Wednesday, 22 December 2021

ĐỨC GIÊSU GIÁNG SINH TẠI BẾTLEHEM, CHUYỆN TÌNH CỜ? Chú giải Tin Mừng Lễ Giáng Sinh (Lễ Vọng và Lễ Rạng Đông, Lc 2,1-20)

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lp

Việt

1 Ἐγένετο δὲ ἐν ταῖς ἡμέραις ἐκείναις ἐξῆλθεν δόγμα παρὰ Καίσαρος Αὐγούστου ἀπογράφεσθαι πᾶσαν τὴν οἰκουμένην.

 2 αὕτη ἀπογραφὴ πρώτη ἐγένετο ἡγεμονεύοντος τῆς Συρίας Κυρηνίου.

 3 καὶ ἐπορεύοντο πάντες ἀπογράφεσθαι, ἕκαστος εἰς τὴν ἑαυτοῦ πόλιν.

 4  Ἀνέβη δὲ καὶ Ἰωσὴφ ἀπὸ τῆς Γαλιλαίας ἐκ πόλεως Ναζαρὲθ εἰς τὴν Ἰουδαίαν εἰς πόλιν Δαυὶδ ἥτις καλεῖται Βηθλέεμ, διὰ τὸ εἶναι αὐτὸν ἐξ οἴκου καὶ πατριᾶς Δαυίδ,

 5 ἀπογράψασθαι σὺν Μαριὰμ τῇ ἐμνηστευμένῃ αὐτῷ, οὔσῃ ἐγκύῳ.

 6 Ἐγένετο δὲ ἐν τῷ εἶναι αὐτοὺς ἐκεῖ ἐπλήσθησαν αἱ ἡμέραι τοῦ τεκεῖν αὐτήν,

 7 καὶ ἔτεκεν τὸν υἱὸν αὐτῆς τὸν πρωτότοκον, καὶ ἐσπαργάνωσεν αὐτὸν καὶ ἀνέκλινεν αὐτὸν ἐν φάτνῃ, διότι οὐκ ἦν αὐτοῖς τόπος ἐν τῷ καταλύματι.

 8 Καὶ ποιμένες ἦσαν ἐν τῇ χώρᾳ τῇ αὐτῇ ἀγραυλοῦντες καὶ φυλάσσοντες φυλακὰς τῆς νυκτὸς ἐπὶ τὴν ποίμνην αὐτῶν.

 9 καὶ ἄγγελος κυρίου ἐπέστη αὐτοῖς καὶ δόξα κυρίου περιέλαμψεν αὐτούς, καὶ ἐφοβήθησαν φόβον μέγαν.

 10 καὶ εἶπεν αὐτοῖς ὁ ἄγγελος· μὴ φοβεῖσθε, ἰδοὺ γὰρ εὐαγγελίζομαι ὑμῖν χαρὰν μεγάλην ἥτις ἔσται παντὶ τῷ λαῷ,

 11 ὅτι ἐτέχθη ὑμῖν σήμερον σωτὴρ ὅς ἐστιν χριστὸς κύριος ἐν πόλει Δαυίδ.

 12 καὶ τοῦτο ὑμῖν τὸ σημεῖον, εὑρήσετε βρέφος ἐσπαργανωμένον καὶ κείμενον ἐν φάτνῃ.

 13 καὶ ἐξαίφνης ἐγένετο σὺν τῷ ἀγγέλῳ πλῆθος στρατιᾶς οὐρανίου αἰνούντων τὸν θεὸν καὶ λεγόντων·

 14 δόξα ἐν ὑψίστοις θεῷ καὶ ἐπὶ γῆς εἰρήνη ἐν ἀνθρώποις εὐδοκίας.

 15 Καὶ ἐγένετο ὡς ἀπῆλθον ἀπ᾽ αὐτῶν εἰς τὸν οὐρανὸν οἱ ἄγγελοι, οἱ ποιμένες ἐλάλουν πρὸς ἀλλήλους· διέλθωμεν δὴ ἕως Βηθλέεμ καὶ ἴδωμεν τὸ ῥῆμα τοῦτο τὸ γεγονὸς ὃ ὁ κύριος ἐγνώρισεν ἡμῖν.

 16 καὶ ἦλθαν σπεύσαντες καὶ ἀνεῦραν τήν τε Μαριὰμ καὶ τὸν Ἰωσὴφ καὶ τὸ βρέφος κείμενον ἐν τῇ φάτνῃ·

 17 ἰδόντες δὲ ἐγνώρισαν περὶ τοῦ ῥήματος τοῦ λαληθέντος αὐτοῖς περὶ τοῦ παιδίου τούτου.

 18 καὶ πάντες οἱ ἀκούσαντες ἐθαύμασαν περὶ τῶν λαληθέντων ὑπὸ τῶν ποιμένων πρὸς αὐτούς·

 19 ἡ δὲ Μαριὰμ πάντα συνετήρει τὰ ῥήματα ταῦτα συμβάλλουσα ἐν τῇ καρδίᾳ αὐτῆς.

 20 καὶ ὑπέστρεψαν οἱ ποιμένες δοξάζοντες καὶ αἰνοῦντες τὸν θεὸν ἐπὶ πᾶσιν οἷς ἤκουσαν καὶ εἶδον καθὼς ἐλαλήθη πρὸς αὐτούς. (Lk. 2:1-20 BGT)

1 Chuyện xảy ra là trong những ngày ấy, có một sắc lệnh đến từ hoàng đế Kaisar Augustou, buộc tất cả dân cư phải được đăng ký.

2 Đây là sự đăng ký đầu tiên khi ông Quirenius đang cai quản Syria

3 và tất cả lên đường để đăng ký, mỗi người vào nơi thành phố của mình

4 Anh Giuse đi lên từ Galilê, từ thị trấn Nadarét, đến Giuđê vào thành của Đavid, gọi là Bếtlehem, bởi vì ông xuất thân từ nhà và dòng dõi Đavid.

5 để đăng ký với chị Maria, vị hôn thê của ông, người đang mang thai

6 Chuyện xảy ra, khi họ đang ở đó thì những ngày sinh con của chị ấy tròn đầy,

7 và chị sinh con đầu lòng và bọc nó lại và đặt nó trong máng cỏ, vì họ không có một chỗ trong nhà trọ.

8 Có các mục tử, đang ở ngoài đồng nơi họ đang qua đêm và canh giữ đàn chiên của họ vào ban đêm.

9 và sứ thần của Đức Chúa xuất hiện và vinh quang của Đức Chúa chiếu tỏa quanh họ và họ sợ một nỗi sợ lớn.

10 Và sứ thần nói với họ: “đừng sợ, vì này, tôi loan báo cho anh em một tin vui trọng đại, tin vui cho toàn dân

11 Hôm nay, Đấng cứu độ đã được sinh ra cho anh em, Đấng ấy là Đấng Kitô, Đức Chúa, trong thành Đavid.

12 và đây là dấu hiệu cho anh em. Anh em sẽ tìm thấy một hài nhi được bọc tả được đặt trong máng cỏ”

13 và thình lình, cùng với thiên sứ này, vô số thiên binh trên trời xuất hiện ca tụng Thiên Chúa và nói rằng:

14 “Vinh danh Thiên Chúa trên cõi trời cao và bình an dưới đất giữa những người lòng ngay.

15 Và xảy ra là khi các thiên sứ từ trời rời họ, những người chăn chiên bảo nhau: “chúng ta hãy cùng nhau đi băng qua đến tận Bếtlehem và hãy xem lời này, việc đã xảy ra, việc mà Đức Chúa đã tỏ cho chúng ta biết

16 Và vội vã đến và tìm thấy chị Maria và anh Giuse và Hài Nhi được đặt trong máng cỏ.

17 Sau khi nhìn thấy họ loan báo về những sự việc đã được nói cho họ về đứa trẻ này.

18 Và tất cả những người nghe đều kinh ngạc về những điều mà những người chăn chiên nói cho họ

19 còn chị Maria thì giữ những sự việc này, nghiền ngẫm trong lòng cô ấy

20 những người chăn chiên trở về vừa đi vừa tôn vinh và tán tụng Thiên Chúa về tất cả những điều họ đã nghe và đã thấy như lời đã được nói cho họ.



Bối cảnh phụng vụ

Đêm vọng Giáng Sinh là đêm hồi tưởng, kỷ niệm, mừng kính Sinh Nhật Đấng Cứu thế. Phụng vụ bài đọc kể lại bối cảnh, và sự kiện Chúa Giáng Sinh làm người, theo như lời Người đã hứa với dân Người trong sách Cựu Ước. Ngài là Thiên Chúa làm người nên cần một không gian và thời gian để Ngài hiện diện trong nơi chốn và thời gian trần thế. Tuy nhiên, Ngài cũng là Thiên Chúa đến từ trời cao nên cũng được sinh ra trong cảnh các cơ binh thiên thần ca hát vang trời. Ngài ở cùng nhân loại với đủ mọi thứ thành phần dân chúng nên Ngài chọn sinh hạ với sự hiện diện của tầng lớp bình dân đến nghèo hèn. Ngài được hứa như là Messiah thuộc dòng dõi vua Đavid nên Ngài phải sinh ra trong thành của vua Đavid cũng như có cha nuôi là ông Giuse thuộc chi tộc Đavid. Tất cả niềm vui mừng, sự giao hòa giữa đất thấp với trời cao sẽ được trình bày trong đêm Giáng Sinh này. Cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa với nhân loại được diễn ra trong khung cảnh hết sức bình thường với một cảm xúc bất thường, ngỡ ngàng. Đêm Giáng Sinh còn được gọi là đêm huyền diệu, đêm thánh, đêm ánh sáng chiếu soi vào u tối. Bài trích sách ngôn sứ Isaiah diễn tả cảnh dân đang bước đi trong tối tăm và nhìn thấy một ánh sáng huy hoàng. Dân sẽ được vui mừng vì Chúa sẽ làm cho họ nên vĩ đại. Chúa sẽ nghiền nát ách nô lệ mà họ đang mang. Tất cả được thể hiện qua việc Chúa sẽ ban tặng cho họ một người con. Tên của Người là “cố vấn kỳ diệu, Thiên Chúa Huy Hoàng, Người Cha Muôn thuở và Vua Thái Bình”.

Cấu trúc

Câu chuyện Giáng Sinh nổi tiếng của tác giả Luca có thể được chia làm bốn cảnh. Cảnh I: Đức Giêsu được sinh ra, bọc tả, đặt trong máng cỏ (Nhân vật: Đức Maria, Giuse, Hài Nhi Giêsu). Cảnh II: Thiên sứ hiện ra báo tin Mừng cho các mục tử nơi cánh đồng mục tử (nhân vật: Các mục tử, các thiên sứ, triều thần thiên quốc). Cảnh III: Gặp gỡ tại nơi Đức Giêsu được sinh ra, các mục tử loan báo tin Mừng, Đức Maria suy gẩm trong lòng (Nhân vật: Đức Maria, Giuse, Hài Nhi Giêsu, các mục tử, nhiều người khác nữa). Cảnh cuối cùng: Các mục tử ra về, vừa đi vừa tôn vinh, ca tụng Thiên Chúa (các mục tử với đời sống mới). Cảnh thứ nhất dành riêng cho thánh gia; cảnh II dành riêng cho nhóm mục tử; cảnh III dành cho cả hai nhóm (họ gặp nhạu và kể cho nhau nghe Tin Vui); Cánh cuối cùng dành riêng cho nhóm mục tử.

