẽ ban cho họ quyền trở thành con Thiên Chúa, cho những kẻ tin vào danh của Người.

13 họ không phải từ máu huyết, cũng không phải do ý muốn của người đàn ông nhưng từ Thiên Chúa họ đã được sinh ra.

14 Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cắm lều giữa chúng ta, chúng ta đã được thấy vinh quang của Người, vinh quang như là chỉ là từ cha, đầy tràn ân sủng và sự thật.

15 Gioan làm chứng về Người và kêu lớn tiếng nói rằng: “đây là Đấng tọi đã nói, đấng đến sau tôi nhưng tồn tại trướ tôi, vì Người có trước tôi

16 từ sự sung mãn của Người, chúng ta đã nhận tất cả, ân sủng thay vì ân sủng.

17 Lề Luật được ban qua ông Mô-sê, ân sủng và sự thật xuất hiện bởi Chúa Giê-su Ki-tô

18 Thiên Chúa không ai thấy bao giờ Con Một Chúa, Đấng hằng ở nơi cung lòng của Cha, Đấng ấy đã làm cho chúng ta biết.

 


Bối cảnh bản văn: Ga 1,1-18 là phần đầu tiên được xem như là Lời Tựa của Tin Mừng thứ tư. Đây là kiểu soạn thảo Tin Mừng mà chỉ có Gioan mới có. Nếu như Mác-cô bắt đầu Tin Mừng của mình với lời giới thiệu ngắn gọn xúc tích: “Tin Mừng Đức Giê-su, Ki-tô, Con Thiên Chúa, thì Gioan giới thiệu ngay vào nguồn gốc của chủ thể của Tin Mừng: Từ khởi đầu đã có Ngôi Lời. Rồi, cũng như Mác-cô, nhân vật Gioan Tẩy Giả không thể thiếu được. Tuy nhiên, trong Tin Mừng thứ tư, Gioan Tẩy Giả được giới thiệu là người làm chứng về ánh sáng và ông nhìn nhận mình không phải là Ê-li-a như Tin Mừng Nhất Lãm ám chỉ. Trong Lời Tựa này, độc giả có thể tìm thấy những chủ đề trọng yếu của Tin Mừng thứ tư. Đó là chủ đề Ngôi Lời là Thiên Chúa (Ga 1,1). Vào cuối Tin Mừng, sau Phục Sinh, thánh Tô-ma sẽ tuyên xưng Đức Giê-su là “Lạy Chúa của tôi, lạy Thiên Chúa của tôi” (Ga 20,28). Ngôi Lời thực sự là Thiên Chúa. Rồi, chủ đề về “tin” và “đón nhận” (Ga 1,12). “Con Người phải được giương cao, để ai tin có thể có sự sống nơi mình” (Ga 3,14-15); “ai tin nơi Người Con sẽ có sự sống đời đời, ai chối từ Người Con sẽ không thấy sự sống” (Ga 3,18). Đến cuối cùng mục đích của toàn bộ Tin Mừng là “anh em tin Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, để nhờ tin mà có sự sống trong danh của Người” (Ga 20,31). Một chủ đề khác là chủ đề “người nhà chẳng đón nhận Người” (Ga 1,11). Người Do Thái, các thượng tế và những người Pha-ri-sêu sẽ tìm cách loại bỏ Người bằng cách đóng đinh Người (Ga 7,19; 8,37.40; 11,50.53). Chủ đề về ánh sáng và bóng tối cũng là một chủ đề nổi bật không kém (Ga 1,4.5.7.8.9). Đức Giê-su khẳng định rằng “Tôi là ánh sáng thế gian” (9,5; 12,46). Câu chuyện “người mù từ thuở mới sinh” (Ga 9,1-51) chứng tỏ rằng Đức Ki-tô là ánh sáng và Người đã chiếu soi hoàn toàn bóng tôi nơi anh mù. Lời Tựa Tin Mừng thứ tư như là một phần giới thiệu những chủ đề chính yếu sẽ được khai triển trong phần nội dung của Tin Mừng.