Bối Cảnh: Nhân vật, nơi chốn, sự kiện (1-5)

Cảnh I: Giáng Sinh: Sinh con, bọc tả, đặt trong máng cỏ (6-7)

Cảnh II: Truyền tin vui cho các mục tử: Đấng Cứu Độ, Đấng Kitô, Đức Chúa đã sinh ra (8-14)

Cảnh III: Gặp gỡ và loan tin vui: Đến, gặp gỡ Hài Nhi, loan tin (15-19)

Cảnh IV: Các mục tử sống tin vui: Trở về, tôn vinh và ca tụng Thiên Chúa Chúa (20)

Bối cảnh bản văn:

Đoạn Tin Mừng Lc 2,1-14.15-20 được trích ra từ phần đầu của chương hai, ngay sau phần trình thuật về chào đời và cắt bì của Gioan Tẩy Giả được kết thúc bằng bài ca Chúc Tụng Chúa (Benedictus) của ông Dacaria. Nó nằm trong phần trình thuật về Giáng Sinh và thời thơ ấu (chương 1 và 2 của Tin Mừng Luca). Tiếp theo sau đoạn văn này là đoạn văn nói về việc cắt bì và đặt tên cho Đức Giêsu. Tiếp theo sẽ là trình thuật về việc dâng Đức Giêsu trong đền thánh. Trình thuật của Gioan Tẩy Giả dường như là song song với trình thuật về Đức Giêsu. Sau trình thuật về truyền tin cho ông Dacaria, cha của Gioan là trình thuật về truyền tin cho Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu. Rồi, sau trình thuật về sự ra đời, cắt bì và đặt tên cho Gioan là trình thuật về Giáng sinh, cắt bì và đặt tên cho Giêsu. Dĩ nhiên, trình thuật về Giêsu luôn luôn tỉ mỉ hơn vì Giêsu trổi vượt hơn Gioan về nhiều phương diện. Một người là người dọn đường, còn người kia là Đấng được dọn đường. Trong bốn tác giả sách Tin Mừng thì chỉ có hai tác giả có trình thuật về Giáng Sinh của Đức Giêsu. Đó là tác giả Mátthêu và Luca. Luca trình thuật sự kiện Đức Giêsu Giáng Sinh hoàn toàn khác so với Mátthêu (1,18-25). Cả hai đều đồng ý rằng Đức Giêsu sinh ra tại Bếtlehem. Tuy nhiên, trong khi Luca nói đến việc Hài Nhi Giêsu được những mục tử đến viếng thăm thì Mátthêu có trình thuật chi tiết về việc 3 nhà đạo sĩ đến từ Phương Đông để triều yết và chào mừng Đức Giêsu. Mátthêu cũng không đề cập đến việc đăng ký dân số và những chi tiết về việc Đức Giêsu sinh ra trên đồng vắng, được bọc tả, nằm trong máng cỏ. Những chi tiết này đều là dữ liệu riêng của Luca.

Một số điểm chú giải

1.     “Một sắc lệnh từ Kaisar Augusto nhằm đăng ký” (δόγμα παρὰ Καίσαρος Αὐγούστου ἀπογράφεσθαι): Luca rõ ràng là muốn ghi nhận một sự kiện mang tính chất lịch sử bằng cách nói rõ tên của các vị lãnh đạo thời bấy giờ: Kaisar Augusto và Quirenius. Vua Erodes chết năm 4 C.E (kỷ nguyên chung) và Augusto là hoàng đế từ năm 27 B.C.E (trước kỷ nguyên chung) đến năm 14 C.E.. Điều này xem ra Luca đúng. Tuy nhiên, Quirenius là tổng trấn xứ Syria từ năm 6 đến 7 C.E., điều này không đúng với dữ liệu của Luca: “ông Quirenius làm tổng trấn xứ Syria” (Lc 2,2).[1] Sự kiện Đức Giêsu Giáng Sinh xảy ra vào khoảng năm thứ nhất. Năm này không thể là năm mà Quirenius làm tổng trấn Syria. Mátthêu không hề đề cập đến cuộc kiểm tra dân số cũng như những nhân vật lịch sử này. Một cuộc điều tra dân số, hay đăng ký dân số tại quê nhà dưới thời hoàng đế Augusto như Luca tường thuật xem ra thiếu bằng chứng về mặt lịch sử. Có một cuộc kiểm tra dân số tại Syria, ảnh hưởng trên vùng đất Giuđêa, chứ không phải Galilê diễn ra vào năm 6-7 C.E., mười năm sau khi vua Erodes cả mất.[2] Luca dường như nhầm lẫn về mặt lịch sử nhưng Luca ý định về sự hiện diện của Đức Maria và thánh Giuse cũng như bối cảnh của Giáng Sinh nơi Bếtlehem là rõ ràng. Theo dữ liệu lịch sử này, Luca muốn nói rằng cả hoàng đế Rôma, Kaisar Augusto cũng như Quirenius, tổng trấn địa phương tại Syria phục vụ cho kế hoạch của Thiên Chúa, khi đưa thánh Giuse và Đức Maria về Bếtlehem, nơi mà Đấng Cứu Độ phải sinh ra.[3]

2.     “Anh Giuse từ miền Galilê, thành Nadarét” (Ἰωσὴφ ἀπὸ τῆς Γαλιλαίας ἐκ πόλεως Ναζαρὲθ). Việc thánh Giuse di chuyển từ miền Galilê thành Nadarét đến Bếtlehem nhắc nhớ độc giả về địa danh trong trình thuật về buổi truyền tin (Lc 1,26-38). Đức Maria có ngôi nhà ở Nadarét và đã nhận lời truyền tin ở thị trấn này (Lc 1,26). Thánh Giuse dĩ nhiên là đã ở Nadarét với Đức Maria. Hiện nay, tại Nadarét, bên cạnh ngôi đền thờ Truyền Tin, nơi được xem làm nhà Đức Maria, có một ngôi nhà thờ khác. Đó là nhà thờ Thánh Giuse, nơi được xem là nhà của thánh Giuse trước đó. Nghĩa là nhà thánh Giuse và nhà Đức Maria, theo các bằng chứng về khảo cổ học, hay đúng hơn là theo truyền thống, gần nhau. Đức Maria và thánh Giuse vốn là hàng xóm láng giềng. Thế nhưng, trong trình thuật truyền tin, các độc giả cũng được nhắc nhở rằng, thánh Giuse xuất thân từ dòng dõi Đavid (Lc 1,27) và vì là dòng dõi Đavid nên quê cha đất tổ của ông là Bếtlehem.

3.      Thành của Đavid gọi là Bếtlehem (πόλιν Δαυὶδ ἥτις καλεῖται Βηθλέεμ): Truyền thống nối kết quê hương của vua Đavid với Bếtlehem được nói đến trong Sách Thánh Cựu Ước. Bếtlehem là mộ phần của Rakhen, hiền thê của Giacóp, tổ mẫu của Vua Đavít và dân Ítrael (St 35,19). Bếtlehem cũng chính là nơi mà Rút, bà cố nội của Vua Đavít, kết hôn với Boas và sinh ra Ôvéd và Ôvéd sinh Jesse, cha của Đavít (R 1,19.22; 4,11). Bếtlehem là nơi ngôn sứ Samuel được Đức Chúa sai đến để xức dầu phong Đavid, một người con của Jesse, làm vua (1 Sm 16, 1-2). Lời hứa về một vị vua hậu duệ của Đavid sẽ xuất hiện đã được nói đến cách rõ ràng trong chương 7, sách Samuel quyển thứ hai. Rồi lời tiền báo về việc một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh một con trai và đặt tên là Emmanuel được tiền báo trong sách ngôn sứ Isaiah chương 7 câu 14. Và nơi chốn đấng dẫn dắt dân phải sinh ra là Bếtlehem được nói đến trong ngôn sứ Mikhah chương 5, câu 1: “nhưng ngươi, Bếtlehem, Épratha, mặc dù ngươi nhỏ nhất trong các chi tộc của Giuđa, từ nơi ngươi, sẽ xuất hiện cho ta một người, người sẽ chăn dắt trên Ítrael”. Chính vì thế mà nhất thiết thánh Giuse và Đức Maria phải có mặt ở Bếtlehem, bởi vì Đấng Messiah, lãnh đạo của lời hứa, xuất thân từ dòng dõi vua Đavid phải sinh ra tại Bếtlehem. Mátthêu không có tường thuật chi tiết như Luca về sự Giáng Sinh của Đức Giêsu. Tuy vậy, chi tiết Đức Giêsu sinh ra tại Bếtlehem theo như sách Mikhah đã nói đến là không thể thiếu được (Mt 2,1.5-6.8.16).

4.     “trong khi họ đang ở đó” (Ἐγένετο δὲ ἐν τῷ εἶναι αὐτοὺς ἐκεῖ). “Ở đó” nghĩa là đang ở Bếtlehem. Đây là một câu nhắc nhớ, nhằm nhấn mạnh thêm những dữ liệu liên quan đến nơi chốn trước đó. Luca móc nối nơi chốn này với sự kiện cụ thể: Đức Maria đã đến  hồi sinh nở (nghĩa đen: Những ngày sinh con của cô ấy đã tròn đầy). Việc thánh Giuse phải dẫn vợ mình về quê đăng ký dân số, và có mặt tại Bếtlehem trong lúc Đức Maria đến ngày lâm bồn, tưởng chừng là một trường hợp ngẫu nhiên, nhưng hoàn toàn không phải thế, tất cả đều nằm trong hoạch định của Thiên Chúa theo trình thuật của Luca. Đức Maria không thể nào “chuyển dạ” ở một nơi nào khác ngoài Bếtlehem, vì Đức Giêsu phải sinh ra tại đó, để ứng nghiệm lời ngôn sứ. Luca không lặp lại nhiều câu “việc ấy xảy ra là để ứng nghiệm lời ngôn sứ” nhưng cách Luca sắp xếp trình thuật cũng đủ để cho độc giả và tín hữu hiểu rõ ý định nối kết lời hừa trong Sách Thánh Cựu Ước với trình thuật Tân Ước.

5.     “Con trai của cô ấy, con đầu lòng” (τὸν υἱὸν αὐτῆς τὸν πρωτότοκον): Việc nhắc nhớ đến “con trai đầu lòng” ở đây không ngụ ý nói rằng Đức Maria còn những người con khác.[4] Nói như thế, bởi vì có nhiều tác giả cho rằng, nói Đức Maria sinh “con trai đầu lòng” nghĩa là Đức Maria còn sinh những người con khác nữa. Con đầu lòng cũng nhắc nhớ đến hình ảnh của dân Ítrael: “hãy nói với Pharaoh rằng Ítrael là con trai đầu lòng của ta” (Xh 4,22); “ta là cha của Ítrael và Éphraim là con trai đầu lòng của ta” (Gr 31,9). Cũng nên biết rằng, từ ngữ “Con trai đầu lòng”, trong tiếng Hy Lạp (prototokos) đôi khi diễn tả “con trai một”.[5] Danh xưng “con trai đầu lòng” được nhắc đến ở đây cũng có thể nhằm chuẩn bị cho trình thuật về việc dâng Đức Giêsu trong đền thờ theo luật (Lc 2,23) được nói đến sau đó. Trong thần học thánh Phaolô, Chúa Giêsu qua mầu nhiệm nhập thể trở thành trưởng tử của một đàn em đông đúc. Ngài được kể “như con đầu lòng” của toàn thể thụ tạo (Rm 8,29; Cl 1,15.18; Dt 1,6).

6.     “Cô ấy bọc tả nó (Hài Nhi Giêsu)” (ἐσπαργάνωσεν αὐτὸν): Hành động này biểu lộ một sự chăm sóc mẫu-tử là điều mà một người mẹ của vùng Palestin cổ xưa có thể đã thường làm cho một đứa trẻ mới sinh. Bọc tả con được xem như là một dấu hiệu của sự chăm sóc của mẹ cha (Kn 7,4) trong khi đó thiếu việc bọc tả được xem như là chối từ, làm ngơ, ám chỉ đến Giêrusalem (Ed 16,4). Động từ “sparganoun” rút ra từ danh từ sparganon, một trong những loại vải hoặc băng vải. Chính vì thế mà bản dịch Anh Ngữ là “wrapped him in swaddling cloths” (ESV, RSV), bản dịch Việt ngữ là “lấy tả bọc con” (CGKPV). Đấng Cứu Thế được sinh ra, về thể lý, giống như bao đứa trẻ khác. Ngài cũng yếu đuối, cần được bọc tả, sự chăm sóc ân cần của người mẹ ngay từ giây phút chào đời.

7.     “đặt nó trong máng cỏ” (καὶ ἀνέκλινεν αὐτὸν ἐν φάτνῃ): φάτνῃ vừa có nghĩa là chuồng bò lừa vừa có nghĩa là máng cho bò lừa ăn cỏ. Cảnh Giáng Sinh được thánh Phanxicô Assisi, tái hiện lần đầu tiên vào năm 1223 tại Greccio, miền Trung Nước Ý, để cổ vũ lòng tôn sùng Chúa Kitô. Từ đó truyền thống trưng bày hang đá máng cỏ được lan rộng ra khắp Âu Châu và toàn thế giới. Khung cảnh Giáng Sinh cơ bản tái hiện lại tường thuật của Luca. Trong đó, có thánh Giuse, Mẹ Maria, Hài Nhi Giêsu ở trong một chuồng bò, có bò, lừa, những người chăn chiên. Ngày nay, cảnh Giáng Sinh được bao gồm cả trình thuật của Mátthêu về ba Vua, hay là ba hiền sĩ từ Phương Đông đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu. Dù không nói ra, nhưng chiếc máng cỏ đơn sơ được diễn tả đối lại với hình ảnh “không tìm thấy chỗ trọ” cho thấy sự nghèo hèn hạ mình đến mức tận cùng của Con Thiên Chúa làm người. Cũng cần biết thêm là, chỉ có Hài Nhi Giêsu trong trình thuật của Luca mới được đặt trong máng cỏ. Hài Nhi Giêsu trong trình thuật của Mátthêu ở trong nhà cửa đàng hoàng (Mt 2,11: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi và mẹ Người là chị Maria, liền sấp mình thờ lạy Người”).

8.     “những người chăn chiên ngoài đồng” (ποιμένες ἦσαν ἐν τῇ χώρᾳ): Thân phận và địa vị những người đầu tiên được loan tin vui thật bình thường. Đây là những con người đang thức đêm ngoài đồng vắng để canh đàn vật của mình. “ποιμένες”, những mục tử, cho thấy sự liên hệ với Hài Nhi Giêsu, đấng chăn dắt, lãnh đạo dân Ítrael trong tương lai. Người Ítrael hiểu chính họ như một quốc gia của những người chăn chiên, đối lại với những người láng giềng, hoặc là công dân thành phố hoặc là những nông dân định cư. Là những mục tử, họ áp dụng hình ảnh những mục tử cho cả Chúa, vua hay là Đấng Messiah. Edêkiel chương 34 đã chỉ trích những mục tử xấu của Ítrael (cc.1-10), Chúa triệu tập dân như mục tử đích thực (cc. 11-16), lời tiên tri về vị mục tử cánh chung, “tôi tớ của ta là Đavid”. Cũng cần biết thêm là, trong khi Hài Nhi Giêsu của trình thuật Luca được các mục tử nghèo hèn, thất học viếng thăm như đứa bé không nhà, Hài Nhi Giêsu trong trình thuật của Mátthêu được những nhà thông thái, mang đến lễ vật sang trọng để bái thờ Người như một vị vua mới.

9.     “sứ thần của Đức Chúa… vinh quang của Đức Chúa” (ἄγγελος κυρίουδόξα κυρίου): Đây là những dấu hiệu đến từ trời cao. Mặc dù Đức Giêsu được sinh ra trong cánh đồng vắng. Nhưng sự xuất hiện lạ lùng của các thiên sứ và vinh quang của Đức Chúa cho thấy tầm quan trọng và vẻ huy hoàng của sự Giáng Sinh này. “δόξα” là sự huy hoàng tráng lệ chói lọi liên kết với sự hiện diện có thể nhận thức được của Chúa như thường thấy trong sách thánh Cựu Ước. Mô-sê và Aharon nói với dân Ítrael trong bối cảnh dân đòi lương thực: “vào buổi tối các ngươi sẽ biết rằng chính Đức Chúa, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập và vào buổi sáng các ngươi sẽ thấy vinh quang của Đức Chúa” (Xh 16,7), dân chúng thấy “vinh quang của Đức Chúa xuất hiện trong đám mây” (16,10); “đối với những người Ítrael, vinh quang của Đức Chúa như ngọn lửa thiêu rụi trên đỉnh núi” (Xh 24,17). Sự huy hoàng tráng lệ còn được minh họa, gia tăng thêm với một đoàn thiên sứ đông đảo tụng ca “vinh danh Thiên Chúa trên trời” (Lc 2,13-14). Vinh quang Thiên Chúa không những chiếu tỏa có thể thấy được mà còn được diễn tả bằng âm thanh chứng nhận của đạo binh thiên sứ.

10.  “tôi loan báo cho anh em một tin vui lớn” (εὐαγγελίζομαι ὑμῖν χαρὰν μεγάλην): đây là kiểu diễn tả một sự trọng đại chưa từng có trên trái đất. Từ ngữ và cấu trúc của vị ngữ này thật lạ lùng. Tác giả dùng một động từ “loan báo tin vui”, cộng thêm một danh từ chỉ niềm vui, rồi thêm một tính từ chỉ mức độ, bổ nghĩa cho danh từ này. “Tôi báo tin mừng cho anh em, một tin vui vĩ đại” (trọng đại). Động từ “báo tin vui” (εὐαγγελίζομαι) là động từ ưa thích của Luca. Động từ này xuất hiện 11 lần trong trong các sách Tin Mừng thì có 10 lần được dùng trong Tin Mừng Luca.[6] Động từ này đã được sử dụng bởi thiên sứ Gápriel trong bối cảnh truyền tin cho ông Dacaria (Luca 1,19). Luca sử dụng rất nhiều lần động từ này trong sách Công Vụ Tông Đồ, diễn tả hoạt động loan báo Tin Vui của các Tông Đồ (Cv 5,42; 8,4; 11,20; 14,7; 14,15; 15,35). Căn bản của Tin Vui này là một đứa trẻ được sinh ra như được nói đến trong Is 9,5: “Một trẻ thơ sẽ giáng sinh cho chúng ta, một người con được ban tặng cho chúng ta”

11.  “toàn dân” (παντὶ τῷ λαῷ): Tin vui này được thông báo cho những người mục tử trên đồng vắng, nhưng biên cương của tin vui này không chỉ giới hạn cho các mục tử trên đồng vắng nhưng cho toàn cõi Ítrael, như được đề cập trước đó trong những trình thuật thời thơ ấu (1,17.68.77).[7] Bởi lẽ, tất cả dân Ítrael ai ai cũng mong ngóng tin vui này. Tuy nhiên, những mục tử mới là những người đầu tiên được phúc đón nhận tin vui này, rồi sau đó tin vui này mới được loan đi qua lời kể của họ (Lc 2,17). Tác giả Mátthêu còn mở rộng tin vui này cho tất cả mọi dân khi ông tường thuật việc các nhà hiền sĩ ở Phương Đông đến triều cống và triều bái Hài Nhi Giêsu (Mt 2,1-12).

12.  “hôm nay” (σήμερον): Là một trạng từ nhằm cụ thể hóa về mặt thời gian cho sự kiện Giáng Sinh. Hơn thế nữa, nó cũng là một trạng từ thường dùng để giới thiệu về một sự hoàn tất mang tính cánh chung, mà Luca rất hay dùng. “Hôm nay” được dùng như là thời gian giải thoát, cứu độ của Chúa.[8] Đó là lúc những lời Thánh Kinh được ứng nghiệm (Lc 4,21); cũng là lúc dân chúng nhìn thấy những điều kỳ lạ qua bàn tay Đức Giêsu (5,26); là ngày Đức Giêsu công bố ơn cứu độ đến cho nhà Giakêu (19,9); và là khi Đức Giêsu ban nước Thiên Đàng cho người tử tội cùng bị treo trên thập giá (23,43).

13.  “Đấng cứu độ” (σωτὴρ), “Kitô, Đức Chúa” (χριστὸς κύριος): Theo Green, những tước hiệu này được thiết lập trong bối cảnh diễn giải Is 9,1-7, và dữ liệu trong Luca 2 gắn liền với ngai vàng Đavid. Trong khi phác họa những hình ảnh của sách Isaiah, Luca biểu lộ tầm quan trọng của đứa trẻ được nâng cao này, những thuật ngữ mang tính lịch sử cứu độ, đặt nền giải thích của ông về Đức Giêsu vào những niềm hy vọng về sự giải thoát mang tính thần linh. Chủ đề được nhấn mạnh hơn nữa bằng cách đề cập của thiên thần đến “thành của vua Đavid” (Lc 2,11).[9] Tước hiệu “người giải cứu” và “Messiah” rõ ràng liên quan đến lời hứa cứu độ được nói đến trong các sách Cựu Ước. Riêng tước hiệu “Đức Chúa” thì cho thấy rõ rằng thân phận, và căn tính của Đức Giêsu còn hơn thế nữa, Ngài là Đức Chúa chứ không chỉ là Đấng Messiah thuộc dòng dõi vua Đavid. Cũng như trong trình thuật về Truyền Tin cho Đức Maria. Luca một mặt muốn nối kết Đức Giêsu với thánh Giuse thuộc dòng dõi vua Đavid nhưng hơn thế nữa, Ngài được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và Mẹ Ngài, Đức Maria là trinh nữ. Ngài sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Trong trình thuật về cuộc viếng thăm người chị họ của Đức Maria, người chị họ Êlisabét còn nhận thức cụ thể hơn về thân phận trời cao của Hài Nhi Giêsu khi bà gọi Đức Maria là “mẹ của Chúa tôi” (Lc 1,43). Hơn nữa, ý nghĩa Đấng Cứu Độ, Đấng Messiah của cộng đoàn Luca sau Phục Sinh không giống như hình ảnh Đấng Giải Thoát và Messiah mà đa phần dân Do Thái đang mong đợi. Ngài là Đấng giải thoát dân Ngài khỏi tội lỗi và sự chết. Vương quyền của Ngài là vương quyền của Nước Trời với biên cương muôn thuở chứ không phải là vương quốc Ítrael mà thôi.