Một số điểm chú giải:

1.     Lúc khởi đầu”: Cụm trạng từ chỉ thời gian này không khỏi gợi nhớ đến cụm trạng ngữ trong sách Sáng Thế.[2] Sách Sáng thế nói đến sự khởi đầu của công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa. Gioan nới đến sự khởi đầu của sự tồn tại của Ngôi Lời. Và nhờ Ngôi Lời này mà muôn vật (tất cả) được hiện hữu. Đây cũng là một cách nói khác của công trình tạo dựng. Công trình tạo dựng không chỉ là của Thiên Chúa nhưng còn nhờ vào Ngôi Lời. Chủ đề tạo dựng còn song song với sách Sáng Thế khi Lời tựa đề cập đến ánh sáng và bóng tối. Khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng, Thiên Chúa cũng phán: “hãy có ánh sáng”. Mác-cô cũng bắt đầu Tin Mừng bằng “sự khởi đầu” nhưng đây không phải là trạng ngữ chỉ thời gian mà là danh từ “sự khởi đầu”. “Sự khởi đầu” của Mác-cô là sự khởi đầu của Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô, chứ không phải một thời điểm. “lúc khởi đầu” của Tin Mừng thứ tư vừa giống, vừa khác, “lúc khởi đầu” của sách Sáng Thế. Có thể nói là “lúc khởi đầu của” Tin Mừng thứ tư được hiểu là trước “lúc khởi đầu” của sách Sáng Thế bởi vì đó là thời điểm mà Ngôi Lời hiện diện. Ngài vốn có trước mọi sự và vượt mọi thời gian.

2.     Ngôi Lời”: Trong tiếng Hy Lạp “λόγος” là “lời nói”, “thông điệp”. Danh từ này chính là nguồn gốc của động từ “lego” (nói). Tuy nhiên, ở đây tác giả Tin Mừng thứ tư nhân cách hóa bằng cách dùng mạo từ xác định đặt trước danh từ này (ὁ λόγος). Bản Việt Ngữ là “Ngôi Lời” (CGKPV), bản Anh Ngữ là “the Word” (ESV), Pháp Ngữ là “le Verb” (TOB), và Ý Ngữ là “il Verbo” (CEI). Tất cả đều được viết hoa để diễn tả một Ngôi Vị. Đó là Ngôi Hai. Lời đề cập đến năng lực sáng tạo của Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo (x. St 1,3tt; Tv 33,6) và mạc khải (Gr 1,4; Is 9,8; Ed 33,7; Am 3,1.8) và giải thoát (Tv 107,20; Is 55,1). Lời trong Cựu Ước là sự tự biểu lộ quyền năng của Thiên Chúa trong việc tạo dựng, mạc khải và cứu độ. Chính vì thế tác giả Gioan dùng nó như một danh hiệu áp dụng cho sự tỏ bày mức độ cao nhất của Thiên Chúa, Ngôi vị của chính Con của của Ngài.[3] Những ki-tô hữu thời tiền Gioan dùng cụm từ “Lời của Chúa” để truyền tải thông điệp cứu độ của Ki-tô giáo (X. Lc 8,11; Cv 13,15; 1Tx 2,13; 2 Tm 2,9). Khi Gioan dùng “Lời”, có lẽ ông cũng ngụ ý rằng đây là Đấng Trung Gian mà Thiên Chúa sẽ “nói” với nhân loại giống như cách là thư Híp-ri đã diễn tả: “Thuở xưa, vào nhiều lúc khác nhau, bằng nhiều cách thức, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào những ngày cuối cùng này, Ngài nói cới chúng ta qua Người Con, người là Ngài đã chỉ định làm người thừa kế mọi sự, và người mà nhờ đó thế giới được tạo thành” (Hr 1,1-2). Thư Híp-ri cũng đền cập đến công trình tạo dựng nhờ Đấng Trung Gian mạc khải này. Christos Karakolis tin rằng độc giả của Tin Mừng Gioan biết rằng bất cứ khi nào Đức Giê-su, Lời Nhập thể nói, những lời của Người có thẩm quyền và chân thật như là lời của chính Chúa. Ngôi Lời của Chúa nói những lời của Chúa (The Word of God speaks the words of God).[4]