14.  “bình an dưới thế cho những người lòng ngay” (εἰρήνη ἐν ἀνθρώποις εὐδοκίας): “vinh quang trên nơi cao nhất dành cho Thiên Chúa, dưới đất bình an trong những con người có lòng dạ tốt lành, ngay thẳng”. Hai hình ảnh và hai nơi chốn song song với nhau nhưng không lẫn lộn với nhau: “vinh quang” “trên cõi trời cao thẳm” “cho Chúa” // “bình an” “trên trái đất” “trong những người thiện tâm”. Vinh quang là đặc tính của Thiên Chúa và vinh quang ấy giờ đây được đặt sóng đôi với bình an thế trần. Như thể muốn nói rằng: vinh quang của Thiên Chúa gắn liền với bình an thế trần. Chúa vinh quang là để cho thế trần được bình an. Hay bình an thế trần là biểu tỏ vinh quang Thiên Chúa. Cụm từ “ἐν ἀνθρώποις εὐδοκίας” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau: (1) Trong số những người mà Thiên Chúa hài lòng hay yêu chuộng [động từ eudokeo có gốc là danh từ eudokia, được dùng trong lời của “tiếng từ trời”: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Lc 3,17)]; (2) Cho những người có lòng ngay, hay ý chí tốt lành; (3) Ý chí tốt lành giữa muôn người. Nó cũng có thể bao hàm tất cả những nghĩa này. Những người này là ai? Trong bối cảnh này những người đầu tiên được hưởng sự bình an này phải kể đến là thánh Giuse, Đức Mẹ Maria, các mục đồng, và có thể là những người được đón nhận tin vui từ các mục đồng. Đấng Messiah sẽ dẫn dân Ngài “tiến bước vào đường nẻo bình an” theo như lời ngôn sứ của ông Dacaria (Lc 1,79). Rồi cả cuộc đời rao giảng của Đức Giêsu, thông điệp, lời chào, lời chúc của Ngài đầy dẫy sự bình an. Ngài dạy các môn đệ là hãy chào chúc bình an khi đến với bất cứ nhà nào (Mt 10,12-13: Lc 10,5). Ngài chào chúc các bệnh nhân đi bình an sau khi đã chữa lành cho họ (Mc 5,34; Lc 7,50; 8,48). Ngài dạy các môn đệ là hãy sống bình an với nhau (Mc 9,50). Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, giây phút chia lìa, điều Ngài để lại cho họ lại là sự bình an: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14,27). Sau phục sinh lời chào chúc luôn của Ngài đến với các môn đệ là: “Bình an cho anh em” (Lc 24,36; Ga 20,21.26). Sự bình an quả thực là niềm mong mỏi, sự ao ước, là món qua mà Thiên Chúa muốn ban cho nhân loại ngay từ thời khắc Con Chúa Giáng Trần cho đến lúc Ngài trở về trời cao. Thế nhưng, nhiều người hình như vẫn chưa có được sự bình an ấy như Mẹ Maria, thánh Giuse hay như các mục đồng vì họ chưa thực sự đón nhận Chúa với lòng ngay, ý chí tốt lành. J. Nolland giải thích sự bình an rộng hơn. Ông cho rằng bình an ở đây không đơn giản chỉ là bình lặng nội tâm hay vắng bóng chiến tranh nhưng còn gợi lên toàn bộ trật tự xã hội của nhân loại và sự phồn vinh, sự an ninh và sự hài hòa.[10] Ý tưởng của J. Nolland cũng rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, thiết tưởng bình an mà Luca muốn diễn tả trong bối cảnh này có lẽ là sự bình an của những con người bình thường, bình dị, đầy lòng yêu mến Chúa, thiện tâm, thiện chí. Họ được bình an khi gặp gỡ Chúa và sống theo kế hoạch của Chúa dẫu cuộc đời còn nhiều éo le, bất trắc.

15.  “Họ loan báo” (ἐγνώρισαν): Họ lắng nghe Tin Vui được sứ thần loan báo, vội vã đến viếng thăm và kiểm chứng, rồi loan báo cho người khác. Đó là bản chất và sức mạnh của một Tin Vui đích thực, một tin vui có sức manh công phá cõi lòng người nghe, khiến họ phải nói ra, loan tin chứ không chỉ giữ cho riêng mình. J. Fitzmyer cho rằng nhưng những người chăn chiên này thuật lại cho Đức Maria và thánh Giuse nghe toàn bộ cuộc gặp gỡ với sứ thần Thiên Chúa, và rồi còn kể cho dân thành Bếtlehem nữa.[11] Cứ như thế tin vui được nhân rộng và đã đến cùng cõi đất ngày hôm nay.

16.  “tất cả những người nghe đều kinh ngạc” (πάντες οἱ ἀκούσαντες ἐθαύμασαν): sự ngạc nhiên của thính giả ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, họ đương nhiên là ngạc nhiên vì câu chuyện các thiên sứ hiện ra với các mục đồng. Rồi ngạc nhiên vì tất cả những gì thiên sứ nói với các mục đồng đều đúng y sự thật. Kế đến, họ có thể rất đỗi ngạc nhiên vì Đấng Messiah, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ mà họ mong chờ bấy lâu nay lại xuất hiện trong bộ dạng một Hài Nhi yếu ớt. Và ngạc nhiên hơn nữa vì bối cảnh Người sinh ra thật không thể tưởng tượng được. Người ta biết Ngài sinh ra tại Bếtlehem theo như lời ngôn sứ Malakhi, nhưng ai ngờ Người lại sinh ra trong chuồng bò lừa như thế.

17.  “giữ gìn và ngẫm suy tất cả các sự việc” (πάντα συνετήρει τὰ ῥήματα ταῦτα συμβάλλουσα): Động từ “συνετήρει” dịch đơn giản có nghĩa là gìn giữ. Bản dịch Việt Ngữ là “hằng ghi nhớ” (CGKPV). Một số tác giả Anh Ngữ hiểu là “gìn giữ như kho tàng” (treasured up ESV, RSV), bản dịch Ý Ngữ hiểu là “bảo vệ” (custodiva, CEI). Động từ “hằng ghi nhớ”, được chia ở thì vị hoàn, diễn ta một hành động liên tục, kéo dài, chưa chấm dứt. Động từ này kết hợp với động từ “συμβάλλουσα” (suy đi nghĩ lại, gẫm suy, suy xét) cùng với cụm trạng ngữ chỉ nơi chốn “trong lòng của cô ấy” (ἐν τῇ καρδίᾳ αὐτῆς) diễn tả một hành động có sự trân trọng cao nhất đối với những “sự việc này”. Đức Maria “gìn giữ như kho tàng” rồi còn “suy đi nghĩ lại” về điều ấy “trong tim” mình. Điều mà Đức Maria “gìn giữ như kho tàng” trong tiếng Hy Lạp là “τὰ ῥήματα”. Danh từ này có hai nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất là “lời nói” (saying). Nghĩa thứ hai là “những sự việc”. τὰ ῥήματα (số nhiều) được tác giả Luca sử dụng 5 lần, trong đó có một lần Luca sử dụng theo nghĩa là những lời nói (Lc 7,1). Bốn lần còn lại danh từ này đều được sử dụng theo nghĩa là “những sự việc”. Tất cả những sự việc mà Luca muốn nói đến đều nhiệm mầu và liên quan đến công trình cứu độ. Thứ nhất là “những sự việc” liên quan đến việc thụ thai, sinh hạ và đặt tên cho Gioan Tẩy Giả. “Những sự việc này được thảo luận trong toàn cõi Giu-đê” (Lc 1,65). Hai chuỗi sự việc tiếp theo đều được Đức Maria “gìn giữ như bảo tàng” trong lòng mình. Đó là “những sự việc liên quan đến việc hạ sinh Đức Giêsu cùng với sự viếng thăm của nhóm mục đồng và câu chuyện kể của họ” (Lc 2,19). Tiếp theo đó là “những sự việc” Đức Giêsu ở lại trong đền thờ, ngồi giữa các bậc thầy, vừa nghe vừa đặt câu hỏi” (Lc 2,51). Và cuối cùng là “những sự việc” mà những người phụ nữ kể với nhóm Mười Một về Đức Giêsu Phục Sinh, nhưng họ không tin các bà (Lc 24,11). Phản ứng của Đức Maria, với một thái độ trân trọng và để tâm suy ngắm tất cả những mầu nhiệm của cuộc đời Đức Giêsu có thể được xem như là đỉnh cao của trình thuật Giáng Sinh này. Nó cũng biểu lộ đặc tính nổi bật của Đức Maria trong tương quan với Chúa và công trình cứu độ của Người. Đức Maria phải nói là “đương kim vô địch” là “kỷ lục gia” trong việc trân quý và gẫm suy về mầu nhiệm cứu độ.

18.  “trở về, vừa đi vừa tôn vinh và tán dương Thiên Chúa” (ὑπέστρεψαν οἱ ποιμένες δοξάζοντες καὶ αἰνοῦντες τὸν θεὸν): đó là biểu hiện của những người gặp gỡ Chúa đích thực. Sự gặp gỡ Chúa, cảm nghiệm được Chúa hiện diện trong cuộc đời họ. Động từ “đoxazo” mà nhóm mục tử sử dụng có nguồn gốc từ danh từ “đoxa” được sử dụng ít nhất hai lần trước đó. “Vinh quang (đoxa) Chúa chiếu tỏa trên những người chăn chiên này” (Lc 2, 9). Rồi đoàn cơ binh thiên thần ca tụng: “Vinh danh (đoxa) Chúa trên các tầng trời” (Lc 2, 14). Kết thúc trình thuật này các mục tử trở về vừa đi vừa tôn vinh (đoxazo) và ca ngợi Chúa. Như vậy, có thể thấy một tiến trình cảm nghiệm vinh quang Chúa của các mục đồng. Họ thấy ánh quang chiếu tỏa, rồi họ nghe các thiên sứ ca ngợi vinh quang Chúa. Rồi họ nhìn thấy vinh quang Chúa nơi chính Thánh Gia, mà Hài Nhi Giêsu là trung tâm. Bước cuối cùng, chính họ cất lời ca tụng vinh quang Chúa. Theo J. Fitzmyer, phản ứng của những mục đồng là âm vang của bài ca của cơ binh thiên thần trước đó (Lc 2,13-14).[12]