3.     Ngôi Lời là Thiên Chúa”: Ngôi Lời không những là năng lực tạo dựng của Thiên Chúa, nhưng Người cũng là Thiên Chúa. Tác giả Gioan là tác giả Tin Mừng duy nhất, ngay từ đầu đã nói rõ rằng: Đức Giê-su là Thiên Chúa. Khẳng định này sẽ được thánh Tô-ma tuyên xưng trong đoạn cuối của Tin Mừng thứ tư, sau khi Đức Giê-su Phục Sinh (Ga 20,28).[5] Người không những “ở, tồn tại với Thiên Chúa” (Ga 1,1b), nhưng chính Người cũng là Thiên Chúa (Ga 1,1c). Chỉ trong vòng hai câu đầu Gioan đã cố gắng diễn tả căn tính và thần tính của Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể, bằng nhiều cụm từ lặp lại. Cụm trạng ngữ chỉ thời gian (lúc khởi đầu) được lặp lại hai lần như một nhấn mạnh về thời gian. Danh xưng “Ngôi Lời” được lặp lại 3 lần như nhấn mạnh chủ thể của Lời Ngỏ cũng như của toàn Tin Mừng. Song song với “Ngôi Lời”, danh xưng “Thiên Chúa” cũng được lặp lại cũng 3 lần để khẳng định tương quan thần tính giữa Đức Giê-su và Thiên Chúa. Kiểu cấu trúc inclusio (A-B-A’) cũng được sử dụng nhằm giúp sự khẳng định thêm chắc nịch: từ khởi đầu… đã hiện hữu…và ở với Thiên Chúa… là Thiên Chúa… từ khởi đầu với Thiên Chúa. Gioan cũng sử dụng rất nhiều động từ “eimi”, ở thì vị hoàn (ἦν), diễn tả kéo dài của hành động. Động từ này cũng có nhiều tầng ý nghĩa phong phú khác nhau: tồn tại, hiện hữu, có, ở, là, thì, xảy ra. Từ điện Friberg, Analytical Greek Lexicon liệt kê ít nhất 10 nghĩa khác nhau của động từ này. Có thể nói đây là động từ lý tưởng nhất để diễn tả Ngôi Lời. Tuy vậy, cũng phải thừa nhận rằng nó cũng không thể diễn tả một cách hoàn toàn về Ngôi Lời, vì ngôn ngữ nhân loại vốn hạn chế.

4.     Tất cả nhờ Người mà tồn tại”. Động từ “ginomai” (ἐγένετο) trong tiếng Hy Lạp cũng mang rất nhiều nghĩa. Trong bối cảnh này có thể hiểu là “đi vào hiện hữu” hoặc là “được tạo thành” (được làm nên). J. Moloney hiểu đại từ “tất cả” như là “mọi loài thụ tạo” và “ginomai” là hành động tạo dựng.[6] R. Brown dịch là “tất cả mọi vật đã đi vào hiện hữu”[7], cũng có nghĩa tương đương. Trong câu 3 này, động từ “ginomai” được lặp lại đến 3 lần: “tất cả, nhờ Người, được tạo thành; không có Người không có bất cứ thứ gì, thứ mà được tạo thành, được tạo thành”. Sự đối nghịch giữa hai cặp từ “tất cả” và “không có bất cứ thứ gì” cho thấy mức độ ảnh hưởng một cách tuyệt đối của Ngôi Lời trong sự hiện diện của muôn vật trên thế gian này. Trong tường thuật về tạo dựng (St 1,1-2,3b), Thiên Chúa không tạo ra thứ gì mà không dùng lời của mình. Đó có thể là hình ảnh của Ngôi Lời trong cộng cuộc tạo dựng mà Gioan muốn nói đến.

5.     Trong Người là sự sống”: Sự ngắt câu giữa câu 3 và câu 4 là một vấn đề tranh cãi giữa các học giả qua nhiều thế hệ. Bản Thánh Kinh Tân Ước cổ được chép tay, bằng chữ in hoa và không có khoảng trắng giữa các từ. Có thể vì ngày xưa giấy rất hiếm và người ta muốn tiết kiệm hết sức có thể. Câu 4 khởi đầu bằng trạng ngữ chỉ nơi chốn “trong người đã là sự sống” xem ra không suôn sẻ. Trong khi đó phần kết thúc của câu 3 có vẻ dư thừa: “tất cả, nhờ Người, được tạo thành, và không có Người không có gì được tạo thành, điều mà được tạo thành”. Chính vì thế nhiều tác giả đề xuất cách ngắt câu tốt hơn bằng cách đưa phần dư thừa của câu 3 ghép vô phần đầu của câu 4. Câu 4 mới sẽ là: “điều đã được tạo thành nơi Người là sự sống”. Cách ngắt câu này được sự đồng thuận của nhiều học giả.[8] Và theo cách cách ngắt câu này, sự sống lại được nhấn mạnh trong công trình tạo dựng này. Điều này xem ra cũng rất phù hợp với nội dung triển khai của Tin Mừng thứ tư. Đức Giê-su nhiều lần nói về sự sống trong Tin Mừng này. Danh từ “sự sống” được dùng một cách trội vượt trong Tin Mừng thứ tư (41 lần) so với các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm (Mt: 18; Mc: 8 và Lc: 19). Rất nhiều kiểu diễn tả sự sống liên quan trực tiếp đến Đấng ban sự sống. Việc sống hay chết gắn liền với đức tin vào Đức Giê-su (Ga 3,15.36; 6,47); “Ai uống nước Đức Giê-su cho sẽ có trong người ấy một dòng suốt vọt lên sự sống dồi dào” (Ga 4,14); “Người Con trao ban sự sống cho ai mà Người hài lòng” (Ga 5,21); Đức Giê-su chính là bánh của sự sống (Ga 6,35.48) … Đức Giê-su đã phục hồi sự sống cho La-da-rô, người đã được chôn 4 ngày (Ga 11,25; 43-44). Tuy thế, cách ngắt câu này cũng tồn tại ít nhất 5 vấn đề như R. Brown đề trưng ra.[9] Đâu là ý nghĩa của sự sống trong ngữ cảnh này? Sự sống tự nhiên hay là sự sống vĩnh cửu?  Vì “sự sống” là một trong những chủ đề trọng yếu của Tin Mừng Gioan, nên rất có thể “sự sống” này là vĩnh cửu. Đối với Gioan “sự sống” diễn tả một phẩm chất của sự hiện hữu, nghĩa là, loại sự sống mà một người có khi Thiên Chúa hướng dẫn trong cuộc sống của anh ta.[10]