Bình Luận Tổng Quát

Trình thuật về Giáng Sinh của Đức Giêsu có thể được chia làm năm phần chính: (1) Bối cảnh lịch sử (Lc 1,1-5); (2) Cảnh Giáng Sinh với nhóm nhân vật là ba Đấng trong thánh gia (Lc 2,6-7); (3) Cảnh Truyền tin Mừng cho các mục tử (Lc 2,8-15); (4) Cảnh hai nhóm gặp nhau: Nhóm mục tử và các thành viên thánh gia, tại máng cỏ, chuồng súc vật (Lc 2,16-19); (5) Cuối cùng, cảnh tương lai vui tươi ca tụng Thiên Chúa bằng đời sống của các mục tử, còn Đức Maria tiếp tục suy đi nghĩ lại trong lòng mầu nhiệm Giáng Sinh (2,20). Đức Giêsu được Thánh Kinh nói trước là một Đấng Messiah, thuộc dòng dõi vua Đavid. Ngài nhất thiết phải được sinh ra trên quê hương của vua Đavid. Đó là Bếtlehem (tiếng Do Thái là Bếthlehem, nghĩa là nhà của lương thực). Tuy nhiên, nhà của Đức Maria, theo tường thuật Truyền Tin, là ở Nadarét, và thánh Giuse cũng định cư tại Nadarét, dù rằng ông có nguyên quán là Bếtlehem. Ông có nguyên quán ở Bếtlehem vì ông là con cháu hoàng gia Đavid. Cuộc kiểm kê dân số đầu tiên đã đưa thánh Giuse và Đức Maria về Bếtlehem trong lúc Đức Maria đã sắp đến thời sinh nở. Lẽ ra, sẽ tốt hơn nếu cô được ở trong bệnh viện lúc ấy. Sự việc tưởng chừng như ngẫu nhiên, nhưng lại rất hữu ý trong ý định của Thiên Chúa. Nếu như không có cuộc kiểm tra dân số đúng thời điểm Đức Maria gần đến ngày mãn nguyệt khai hoa, và nếu như thánh Giuse không có nguyên quán ở Bếtlehem và không phải về Bếtlehem để đăng ký, thì Đức Giêsu không thể sinh ra tại Bếtlehem. Đức Giêsu không sinh ra tại Bếtlehem thì không thể thuộc dòng dõi vua Đavid và cũng không ứng nghiệm lời ngôn sứ Mikhah: “nhưng ngươi, Bếtlehem, Épratha, mặc dù ngươi nhỏ nhất trong các chi tộc của Giuđa, từ nơi ngươi, sẽ xuất hiện cho ta một người, người sẽ chăn dắt trên Ítrael” (Mk 5,1). Bối cảnh về Giáng Sinh của Đức Giêsu được Luca bố cục một cách chặt chẽ. Đức Giêsu được sinh ra tại Bếtlehem, quê hương của tổ tiên Người là Đavid. Thế nhưng, Người không được sinh ra trong cung điện, cũng không phải ở trong một ngôi nhà đàng hoàng. Ngài được sinh ra trên đồng vắng, trong một cái chuồng bò lừa và được đặt nằm trong máng cỏ chứ không phải chiếc giường nệm ấm chăn êm. Tuy được sinh ra bởi cha mẹ nhân loại trong một bối cảnh lịch sử nhân loại và giữa cánh đồng Bếtlehem cũng rất nhân loại, rất đỗi tầm thường, nhưng Hài Nhi ấy, thuộc trời cao như đã được nói trước với Đức Maria trong trình thuật Truyền Tin. Giờ đây, một lần nữa trong một trình thuật Truyền Tin khác, bởi một thiên sứ khác, với một nhóm người khác, nhóm người chăn chiên đang qua đêm trên đồng. Thiên sứ của Thiên Chúa, trong bối cảnh vinh quang Thiên Chúa chiếu tỏa bao trùm, đã báo tin cho các mục đồng rằng: “Hôm nay Đấng Cứu Độ, Đấng Messiah và là Đức Chúa đã sinh ra cho các ngươi trong thành của Đavid” (Lc 2,11). Ngài chính là “đứa trẻ được bọc tả và được đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12). Sứ giả của Thiên Chúa, vinh quang của Chúa bao trùm, Hài Nhi được sinh ra là Đấng Cứu Độ, Đấng Messiah và Đức Chúa. Rồi, đoàn cơ binh thiên thần ca hát, tán dương “vinh danh Chúa trên các tầng trời”. Tất cả những chi tiết ấy nhằm tô đậm nét bức tranh hùng vĩ của cánh đồng Bếtlehem nhằm mặc khải rằng Hài Nhi Giêsu có nguồn gốc từ trời cao, dẫu cho Ngài vẫn đang được đặt nơi một máng cỏ trong hang bò lừa. Trước lời truyền tin ấy chính các mục đồng cũng hân hoan hối hả đi Bếtlehem để kiểm chứng, và tìm hiểu. Họ đã tìm thấy Đức Maria, thánh Giuse và Hài Nhi Giêsu nằm trong máng cỏ y như lời sứ thần nói. Họ đã tường thuật tất cả những gì đã xảy ra, và những lời sứ thần nói với họ. Họ còn kể lại cho tất cả dân cư thành Bếtlehem nữa. Và tất cả những ai nghe lời họ tường thuật đều hết sức kinh ngạc. Chính các mục tử thì trở về với niềm hân hoan khôn tả, họ vừa đi vừa ca tụng và ngợi khen vinh quang Chúa. Riêng Đức Maria thì “gìn giữ những sự việc ấy như kho tàng” và “suy đi nghĩ lại trong lòng”. Đây là đặc tính riêng, chỉ có Đức Maria mới có được. Đến khi Đức Giêsu bị lạc, ngồi trong đền thờ Giêrusalem, vừa nghe vừa đặt câu hỏi, rồi giải thích với cha mẹ Người rằng: Người có việc ở nhà Cha Người, Đức Maria lại “gìn giữ những sự ấy như kho tàng” trong lòng mình (Lc 2,51). Chiêm ngắm hang đá máng có mầu nhiệm Giáng Sinh, các tín hữu được mời gọi gợi nhớ lại ký ức của lần gặp gỡ Chúa đầu tiên khi Ngài Giáng Sinh làm người. Ngài làm người như bao đứa trẻ khác. Nhưng Ngài cũng khác biệt bao đứa trẻ khác ở chỗ Ngài là Con Thiên Chúa. Ngài hạ mình đến, không ngại đi vào hang hùm, chốn nguy hiểm để mang bình an cho nhân loại. Bình an Ngài ban tặng là bình an vĩnh cửu, vững chắc, dù có những sóng gió của cuộc đời. Ai gặp gỡ Ngài sẽ có được niềm vui, một niềm vui đến nỗi không cưỡng lại được việc cất lên lời Ngợi khen Thiên Chúa. Một niềm vui thúc bách sự chia sẻ loan tin cho người khác, chứ không giữ riêng cho mình, để cả nhân loại cùng chung niềm vui gặp gỡ Con Thiên Chúa làm người. Trời đất giao hòa, nhà nhà người người cùng chung niềm vui với nhau. Đó là niềm vui trọn vẹn tròn đầy của Đêm Giáng Sinh, Đêm Hồng Phúc.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD



[1] L.T. Johnson, The Gospel of Luke (SP 3; Collegeville 2005) 49.

[2] R.E. Brown, The Birth of the Messiah. A Commentary on the Infancy Narratives in the Gospels of Matthew and Luke (AB; New York – London – Toronto – Sydney – Aukland 1993) 413.

[3] R.E. Brown, The Birth of the Messiah, 415.

[4] L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 50.

[5] R.E. Brown, The Birth of the Messiah, 398.

[6] R.E. Brown, The Birth of the Messiah, 402.

[7] J. Nolland, Luke 1:1-9:20 (WBC 35A; Dallas 2002) 107.

[8] J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids 1997) 132.

[9] J.B. Green, The Gospel of Luke, 134.

[10] J. Nolland, Luke 1:1-9:20 (WBC 35A; Dallas 2002) 108.

[11] J.A. Fitzmyer, The Gospel According to Luke I-IX, 412.

[12] J.A. Fitzmyer, The Gospel According to Luke I-IX, 413.

QUYỀN TRỞ NÊN CON THIÊN CHÚA. Chú giải Tin Mừng Lễ Giáng Sinh (Ga 1,1-18)

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

Ἐν ἀρχῇ ἦν ὁ λόγος, καὶ ὁ λόγος ἦν πρὸς τὸν θεόν, καὶ θεὸς ἦν ὁ λόγος.

 2  οὗτος ἦν ἐν ἀρχῇ πρὸς τὸν θεόν.

 3  πάντα δι᾽ αὐτοῦ ἐγένετο, καὶ χωρὶς αὐτοῦ ἐγένετο οὐδὲ ἕν. ὃ γέγονεν

 4  ἐν αὐτῷ ζωὴ ἦν, καὶ ἡ ζωὴ ἦν τὸ φῶς τῶν ἀνθρώπων·

 5  καὶ τὸ φῶς ἐν τῇ σκοτίᾳ φαίνει, καὶ ἡ σκοτία αὐτὸ οὐ κατέλαβεν.

 6  Ἐγένετο ἄνθρωπος, ἀπεσταλμένος παρὰ θεοῦ, ὄνομα αὐτῷ Ἰωάννης·

 7  οὗτος ἦλθεν εἰς μαρτυρίαν ἵνα μαρτυρήσῃ περὶ τοῦ φωτός, ἵνα πάντες πιστεύσωσιν δι᾽ αὐτοῦ.

 8  οὐκ ἦν ἐκεῖνος τὸ φῶς, ἀλλ᾽ ἵνα μαρτυρήσῃ περὶ τοῦ φωτός.

 9  Ἦν τὸ φῶς τὸ ἀληθινόν, ὃ φωτίζει πάντα ἄνθρωπον, ἐρχόμενον εἰς τὸν κόσμον.

 10  ἐν τῷ κόσμῳ ἦν, καὶ ὁ κόσμος δι᾽ αὐτοῦ ἐγένετο, καὶ ὁ κόσμος αὐτὸν οὐκ ἔγνω.

 11  εἰς τὰ ἴδια ἦλθεν, καὶ οἱ ἴδιοι αὐτὸν οὐ παρέλαβον.

 12  ὅσοι δὲ ἔλαβον αὐτόν, ἔδωκεν αὐτοῖς ἐξουσίαν τέκνα θεοῦ γενέσθαι, τοῖς πιστεύουσιν εἰς τὸ ὄνομα αὐτοῦ,

 13 οἳ οὐκ ἐξ αἱμάτων οὐδὲ ἐκ θελήματος σαρκὸς οὐδὲ ἐκ θελήματος ἀνδρὸς ἀλλ᾽ ἐκ θεοῦ ἐγεννήθησαν.

 14 Καὶ ὁ λόγος σὰρξ ἐγένετο καὶ ἐσκήνωσεν ἐν ἡμῖν, καὶ ἐθεασάμεθα τὴν δόξαν αὐτοῦ, δόξαν ὡς μονογενοῦς παρὰ πατρός, πλήρης χάριτος καὶ ἀληθείας.

 15  Ἰωάννης μαρτυρεῖ περὶ αὐτοῦ καὶ κέκραγεν λέγων· οὗτος ἦν ὃν εἶπον· ὁ ὀπίσω μου ἐρχόμενος ἔμπροσθέν μου γέγονεν, ὅτι πρῶτός μου ἦν.

 16  ὅτι ἐκ τοῦ πληρώματος αὐτοῦ ἡμεῖς πάντες ἐλάβομεν καὶ χάριν ἀντὶ χάριτος·

 17  ὅτι ὁ νόμος διὰ Μωϋσέως ἐδόθη, ἡ χάρις καὶ ἡ ἀλήθεια διὰ Ἰησοῦ Χριστοῦ ἐγένετο.

 18  Θεὸν οὐδεὶς ἑώρακεν πώποτε· μονογενὴς θεὸς ὁ ὢν εἰς τὸν κόλπον τοῦ πατρὸς ἐκεῖνος ἐξηγήσατο.

 (Jn 1:1-18 BGT)

1 Vào lúc khởi đầu, Ngôi Lời đã hiện hữu và Ngôi Lời hằng hiện hữu với[1] Thiên Chúa và Ngôi LờiThiên Chúa

2 Người đã luôn hiện hữu với Thiên Chúa ngay từ lúc khởi đầu

3 Tất cả nhờ Người mà đi vào hiện hữu và không có Người không một điều gì đi vào hiện hữu, cái mà được mang vào hiện hữu.

4 Trong Người sự sốngsự sống là ánh sáng của con người

5 Ánh sáng chiếu soi vào trong bóng tối, nhưng bóng tối không vượt được ánh sáng

6 Có một người xuất hiện, người được Chúa sai đến, tên ông ta là Gioan.

7 Ông đến vì lời chứng để ông làm chứng về ánh sáng để mà tất cả tin nhờ ông.

8 Ông không phải là ánh sáng, nhưng là để làm chứng về ánh sáng.

9 Người là ánh sáng thật, ánh sáng chiếu soi tất cả mọi người, ánh sáng đi vào thế giới.

10 Người ở trong thế giới, và thế giới nhờ Người mà đi vào hiện hữu, nhưng thế giới không nhận biết Người.

11 Người đã đến nhà của chính mình nhưng người nhà lại không tiếp đón.

12 Nhưng bất cứ ai đón nhận Người, Người sẽ ban cho họ quyền trở thành con Thiên Chúa, cho những kẻ tin vào danh của Người.