6.     Sự sống là ánh sáng của nhân loại”: Trong Cựu Ước, khái niệm ánh sáng là một điều gì đó gây thích thú và dễ chịu, đối nghịch lại với bóng tối. Thế giới của sự sống là thế giới của ánh sáng trong khi thế giới của sự chết là nơi chốn của bóng tối. Trong Tân Ước, ánh sáng trở thành tương đương với quyền lực của sự tốt lành, đấu tranh với bóng tối là quyền lực sự dữ.[11] “sự sống ở đây ám chỉ một chất lượng của cuộc sống, không chỉ là tồn tại, một cuộc sống đích thực thắp sáng cho con người.[12] Những người theo triết học Pythagore phát triển một bản liệt kê mười cặp đối lập bao gồm nam/nữ, trái/phải, kỳ quái/bình thường và ánh sáng/bóng tối. Ánh sáng nối kết với sự sống và bóng tối nối kết với sự chết. Trong “phép loại suy hang động” của Platon ánh sáng đại diện cho cả sự thiện hảo và những phương tiện nhờ đó người ta sự thiện hảo. Như thế, ánh sáng và sự nhìn thấy trở thành những ẩn dụ cho việc nắm bắt những gì là tối thượng hoặc sự thật. Theo M.M. Thompson, “ánh sáng của nhân loại” (Ga 1,4) có nghĩa là ánh sáng cho lợi ích của nhân loại, là ánh sáng cho họ.[13] Đức Giê-su là ánh sáng soi chiếu cho nhân loại không chỉ để cho họ thấy vạn vật, nhưng còn thấy Thiên Chúa, thấy tình yêu Chúa dành cho họ. Ngài cho họ biết nhìn mọi việc, mọi người bằng ánh mắt của Thiên Chúa. Đó là ánh mắt tình yêu và tha thứ. Ánh sáng của Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng giúp người ta nhìn thấy một cách chân thật lòng mình, thấy lỗi lầm, thấy sự thật, thấy Chúa, thấy tình yêu Chúa, để rồi giúp nhân loại đi ra khỏi bóng tối của sự chết mà vươn đến sự sống.

7.     Người đã ở trong thế giới… Thế giới không nhận biết Người… Người đã đến nhà mình... người nhà chẳng đón nhận Người”: Các câu 11 và 12 diễn tả một nghịch lý trớ trêu và bi thảm của nhân loại. Thế giới được tạo nên nhờ Ngôi Lời, và Ngôi Lời đã ở trong thế giới, nhưng thế giới lại chẳng biết Người (Ga 1,11). Mạnh mẽ hơn, có thể là cực điểm của sự nghịch lý, “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng đón nhận” (Ga 1,12). Đức Giê-su đến thế gian như là chủ nhân, nhưng nhiều người đã không nhận biết và chối từ Người. “τὰ ἴδια” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “những vật thuộc về ai đó”, trong ngữ cảnh này có thể hiểu là nhà của chính mình, “οἱ ἴδιοι”, cũng được hiểu là “người trong gia đình”. “Nhà” của Đức Giê-su có thể hiểu theo nghĩa hẹp là Bê-lem, nơi Người được sinh ra nhưng không ai đón nhận, cũng có thể là Na-gia-rét, quê hương của Người, nơi mà những người đồng hương không tin và đón nhận Người (Mt 13,57; Mc 6,4). “Nhà của Người” cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là toàn đất nước It-ra-el. Người nhà của Người có thể hiểu là những người đồng hương, những người đã tìm cách giết Người. “Không đón nhận” theo nghĩa nhẹ là không tin vào Người và Tin Mừng của Người. Theo nghĩa nghiêm trọng hơn là ghét Người (15,18-19). Và cực điểm là tìm cách loại trừ và giết chết Người. Trong Tin Mừng thứ tư, “những người Do Thái”, đã tìm cách giết Đức Giê-su (Ga 5,18). Họ lên kế hoạch cụ thể để lấy mạng Người (Ga 11,53). Và cuối cùng họ đã yêu cầu Philato đóng đinh Người vào thập giá (Ga 19,6). Trong vụ này, có sự tham gia của tổng trấn Rô-ma và rất nhiều người Do Thái.

8.     những ai đón nhận và tin vào Người”: Tin Mừng thứ tư sẽ cho chúng ta thấy có những người đã đón nhận và tin vào Người. Đó là hình ảnh phụ nữ Samaria và dân làng Samaria. Câu chuyện khát nước và xin nước của Đức Giê-su bên bờ giếng Gia-cóp (4,1-42) đã kết thúc có hậu và bất ngờ khi không những người phụ nữ Samari tin vào Đức Giê-su mà nhiều người Samari tin vào Người (Ga 1,39-42). Câu chuyện “chữa lành người mù từ lúc mới sinh” cũng kết thúc bằng việc anh mù sau một hành trình dài gian nan đã tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su và bái thờ Người (Ga 9,38). Tin Mừng thứ tư cũng là Tin Mừng duy nhất nói đến một Nicodemo, một bậc thầy Do Thái đã theo Đức Giê-su cách âm thầm (Ga 3,1-21), đã bảo vệ Đức Giê-su cách công khai (Ga 7,50-51) và cuối cùng chính ông đã chôn cất Đức Giê-su (Ga 19,39). Đây có thể được xem là những con người đã tin và đón nhận Đức Giê-su. Trong số họ có cả những người trí thức, hiểu biết lẫn những người thường dân, đau bệnh. Ngoài ra, còn có cả những người bị người Do Thái kỳ thị loại bỏ như là những người Samari. Đó là nghịch lý và niềm an ủi cho Đức Giê-su dẫu là người nhà không đón nhận Người, nhưng có nhiều người khác đón nhận Người.

9.     Quyền làm con Thiên Chúa”: Những người tin và đón nhận Đức Giê-su dầu căn tính và xuất thân họ ra sao đều có quyền trở thành con của Thiên Chúa. Nói cho cùng, ngay từ đầu, Gioan đã khẳng định, tất cả mọi thụ tạo đều nhờ Người mà có và tồn tại, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành. Vậy thì, không phải tất cả đều là con Thiên Chúa đó sao? Tất cả không phải là người nhà của Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể đó sao? Nhưng nghịch lý là không phải tất cả mọi người đều thấy và chấp nhận chân lý này. Chính vì thế mà Ngôi Lời phải nhập thể và nhập thế, để giúp thụ tạo đón nhận lại quyền làm con Thiên Chúa. Dẫu vậy, Gioan muốn nhấn mạnh rằng đây là quyền mà Thiên Chúa ban cho mỗi thụ tạo chứ không phải họ tự thân đạt được. Trở thành con Thiên Chúa kéo theo việc đón nhận bản chất thần thiêng hay đặc tính mà Giê-su chính là hình ảnh hoàn hảo.[14]

10.  Ngôi đã trở nên xác phàm và cắm lều ở giữa chúng ta” (Ga 1,14): Động từ “σκηνόω” có nghĩa là sống, cư ngụ, hay là cắm lều. Động từ này gợi nhớ đến hình ảnh Thiên Chúa di cư, đồng hành cùng dân trong cuộc xuất hành. Ngài không ngần ngại ngự trong lều vải, trong sa mạc với dân Ngài. Chính vì thế mà C. Keener cho rằng động từ này gợi lên một cuộc xuất hành mới được hoàn tất nơi Chúa Ki-tô hay cũng gợi nhớ đến vinh quang của Chúa ở giữa dân Người.[15] Nếu như trong Cựu Ước, Thiên Chúa hiện diện ở giữa dân cách vô hình, thì giờ đây Người hiện diện cách hữu hình. Người đã trở nên xác phàm như con người vậy. Người hiện diện bằng xương bằng thịt một cách sống động.

11.  Đấng ấy đã làm cho chúng ta biết”: Trong Cựu Ước, thấy Thiên Chúa là đồng nghĩa với chết (Tl 6,23). Ông Mô-sê dù đã có gặp Chúa trong cuộc thần hiện nơi bụi gai bốc cháy, nhưng khi ông đề nghị được nhìn trực tiếp vinh quang Thiên Chúa, Chúa đã chối từ: “Không có người nào có thể thấy ta mà sống (Xh 34,18-20) và Mô-sê chỉ thấy lưng của Chúa mà thôi (Xh 34, 21-23). Có lẽ vì thế mà tác giả Gioan nói rằng “Thiên Chúa, không ai thấy bao giờ” (Ga 1,18). Nhưng giờ đây Ngôi Lời đã làm Người và làm cho nhân loại biết Thiên Chúa thế nào. Đức Giê-su đến có thể ngụ ý một sự mạc khải mang tính cánh chung, mạc khải đỉnh cao và tối thượng của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, đối với Đức Giê-su “làm cho Thiên Chúa được biết” không chỉ ngụ ý biểu lộ dung mạo Thiên Chúa nhưng nhưng diễn tả cách đầy đủ vê toàn bộ căn tính của Thiên Chúa.[16]