13 Những người ấy đã được sinh ra không phải từ máu huyết, cũng không phải từ ý muốn của người đàn ông nhưng từ Thiên Chúa.

14 Ngôi Lời đã trở nên xác phàm cắm lều giữa chúng ta, chúng ta đã được thấy vinh quang của Người, vinh quang như là từ Cha, đầy tràn ân sủng và sự thật.

15 Ông Gioan làm chứng về Người và kêu lớn tiếng nói rằng: “Đây là Đấng tôi đã nói, đấng đến sau tôi nhưng hiện hữu trước tôi, vì Người có trước tôi.

16 Từ sự sung mãn của Người, chúng ta đã nhận tất cả, ân sủng này đến ân sủng khác.

17 Lề Luật được ban qua ông Mô-sê, ân sủng sự thật xuất hiện bởi Đức Giêsu Kitô.

18 Thiên Chúa không ai thấy bao giờ, Con Một Chúa, Đấng hằng ở nơi cung lòng của Cha, Đấng ấy đã làm cho chúng ta biết.

 

Bối cảnh bản văn:

Ga 1,1-18 là phần đầu tiên được xem như là Lời Tựa của Tin Mừng thứ tư. Đây là kiểu soạn thảo Tin Mừng mà chỉ có Gioan mới có. Nếu như Máccô bắt đầu Tin Mừng của mình với lời giới thiệu ngắn gọn súc tích: “Tin Mừng Đức Giêsu, Kitô, Con Thiên Chúa, thì Gioan giới thiệu ngay vào nguồn gốc chủ thể của Tin Mừng: Từ khởi đầu đã có Ngôi Lời. Rồi, cũng như Máccô, nhân vật Gioan Tẩy Giả không thể thiếu được. Tuy nhiên, trong Tin Mừng thứ tư, Gioan Tẩy Giả được giới thiệu là người làm chứng về ánh sáng và ông nhìn nhận mình không phải là Êlia như Tin Mừng Nhất Lãm ám chỉ. Trong Lời Tựa này, độc giả có thể tìm thấy những chủ đề trọng yếu của Tin Mừng thứ tư. Đó là chủ đề Ngôi Lời là Thiên Chúa (Ga 1,1). Vào cuối Tin Mừng, sau Phục Sinh, thánh Tôma sẽ tuyên xưng Đức Giêsu là “Lạy Chúa của tôi, lạy Thiên Chúa của tôi” (Ga 20,28). Ngôi Lời thực sự là Thiên Chúa. Rồi, chủ đề về “tin” và “đón nhận” (Ga 1,12). “Con Người phải được giương cao, để ai tin có thể có sự sống nơi mình” (Ga 3,14-15); “ai tin nơi Người Con sẽ có sự sống đời đời, ai chối từ Người Con sẽ không thấy sự sống” (Ga 3,18). Đến cuối cùng mục đích của toàn bộ Tin Mừng là “anh em tin Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, để nhờ tin mà có sự sống trong danh của Người” (Ga 20,31). Một chủ đề khác là chủ đề “người nhà chẳng đón nhận Người” (Ga 1,11). Người Do Thái, các thượng tế và những người Pha-ri-sêu sẽ tìm cách loại bỏ Người bằng cách đóng đinh Người (Ga 7,19; 8,37.40; 11,50.53). Chủ đề về ánh sáng và bóng tối cũng là một chủ đề nổi bật không kém (Ga 1,4.5.7.8.9). Đức Giêsu khẳng định rằng “Tôi là ánh sáng thế gian” (9,5; 12,46). Câu chuyện “người mù từ thuở mới sinh” (Ga 9,1-51) chứng tỏ rằng Đức Kitô là ánh sáng và Người đã chiếu soi hoàn toàn bóng tôi nơi anh mù. Có thể nói, Lời Tựa Tin Mừng thứ tư như là một phần giới thiệu những chủ đề chính yếu sẽ được khai triển trong phần nội dung của Tin Mừng.

Cấu trúc: Bản văn có thể có cấu trúc đối xứng (Chiasmus) như sau:

A. Ngôi Lời luôn hiện hữu với Thiên Chúa, Thiên Chúa (1-2)

B. Ngôi Lời trao ban sự hiện hữu, sự sống, ánh sáng (3-5)

C. Gioan làm chứng về ánh sáng – Ngôi Lời để người ta tin (6-9)

D. Ngôi Lời ở trong thế giới, đến nhà của chính mình, bị từ chối (10-11)

            E. Những người đón nhận Người – những kẻ tin – con Thiên Chúa, (12)

E’. Những người đã được sinh ra từ Thiên Chúa (13)

D’. Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cắm lều giữa chúng ta (14)

C’. Gioan làm chứng: Ngôi Lời hiện hữu trước ông (15)

B’. Ngôi Lời ban ân sủng, sự thật (16-17)

A’. Ngôi Lời nơi cung lòng Chúa Cha, Con Một Chúa (18)

 Một số điểm chú giải

1.     Lúc khởi đầu”: Cụm trạng từ chỉ thời gian này không khỏi gợi nhớ đến cụm trạng ngữ trong sách Sáng Thế.[2] Sách Sáng thế nói đến sự khởi đầu của công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa. Gioan nới đến sự khởi đầu của sự tồn tại của Ngôi Lời. Và nhờ Ngôi Lời này mà muôn vật (tất cả) được hiện hữu. Đây cũng là một cách nói khác của công trình tạo dựng. Công trình tạo dựng không chỉ là của Thiên Chúa nhưng còn nhờ vào Ngôi Lời. Chủ đề tạo dựng còn song song với sách Sáng Thế khi Lời tựa đề cập đến ánh sáng và bóng tối. Khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng, Thiên Chúa cũng phán: “hãy có ánh sáng”. Máccô cũng bắt đầu Tin Mừng bằng “sự khởi đầu” nhưng đây không phải là trạng ngữ chỉ thời gian mà là danh từ “sự khởi đầu”. “Sự khởi đầu” của Máccô là sự khởi đầu của Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, chứ không phải một thời điểm. “lúc khởi đầu” của Tin Mừng thứ tư vừa giống, vừa khác, “lúc khởi đầu” của sách Sáng Thế. Có thể nói là “lúc khởi đầu của” Tin Mừng thứ tư được hiểu là trước “lúc khởi đầu” của sách Sáng Thế bởi vì đó là thời điểm mà Ngôi Lời hiện hữu. Ngài vốn có trước mọi sự và vượt mọi thời gian.

2.     Ngôi Lời” (Logos): Trong tiếng Hy Lạp “λόγος” (Logos) là “lời nói”, “thông điệp”. Danh từ có động từ tương ứng là “lego” (nói). Mười Điều Răn trong bản dịch tiếng Hy Lạp (LXX) được gọi là Mười Lời (οἱ δέκα λόγοι, Xh 34,28). Logos có nguồn gốc từ truyền thống Hy Lạp. Triết gia Hy Lạp, Heraclitus (khoảng 535 – 475 BCE) hiểu Logos là “sự không ngoan toàn năng mà nhờ nó tất cả được hướng dẫn”. Theo triết gia trường phái Khắc Kỷ (Stoics, tk. III BCE), Logos là “quy luật chung của tự nhiên, ở khắp mọi nơi trong vũ trụ và duy trì sự thống nhất của nó, là lửa thần linh, linh hồn của vũ trụ”. Triết gia Do Thái, Philo của Alexandria (khoảng 20 BCE – 50 CE) tin rằng Logos là tác nhân của sự sáng tạo, là sự khôn ngoan vĩnh cửu của Chúa. Những người theo Ngô Đạo Thuyết (Gnosic, tk. I CE), cho rằng Logos là Đấng Cứu Chuộc, Đấng đã đi xuống thế giới thấp hơn trong hình dạng con người, lừa gạt quyền lực ma quỷ, và làm cho con người có thể theo Người vào thế giới cao hơn của Chúa.[3] Trong Lời Tựa, tác giả Tin Mừng thứ tư nhân cách hóa bằng cách dùng mạo từ xác định đặt trước danh từ này (ὁ λόγος). Bản Việt Ngữ là “Ngôi Lời” (CGKPV), bản Anh Ngữ là “the Word” (ESV), Pháp Ngữ là “le Verb” (TOB), và Ý Ngữ là “il Verbo” (CEI). Tất cả đều được viết hoa để diễn tả một Ngôi Vị. Đó là Ngôi Hai. Lời đề cập đến năng lực sáng tạo của Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo (x. St 1,3tt; Tv 33,6) và mặc khải (Gr 1,4; Is 9,8; Ed 33,7; Am 3,1.8) và giải thoát (Tv 107,20; Is 55,11). Lời trong Cựu Ước là sự tự biểu lộ quyền năng của Thiên Chúa trong việc tạo dựng, mặc khải và cứu độ. Chính vì thế tác giả Gioan dùng nó như một danh hiệu áp dụng cho sự tỏ bày mức độ cao nhất của Thiên Chúa, Ngôi vị của chính Con của Ngài.[4] Những Kitô hữu thời tiền Gioan dùng cụm từ “Lời của Chúa” để truyền tải thông điệp cứu độ của Kitô giáo (X. Lc 8,11; Cv 13,44; 1Tx 2,13; 2 Tm 2,9). Khi Gioan dùng “Lời”, có lẽ ông cũng ngụ ý rằng đây là Đấng Trung Gian mà Thiên Chúa sẽ “nói” với nhân loại giống như cách thư Hípri đã diễn tả: “Thuở xưa, vào nhiều lúc khác nhau, bằng nhiều cách thức, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào những ngày cuối cùng này, Ngài nói với chúng ta qua Người Con, Đấng mà Ngài đã chỉ định làm Người thừa kế mọi sự, và Đấng mà nhờ đó thế giới được tạo thành” (Hr 1,1-2). Thư Hípri cũng đền cập đến công trình tạo dựng nhờ Đấng Trung Gian mặc khải này. C. Karakolis tin rằng độc giả của Tin Mừng Gioan biết rằng bất cứ khi nào Đức Giêsu, Lời Nhập thể nói, những lời của Người có thẩm quyền và chân thật như là lời của chính Chúa. Ngôi Lời của Chúa nói những lời của Chúa (The Word of God speaks the words of God).[5]

3.     Ngôi Lời là Thiên Chúa”: Ngôi Lời không những là năng lực tạo dựng của Thiên Chúa, nhưng Người cũng là Thiên Chúa. Tác giả Gioan là tác giả Tin Mừng duy nhất, ngay từ đầu đã nói rõ rằng: Đức Giêsu là Thiên Chúa. Khẳng định này sẽ được thánh Tô-ma tuyên xưng trong đoạn cuối của Tin Mừng thứ tư, sau khi Đức Giêsu Phục Sinh (Ga 20,28).[6] Người không những “ở, tồn tại với Thiên Chúa” (Ga 1,1b), nhưng chính Người cũng là Thiên Chúa (Ga 1,1c). Chỉ trong vòng hai câu đầu Gioan đã cố gắng diễn tả căn tính và thần tính của Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, bằng nhiều cụm từ lặp lại. Cụm trạng ngữ chỉ thời gian (lúc khởi đầu) được lặp lại hai lần như một nhấn mạnh về thời gian. Danh xưng “Ngôi Lời” được lặp lại ba lần như nhấn mạnh chủ thể của Lời Ngỏ cũng như của toàn Tin Mừng. Song song với “Ngôi Lời”, danh xưng “Thiên Chúa” cũng được lặp lại ba lần để khẳng định tương quan thần tính giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa. Kiểu cấu trúc inclusio (bao hàm) (A-B-A’) cũng được sử dụng nhằm giúp sự khẳng định thêm chắc nịch: Từ khởi đầu… đã hiện hữu…và hiện hữu với Thiên Chúa… là Thiên Chúa… hiện hữu với Thiên Chúa từ lúc khởi đầu. Gioan cũng sử dụng rất nhiều động từ “eimi”, ở thì vị hoàn (ἦν), diễn tả kéo dài của hành động. Động từ này cũng có nhiều tầng ý nghĩa phong phú khác nhau: tồn tại, hiện hữu, có, ở, là, thì, xảy ra. Từ điển Friberg, Analytical Greek Lexicon liệt kê ít nhất 10 nghĩa khác nhau của động từ này. Có thể nói đây là động từ lý tưởng nhất để diễn tả Ngôi Lời. Tuy vậy, cũng phải thừa nhận rằng nó cũng không thể diễn tả một cách hoàn toàn về Ngôi Lời, vì ngôn ngữ nhân loại vốn hạn chế. Lời Tựa được khởi đầu bằng mặc khải căn tính Thiên Chúa của Ngôi Lời và sự hiện hữu của Người là từ thuở đời đời. Gioan đóng khung Lời Tựa bằng việc mô tả Ngôi Lời như là Người Con, ở trong cung lòng Chúa Cha, có sứ vụ tỏ lộ Chúa Cha cho nhân loại. Đó cũng là sứ vụ được hiện thực hóa trong cách nói Người ở trong thế giới, Người đã đến nhà mình, hay ánh sáng chiếu soi vào bóng tối. Ngôi Lời là Thiên Chúa, ngôi Con, đã nhập thể nhằm mặc khải về Chúa Cha và ơn cứu độ của Người cho thế giới.

4.     Tất cả nhờ Người mà đi vào hiện hữu”. Động từ “ginomai” (ἐγένετο) trong tiếng Hy Lạp cũng mang rất nhiều nghĩa. Trong bối cảnh này có thể hiểu là “đi vào hiện hữu” hoặc là “được tạo thành” (được làm nên). J. Moloney hiểu đại từ “tất cả” như là “mọi loài thụ tạo” và “ginomai” là hành động tạo dựng.[7] R. Brown dịch là “tất cả mọi vật đã đi vào hiện hữu”[8], cũng có nghĩa tương đương. Trong câu 3 này, động từ “ginomai” được lặp lại đến 3 lần: “tất cả, nhờ Người, được tạo thành; không có Người không có bất cứ thứ gì, thứ mà được tạo thành, được tạo thành”. Sự đối nghịch giữa hai cặp từ “tất cả” và “không có bất cứ thứ gì” cho thấy mức độ ảnh hưởng một cách tuyệt đối của Ngôi Lời trong sự hiện diện của muôn vật trên thế gian này. Trong tường thuật về tạo dựng (St 1,1-2,3b), Thiên Chúa không tạo ra thứ gì mà không dùng lời của mình. Đó có thể là hình ảnh của Ngôi Lời trong cộng cuộc tạo dựng mà Gioan muốn nói đến.

5.     Trong Người là sự sống”: Sự ngắt câu giữa câu 3 và câu 4 là một vấn đề tranh cãi giữa các học giả qua nhiều thế hệ. Bản Thánh Kinh Tân Ước cổ được chép tay, bằng chữ in hoa và không có khoảng trắng giữa các từ. Có thể vì ngày xưa giấy rất hiếm và người ta muốn tiết kiệm hết sức có thể. Câu 4 khởi đầu bằng trạng ngữ chỉ nơi chốn “trong Người đã là sự sống” xem ra không suôn sẻ. Trong khi đó phần kết thúc của câu 3 có vẻ dư thừa: “tất cả, nhờ Người, được tạo thành, và không có Người không có gì được tạo thành, điều mà được tạo thành”. Chính vì thế nhiều tác giả đề xuất cách ngắt câu tốt hơn bằng cách đưa phần dư thừa của câu 3 ghép vô phần đầu của câu 4. Câu 4 mới sẽ là: “điều đã được tạo thành nơi Người là sự sống”. Cách ngắt câu này được sự đồng thuận của nhiều học giả.[9] Và theo cách cách ngắt câu này, sự sống lại được nhấn mạnh trong công trình tạo dựng này. Điều này xem ra cũng rất phù hợp với nội dung triển khai của Tin Mừng thứ tư. Đức Giêsu nhiều lần nói về sự sống trong Tin Mừng này. Danh từ “sự sống” được dùng một cách trội vượt trong Tin Mừng thứ tư (41 lần) so với các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm (Mt: 18; Mc: 8 và Lc: 19). Rất nhiều kiểu diễn tả sự sống liên quan trực tiếp đến Đấng ban sự sống. Việc sống hay chết gắn liền với đức tin vào Đức Giêsu (Ga 3,15.36; 6,47); “Ai uống nước Tôi cho sẽ có trong người ấy một dòng suốt vọt lên sự sống dồi dào” (Ga 4,14); “Người Con trao ban sự sống cho ai mà Người hài lòng” (Ga 5,21); Đức Giêsu chính là bánh của sự sống (Ga 6,35.48) … Đức Giêsu đã phục hồi sự sống cho Ladarô, người đã được chôn 4 ngày (Ga 11,25; 43-44). Tuy thế, cách ngắt câu này cũng tồn tại ít nhất 5 vấn đề như R. Brown đề trưng ra.[10] Đâu là ý nghĩa của sự sống trong ngữ cảnh này? Sự sống tự nhiên hay là sự sống vĩnh cửu?  Vì “sự sống” là một trong những chủ đề trọng yếu của Tin Mừng Gioan, nên rất có thể “sự sống” này là vĩnh cửu. Đối với Gioan “sự sống” diễn tả một phẩm chất của sự hiện hữu, nghĩa là, loại sự sống mà một người có khi Thiên Chúa hướng dẫn trong cuộc sống của anh ta.[11]

6.     Sự sống là ánh sáng của nhân loại”: Trong Cựu Ước, khái niệm ánh sáng là một điều gì đó gây thích thú và dễ chịu, đối nghịch lại với bóng tối. Thế giới của sự sống là thế giới của ánh sáng trong khi thế giới của sự chết là nơi chốn của bóng tối. Trong Tân Ước, ánh sáng trở thành tương đương với quyền lực của sự tốt lành, đấu tranh với bóng tối là quyền lực sự dữ.[12] “sự sống ở đây ám chỉ một chất lượng của cuộc sống, không chỉ là tồn tại, một cuộc sống đích thực thắp sáng cho con người.[13] Những người theo triết học Pythagore phát triển một bản liệt kê mười cặp đối lập bao gồm nam/nữ, trái/phải, kỳ quái/bình thường và ánh sáng/bóng tối. Ánh sáng nối kết với sự sống và bóng tối nối kết với sự chết. Trong “phép loại suy hang động” của Platon ánh sáng đại diện cho cả sự thiện hảo và những phương tiện nhờ đó người ta đạt đến sự thiện hảo. Như thế, ánh sáng và sự nhìn thấy trở thành những ẩn dụ cho việc nắm bắt những gì là tối thượng hoặc sự thật. Theo M.M. Thompson, “ánh sáng của nhân loại” (Ga 1,4) có nghĩa là ánh sáng cho lợi ích của nhân loại, là ánh sáng cho họ.[14] Đức Giêsu là ánh sáng soi chiếu cho nhân loại không chỉ để cho họ thấy vạn vật, nhưng còn thấy Thiên Chúa, thấy tình yêu Chúa dành cho họ. Ngài cho họ biết nhìn mọi việc, mọi người bằng ánh mắt của Thiên Chúa. Đó là ánh mắt tình yêu và tha thứ. Ánh sáng của Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng giúp người ta nhìn thấy một cách chân thật lòng mình, thấy lỗi lầm, thấy sự thật, thấy Chúa, thấy tình yêu Chúa, để rồi giúp nhân loại đi ra khỏi bóng tối của sự chết mà vươn đến sự sống.

7.     Người đã ở trong thế giới… Thế giới không nhận biết Người… Người đã đến nhà mình... người nhà chẳng đón nhận Người”: Các câu 10 và 11 diễn tả một nghịch lý trớ trêu và bi thảm của nhân loại. Thế giới được tạo nên nhờ Ngôi Lời, và Ngôi Lời đã ở trong thế giới, nhưng thế giới lại chẳng biết Người (Ga 1,10). Mạnh mẽ hơn, có thể là cực điểm của sự nghịch lý, “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng đón nhận” (Ga 1,11). Đức Giêsu đến thế gian như là chủ nhân, nhưng nhiều người đã không nhận biết và chối từ Người. “τὰ ἴδια” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “những vật thuộc về ai đó”, trong ngữ cảnh này có thể hiểu là nhà của chính mình, “οἱ ἴδιοι”, cũng được hiểu là “người trong gia đình”. “Nhà” của Đức Giêsu có thể hiểu theo nghĩa hẹp là Bếtlehem, nơi Người được sinh ra nhưng không ai đón nhận, cũng có thể là Na-gia-rét, quê hương của Người, nơi mà những người đồng hương không tin và đón nhận Người (Mt 13,57; Mc 6,4). “Nhà của Người” cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là toàn đất nước It-ra-el. Người nhà của Người có thể hiểu là những người đồng hương, những người đã tìm cách giết Người. “Không đón nhận” theo nghĩa nhẹ là không tin vào Người và Tin Mừng của Người. Theo nghĩa nghiêm trọng hơn là ghét Người (15,18-19). Và cực điểm là tìm cách loại trừ và giết chết Người. Trong Tin Mừng thứ tư, “những người Do Thái”, đã tìm cách giết Đức Giêsu (Ga 5,18). Họ lên kế hoạch cụ thể để lấy mạng Người (Ga 11,53). Và cuối cùng họ đã yêu cầu Philato đóng đinh Người vào thập giá (Ga 19,6). Trong vụ này, có sự tham gia của tổng trấn Rô-ma và rất nhiều người Do Thái.

8.     Những ai đón nhận và tin vào Người”: Tin Mừng thứ tư sẽ cho chúng ta thấy có những người đã đón nhận và tin vào Người. Đó là hình ảnh phụ nữ Samaria và dân làng Samaria. Câu chuyện khát nước và xin nước của Đức Giêsu bên bờ giếng Giacóp (4,1-42) đã kết thúc có hậu và bất ngờ khi không những người phụ nữ Samari tin vào Đức Giêsu mà nhiều người Samari tin vào Người (Ga 4,39-42). Câu chuyện “chữa lành người mù từ lúc mới sinh” cũng kết thúc bằng việc anh mù sau một hành trình dài gian nan đã tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu và bái thờ Người (Ga 9,38). Tin Mừng thứ tư cũng là Tin Mừng duy nhất nói đến một Nicodemo, một bậc thầy Do Thái đã theo Đức Giêsu cách âm thầm (Ga 3,1-21), đã bảo vệ Đức Giêsu cách công khai (Ga 7,50-51) và cuối cùng chính ông đã chôn cất Đức Giêsu (Ga 19,39). Đây có thể được xem là những con người đã tin và đón nhận Đức Giêsu. Trong số họ có cả những người trí thức, hiểu biết lẫn những người thường dân, đau bệnh. Ngoài ra, còn có cả những người bị người Do Thái kỳ thị loại bỏ như là những người Samari. Đó là nghịch lý và niềm an ủi cho Đức Giêsu dẫu là người nhà không đón nhận Người, nhưng có nhiều người khác đón nhận Người. Những người này được sinh ra không do máu hay do ước muốn của xác thịt, hay ước muốn của người đàn ông. Họ được sinh ra do ước muốn của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, đại đa số người ta sinh ra theo “ước muốn xác thịt và ước muốn của người đàn ông”, nhưng khi đã đón nhận Đức Ngôi Lời và tin vào Người, họ mới được tái sinh trong gia đình Thiên Chúa và vì thế họ đươc Thiên Chúa sinh ra.