Bình Luận

Phần đầu của Lời Ngỏ của Tin Mừng thứ tư (Ga 1,1-18) giới thiệu cho độc giả những ý tưởng thần học thiết yếu của Tin Mừng thứ tư. Nơi đây, độc giả tìm thấy khái niệm Lời được áp dụng cho một Ngôi Vị Thiên Chúa. Người là Lời bởi vì qua Người Thiên Chúa nói với nhân loại và qua Người nhân loại hiểu biết về Chúa. Người là ngôi vị bởi vì Người có từ đời đời chứ không phải được tạo nên. Người hiện hữu với Thiên Chúa ngay từ lúc khởi đầu. Không những thế, tất cả mọi thụ tạo đều nhờ Người mà có và tồn tại. Người chính lá ánh sáng và sự sống của nhân loại. Người là chính ánh sáng. Ánh sáng này đi vào thế giới để giúp mọi người nhìn thấy dung mạo của Thiên Chúa, dung mạo của một Thiên Chúa tạo dựng đầy quyền năng và Thiên Chúa yêu thương vô bờ bến. Nhờ Người nhân loại cũng nhìn thấy mọi vật mọi người một cách chân thật nhất. Họ cũng được nhìn thấy chính tâm hồn của mình một cách rõ ràng. Những điểm tối và điểm sáng sẽ được soi chiếu. Chọn lựa ánh sáng sẽ đem đến cho người ta sự sống, ngược lại bóng tối sẽ đưa người ta vào cõi chết đời đời. Gioan Tẩy Giả được giới thiệu, trong Lời Tựa này, như là người đến để làm chứng về ánh sáng, Ngôi Lời. Cuộc đời, sứ vụ của ông là giúp người ta nhận ra Đức Giê-su chính là ánh sáng thật. Người đến để ban ánh sáng cho tất cả mọi người. Tuy vậy, chẳng mấy ai đón nhận Người. Vì có nhiều người còn chuộng bóng tối hơn ánh sáng, bởi vì những việc họ làm đều xấu xa (Ga 3,19). Sự thể là Đức Giê-su đã ở trong thế gian và thế gian đã nhờ Người mà hiện hữu và tồn tại, nhưng họ lại không nhận biết Người. Nghiệt ngã hơn nữa, Người đã đến nhà mình nhưng anh chị em ruột thịt họ hàng và đồng hương đã không đón nhận Người. Thực tế, Người đã phải sinh ra trong một cánh đồng vắng, trong một chuồng bò lừa ngoài thành Bê-lem. Người bị vua Hê-rô-đê đuổi cùng giết tận lúc còn ẵm ngữa trên tay mẹ. Một vị vua con bị loại ra ngoài lề của xã hội. Người về quê hương giảng dạy thì bị những người đồng hương dè bĩu chê bai và không đón nhận. Rồi, cuối cùng chính những người đồng hương của Người đã gây áp lực đòi buộc Phi-la-tô phải xử tử Người. Người đã chết trong tiếng kêu khát khao, khát khao một sự đón nhận một lòng tin nơi những người đồng hương. Ngược lại với giới lãnh đạo và đa số những người đồng hương, nhiều người ngoài lề xã hội Do Thái, cũng như ngoài biên giới Do Thái đã tin nhận Người. Đó là người mù từ lúc mới sinh, kẹ bị xem là người tội lỗi nên gánh chịu hình phạt mù lòa bẩm sinh. Đó là người phụ nữ Samari và dân làng Samari, một sắc dân chẳng chung đụng gì với người Do Thái dầu họ sống ngay bên nách người Do Thái. Phần thưởng cao quý dành cho những người tin vào Đức Giê-su và đón nhận Người là “quyền được làm con Thiên Chúa”. Đành rằng mọi thụ tạo đều do Chúa tao nên hay sinh ra. Nghĩa là tất cả họ đều là con cái Thiên Chúa. Thế nhưng, tội lỗi, tội nguyên tổ và tội riêng, đã làm cho họ rời xa Thiên Chúa đến nỗi quên đi nguồn cội của mình. Chính vì thế, con một của Chúa, phải mặc lấy xác phàm, đến cắm lều giữa nhân loại để giúp họ tìm về lại với Chúa mà hàn gắn lại mối liên hệ cha-con với Ngài. Lề Luật đã được ban cho ông Mô-sê để chỉ dạy dân trong một thời gian nhưng Đức Giê-su mang đến ân sủng và sự thật để giúp cho con người kiện toàn sự hoàn hảo nơi mình. Đức Giê-su đầy tràn ân sủng và sự thật. Với ân sủng mà Chúa ban, người ta sẽ tìm kiếm sự thật vươn đến sự thật tuyệt đối là chính Chúa Giê-su, Đấng là đường là sự thật và là sự sống. Sống hay chết, mất hay còn đều tùy thuộc vào việc tin và nhận biết Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] Bản dịch Việt Ngữ (CGKPV) là: “hướng về Thiên Chúa” hình như không diễn tả được ý nghĩa nguồn gốc của Ngôi Lời. Bản dịch này có thể quá chú trong đến giới từ “pros” (về phía, towards) mà quên đi rằng giới từ “pros” cũng có nghĩa là “với” và động từ “eimi” có nghĩa là “ở”. Bản dịch Ý Ngữ (era presso Dio, CEI) và Pháp Ngữ (était tourné vers Dieu TOB) xem ra cùng một cách hiểu như bản Việt Ngữ. Chỉ có bản Anh Ngữ (was with God, ESV, RSV) xem ra gần với bản Hy Ngữ hơn. Giới từ này thường truyền tải một nghĩa tương tác lẫn nhau. Nghĩa là, Ngôi Lời không chỉ ở nơi sự hiện diện của Chúa, nhưng có một mối tương quan hỗ tương giữa Thiên Chúa và Ngôi Lời [M.B. Newman – E.A. Nida, A Handbook on the Gospel of John (New York 1993) 8].