9.     Quyền làm con Thiên Chúa”: Những người tin và đón nhận Đức Giêsu dầu căn tính và xuất thân họ ra sao đều có quyền trở thành con của Thiên Chúa. Nói cho cùng, ngay từ đầu, Gioan đã khẳng định, tất cả mọi thụ tạo đều nhờ Người mà có và tồn tại, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành. Vậy thì, không phải tất cả đều là con Thiên Chúa đó sao? Tất cả không phải là người nhà của Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể đó sao? Nhưng nghịch lý là không phải tất cả mọi người đều thấy và chấp nhận chân lý này. Chính vì thế mà Ngôi Lời phải nhập thể và nhập thế, để giúp thụ tạo đón nhận lại quyền làm con Thiên Chúa. Dẫu vậy, Gioan muốn nhấn mạnh rằng đây là quyền mà Thiên Chúa ban cho mỗi thụ tạo chứ không phải họ tự thân đạt được. Trở thành con Thiên Chúa kéo theo việc đón nhận bản chất thần thiêng hay đặc tính mà Giêsu chính là hình ảnh hoàn hảo.[15]

10.  Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cắm lều ở giữa chúng ta” (Ga 1,14): Động từ “σκηνόω” có nghĩa là sống, cư ngụ, hay là cắm lều. Động từ này gợi nhớ đến hình ảnh Thiên Chúa di cư, đồng hành cùng dân trong cuộc xuất hành. Ngài không ngần ngại ngự trong lều vải, trong sa mạc với dân Ngài. Chính vì thế mà C. Keener cho rằng động từ này gợi lên một cuộc xuất hành mới được hoàn tất nơi Chúa Kitô hay cũng gợi nhớ đến vinh quang của Chúa ở giữa dân Người.[16] Nếu như trong Cựu Ước, Thiên Chúa hiện diện ở giữa dân cách vô hình, thì giờ đây Người hiện diện cách hữu hình. Người đã trở nên xác phàm như con người vậy. Người hiện diện bằng xương bằng thịt một cách sống động.

11.  Đấng ấy đã làm cho chúng ta biết”: Trong Cựu Ước, thấy Thiên Chúa là đồng nghĩa với chết (Tl 6,23). Ông Mô-sê dù đã có gặp Chúa trong cuộc thần hiện nơi bụi gai bốc cháy, nhưng khi ông đề nghị được nhìn trực tiếp vinh quang Thiên Chúa, Chúa đã chối từ: “Không có người nào có thể thấy ta mà sống (Xh 33,18-20) và Mô-sê chỉ thấy lưng của Chúa mà thôi (Xh 33, 21-23). Có lẽ vì thế mà tác giả Gioan nói rằng “Thiên Chúa, không ai thấy bao giờ” (Ga 1,18). Nhưng giờ đây Ngôi Lời đã làm Người và làm cho nhân loại biết Thiên Chúa thế nào. Đức Giêsu đến có thể ngụ ý một sự mặc khải mang tính cánh chung, mặc khải đỉnh cao và tối thượng của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, đối với Đức Giêsu “làm cho Thiên Chúa được biết” không chỉ ngụ ý biểu lộ dung mạo Thiên Chúa nhưng diễn tả cách đầy đủ về toàn bộ căn tính của Thiên Chúa.[17]

Bình Luận Tổng Quát

Phần đầu Lời Tựa của Tin Mừng thứ tư (Ga 1,1-18) giới thiệu cho độc giả những ý tưởng thần học thiết yếu của Tin Mừng thứ tư. Nơi đây, độc giả tìm thấy khái niệm Lời được áp dụng cho một Ngôi Vị Thiên Chúa. Người là Lời bởi vì qua Người Thiên Chúa nói với nhân loại và qua Người nhân loại hiểu biết về Chúa. Người là ngôi vị bởi vì Người có từ đời đời chứ không phải được tạo nên. Người hiện hữu với Thiên Chúa ngay từ lúc khởi đầu (17,5). Không những thế, tất cả mọi thụ tạo đều nhờ Người mà có và tồn tại. Người chính là ánh sáng (8,12) và sự sống (11,25) của nhân loại. Ánh sáng này đi vào thế giới để giúp mọi người nhìn thấy dung mạo của Thiên Chúa, dung mạo của một Thiên Chúa tạo dựng đầy quyền năng và Thiên Chúa yêu thương vô bờ bến. Nhờ Người, nhân loại cũng nhìn thấy mọi vật, mọi người một cách chân thật nhất. Họ cũng được nhìn thấy chính tâm hồn của mình một cách rõ ràng. Những điểm tối và điểm sáng sẽ được soi chiếu. Việc chọn lựa ánh sáng sẽ đem đến cho người ta sự sáng và sự sống, ngược lại ở trong bóng tối sẽ đưa người ta vào cõi chết đời đời.

Gioan Tẩy Giả được giới thiệu, trong Lời Tựa này, như là người đến để làm chứng về ánh sáng, nghĩa là làm chứng cho Ngôi Lời. Cuộc đời, sứ vụ của ông là giúp người ta nhận ra Đức Giêsu chính là ánh sáng thật. Người đến để ban ánh sáng cho tất cả mọi người. Tuy vậy, chẳng mấy ai đón nhận Người. Trên thực tế, có nhiều người còn chuộng bóng tối hơn ánh sáng, bởi vì những việc họ làm đều xấu xa (Ga 3,19). Sự thể là Đức Giêsu đã ở trong thế gian và thế gian đã nhờ Người mà hiện hữu và tồn tại, nhưng họ lại không nhận biết Người. Nghiệt ngã hơn nữa, Người đã đến nhà mình nhưng anh chị em ruột thịt họ hàng và đồng hương đã không đón nhận Người. Người đã phải sinh ra trong một cánh đồng vắng, trong một chuồng bò lừa ngoài thành Bếtlehem (x. Lc 2,1-20). Người bị vua Hêrôđê đuổi cùng, giết tận lúc còn ẵm ngửa trên tay mẹ. Một vị vua con bị loại ra ngoài lề của xã hội (x. Mt 2,1-23). Người về quê hương giảng dạy thì bị những người đồng hương dè bĩu chê bai và không đón nhận (x. Mc 6,1-6). Rồi, cuối cùng chính những người đồng hương của Người đã gây áp lực đòi buộc Phi-la-tô phải xử tử Người. Người đã chết trong tiếng kêu khát khao (x. Ga 19,28), khát khao một sự đón nhận, một lòng tin nơi những người đồng hương. Ngược lại với giới lãnh đạo và đa số những người đồng hương, nhiều người ngoài lề xã hội Do Thái, cũng như ngoài biên giới Do Thái đã tin nhận Người. Đó là người mù từ lúc mới sinh, kẻ bị xem là người tội lỗi nên gánh chịu hình phạt mù lòa bẩm sinh (x. Ga 9,1-41). Đó là người phụ nữ Samari và dân làng Samari, một sắc dân chẳng chung đụng gì với người Do Thái dầu họ sống ngay bên nách người Do Thái (x. Ga 4,1-42). Phần thưởng cao quý dành cho những người tin vào Đức Giêsu và đón nhận Người là “quyền được làm con Thiên Chúa”. Đành rằng mọi thụ tạo đều do Chúa tao nên hay sinh ra. Nghĩa là tất cả họ đều là con cái Thiên Chúa. Thế nhưng, tội lỗi, tội nguyên tổ và tội riêng, đã làm cho họ rời xa Thiên Chúa đến nỗi quên đi nguồn cội của mình. Chính vì thế, con một của Chúa, phải mặc lấy xác phàm, đến cắm lều giữa nhân loại để giúp họ tìm về lại với Chúa mà hàn gắn lại mối liên hệ cha-con với Ngài. Lề Luật đã được ban cho ông Mô-sê để chỉ dạy dân trong một thời gian nhưng Đức Giêsu mang đến ân sủng và sự thật để giúp cho con người kiện toàn sự hoàn hảo nơi mình. Đức Giêsu đầy tràn ân sủng và sự thật. Với ân sủng mà Chúa ban, người ta sẽ tìm kiếm sự thật vươn đến sự thật tuyệt đối là chính Chúa Giêsu, Đấng là đường là sự thật và là sự sống (Ga 14,6). Sống hay chết, mất hay còn đều tùy thuộc vào việc tin và nhận biết Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch SVD



[1] Bản dịch Việt Ngữ (CGKPV) là: “hướng về Thiên Chúa” hình như không diễn tả được ý nghĩa nguồn gốc của Ngôi Lời. Bản dịch này có thể quá chú trong đến giới từ “pros” (về phía, towards) mà quên đi rằng giới từ “pros” cũng có nghĩa là “với” và động từ “eimi” có nghĩa là “ở”. Bản dịch Ý Ngữ (era presso Dio, CEI) và Pháp Ngữ (était tourné vers Dieu TOB) xem ra cùng một cách hiểu như bản Việt Ngữ. Chỉ có bản Anh Ngữ (was with God, ESV, RSV) xem ra gần với bản Hy Ngữ hơn. Giới từ này thường truyền tải một nghĩa tương tác lẫn nhau. Nghĩa là, Ngôi Lời không chỉ ở nơi sự hiện diện của Chúa, nhưng có một mối tương quan hỗ tương giữa Thiên Chúa và Ngôi Lời [M.B. Newman – E.A. Nida, A Handbook on the Gospel of John (New York 1993) 8].

 

[2] R.E. Brown, The Gospel According to John (I-XII). Introduction, Translation, and Notes (New Haven – London 2008) 4; B.M. Newman – A.E. Nida, A Handbook on the Gospel of John (New York, 1993) 6.

[3] G.R. Beasley-Murray, John (WBC; Dallas 2002) XXXVI, 7.

[4] D.A. Carson, The Gospel According to John (Leicester – Grand Rapids 1991) 116.

[5] C. Karakolis, “The Logos-Concept and Dramatic Irony in Johannine Prologue and Narrative”, The Prologue of the Gospel of John. Its Literary, Theological, and Philosophical Contexts. Papers read at the Colloquium Ioanneum 2013 (WUNT 359; Tubingen 2013) 148.

[6] R.E. Brown, The Gospel According to John, 5.

[7] F.J. Moloney, The Gospel of John (SP 4; Collegeville 2005) 42.

[8] R.E. Brown, The Gospel According to John, 6.

[9] F.J. Moloney, The Gospel of John, 42-43.

[10] R.E. Brown, The Gospel According to John, 7.

[11] M.B. Newman – E.A. Nida, A Handbook on the Gospel of John, 11.

[12] Ibid.

[13] Ibid.

[14] The Prologue of the Gospel of John. Its Literary, Theological, and Philosophical Contexts. Papers read at the Colloquium Ioanneum 2013 (eds. J.Van der Watt – R.A. Culpepper – U. Schnelle) (WUNT 359; Tubingen 2013) XVI.

[15] C.S. Keener, The Gospel of John. A Commentary (Grand Rapids 2003) 403.

[16] C.S. Keener, The Gospel of John, 408-409; Beasley-Murray – R. George, John (WBC 36; Dallas 2002) 14.

[17] C.S. Keener, The Gospel of John, 424.