 [2] R.E. Brown, The Gospel According to John (I-XII). Introduction, Translation, and Notes (New Haven – London 2008) 4; B.M. Newman – A.E. Nida, A Handbook on the Gospel of John (New York, 1993) 6.

[3] D.A. Carson, The Gospel According to John (Leicester – Grand Rapids 1991) 116.

[4] C. Karakolis, “The Logos-Concept and Dramatic Irony in Johannine Prologue and Narrative”, The Prologue of the Gospel of John. Its Literary, Theological, and Philosophical Contexts. Papers read at the Colloquium Ioanneum 2013 (WUNT 359; Tubingen 2013) 148.

[5] R.E. Brown, The Gospel According to John, 5.

[6] F.J. Moloney, The Gospel of John (SP 4; Collegeville 2005) 42.

[7] R.E. Brown, The Gospel According to John, 6.

[8] F.J. Moloney, The Gospel of John, 42-43.

[9] R.E. Brown, The Gospel According to John, 7.

[10] M.B. Newman – E.A. Nida, A Handbook on the Gospel of John, 11.

[11] Ibid.

[12] Ibid.

[13] The Prologue of the Gospel of John. Its Literary, Theological, and Philosophical Contexts. Papers read at the Colloquium Ioanneum 2013 (eds. J.Van der Watt – R.A. Culpepper – U. Schnelle) (WUNT 359; Tubingen 2013) XVI.

[14] C.S. Keener, The Gospel of John. A Commentary (Grand Rapids 2003) 403.

[15] C.S. Keener, The Gospel of John, 408-409; Beasley-Murray – R. George, John (WBC 36; Dallas 2002) 14.

[16] C.S. Keener, The Gospel of John, 424.